Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lặp và thừa

Trong giao tiếp tiếng Việt, có nhiều trường hợp kết hợp những từ đồng nghĩa trong một tổ hợp từ cố định hoặc tạm thời, qua đó mang lại nét nghĩa mới, khiến thông tin đưa ra lung linh, trọn vẹn, giàu khơi gợi hơn. Từ láy toàn phần trong tiếng Việt là một ví dụ tiêu biểu (đồng âm đồng nghĩa): bon bon; căm căm; gờm gờm; hoe hoe; trùng trùng điệp điệp; xa xa…

Oái ăm thay, thao tác kết hợp trên, nếu không chuẩn (do không hiểu hoặc do thói quen), tổ hợp từ được tạo ra sẽ trở nên trùng lặp, thừa thãi, vi phạm qui tắc giản lược tối đa trong giao tiếp và nhiều khi rất khó nghe.

Thường gặp nhất trong các cuộc họp là cụm từ nghỉ giải lao. Đây là một sự kết hợp giữa yếu tố thuần Việt (nghỉ) và yếu tố Hán – Việt (giải lao gồm giải: nghỉ + lao: mệt = nghỉ cho đỡ mệt). Vậy là thừa yếu tố nghỉ. Thay vì chỉ dùng nghỉ; nghỉ mệt hoặc giải lao thì nhiều người cứ thích dùng nghỉ giải lao một cách rất hồn nhiên, kể cả những người có học.

Ta cũng thường nghe không ít người dùng từ nghỉ hưu gồm hai yếu tố đồng nghĩa: nghỉ (thuần Việt) + hưu – nghỉ (Hán – Việt), thay vì chỉ dùng về hưu hay hưu trí. Trong trường hợp này, nếu bắt buộc sử dụng từ thuần Việt thì phải dùng các từ về nghỉ hay nghỉ làm công/ viên chức.

Đường lộ (đường quốc lộ; đường tỉnh lộ; đường lộ tẻ…) cũng là một trường hợp tương tự. Chỉ cần dùng đường (thuần Việt) hoặc lộ – đường (Hán – Việt) là đủ và chuẩn.

Nhân đây, xin nêu một ví dụ khá tiêu biểu nhưng ít ai để ý vì nó khuất lấp sau sự nổi tiếng. Một thi sĩ như Nguyễn Bính, khi viết lời cho ca khúc lẫy lừng Tiểu đoàn 307 (nhạc: Nguyễn Hữu Trí) cũng phạm lỗi lặp từ như trên: Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang. Rõ ràng đã dùng sông thì chỉ là sông Cửu Long. Còn nếu dùng Cửu Long Giang thì phía trước có từ sông là thừa!

Bàn về vấn đề này, có thể mở rộng ở những cấp độ khác, xin nêu một vài trường hợp đáng lưu tâm. Trước hết là cụm từ giáo dục và đào tạo khi chọn đặt tên gọi cho một lĩnh vực, một ngành nghề trong xã hội. Rõ ràng đây là cụm từ gồm hai thành tố đồng nghĩa (ít nhất là gần nghĩa): giáo dục và đào tạo. Xét kĩ, có thể thấy đào tạo (đào – 陶: dạy dỗ; bồi dưỡng + tạo – 造: bồi dưỡng), tuy mang sắc thái ngữ nghĩa khu biệt khi Việt hóa, nhưng vẫn nằm trong vùng nghĩa của khái niệm giáo dục, là một khía cạnh của thuật ngữ giáo dục (giáo – 教: dạy dỗ + dục – 育: nuôi nấng). Chắc chắn vì thế mà trước đây, người ta đã rút gọn khái niệm trong một từ giáo dục: ngành giáo dục; Bộ (Sở; Phòng) Giáo dục! Và hiện nay, nhiều người vẫn dùng như thế theo nguyên lí giản lược ngôn ngữ trong giao tiếp mà vẫn hàm chứa đầy đủ ngữ nghĩa.

Tương tự, ngành thông tin và truyền thông cũng có thể rút lại chỉ là thông tin hoặc truyền thông. Trước đây, khi còn cách gọi ngành văn hóa và thông tin, truyền thông vốn đã nằm trong thông tin rồi. Nay tách ra, tên gọi lại đẻ thêm yếu tố dài dòng, trùng lặp.

Gần đây, chúng ta nhắc nhiều đến cụm từ học tập và làm theo. Theo thiển ý của tác giả bài viết này, làm theo (thuần Việt) đã nằm trong học tập (Hán – Việt) rồi. Bởi tập với tư cách danh từ trong Hán ngữ cổ đã mang nghĩa làm đi làm lại nhiều lần nội dung đã được học. Vậy phải chăng, chỉ cần diễn đạt học tập tấm gương… là vừa gọn vừa đủ. Còn nếu muốn nhấn mạnh khía cạnh Việt hóa làm theo như một tín hiệu nổi bật của khẩu hiệu, nên thay chữ và (tạo sự đồng đẳng giữa hai vế) bằng dấu phẩy để mệnh đề chuẩn hơn: học tập, làm theo…

Rút gọn, giản lược tối đa trong giao tiếp là một nguyên lí tối thượng của mọi ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Lặp và thừa trong sử dụng từ ngữ là một điều tối kị, nhất là với nhóm từ ngữ thường dùng cũng như tên gọi sự vật, hiện tượng. Sự thiếu am hiểu và thói quen a dua là những nguyên nhân chính khiến tình trạng nói trên còn tồn tại trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ tiếng Việt thường nhật.

Sửa chữa lỗi này chính là một thao tác góp phần bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt vậy!

Tao Đàn
(Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 420

Ý Kiến bạn đọc