Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lập lờ hay né tránh sự thật lịch sử?

Tiếp theo bài “Đâu là khoảng trống lịch sử?” trên tuần báo Văn Nghệ số 450 ra ngày 18-5-2017, hôm nay tôi viết tiếp bài nầy nhằm hầu chuyện cùng ông Dương Trung Quốc và ông Phan Huy Lê.

Trước hết với ông Dương Trung Quốc. Trong bài báo “Không né tránh sự thật lịch sử” trên báo Tuổi Trẻ ngày 24-2-2017 vừa qua, ông Dương Trung Quốc đã phát biểu: “Nhìn thẳng để hòa giải với quá khứ”. Ông Dương Trung Quốc cho rằng mọi thực thể hoặc mọi chính thể đều có cái đúng cái sai nhưng quan trọng là ý thức muốn vươn lên. Nói như ông Dương Trung Quốc thì hòa cả làng, ai cũng có đúng có sai cả nên không thể có ai trọng ai khinh, vì vậy mà ở công trình “Nam Phương Linh Từ” tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp ông đã “cố vấn” cho chủ đền thờ lập bàn thờ Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ ngang nhau, và Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký cũng được thờ như Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu. Đó là cách nhìn thẳng của ông Dương Trung Quốc nên ông đã đánh lộn sòng, đã đánh đồng người yêu nước với kẻ bán nước. Ông cho rằng quan trọng là ý thức muốn vươn lên. Ông Dương Trung Quốc cũng đã nhầm to, ai cầm quyền cũng muốn vươn lên cả, nhưng vươn lên để củng cố địa vị cho cá nhân, cho dòng họ mình và vươn lên để dân giàu nước mạnh khác nhau lắm chứ. Ông cũng nhầm khi cho rằng mọi chính thể đều có đúng có sai nhưng quan trọng là ý thức muốn vươn lên, thời đại ngày nay không ai ngây thơ như vậy đâu, người ta phải xét bản chất và động cơ của cái đúng cái sai để tôn vinh hay phê phán, chê trách và thậm chí lên án để làm bài học lịch sử như cụ đồ Chiểu đã dùng hình tượng Nhạc Phi và Tần Cối để liên hệ với Trương Định và Phan Thanh Giản vậy. Ông Dương Trung Quốc hay rêu rao là phải nhìn thẳng nhưng với cách nhìn của ông tôi thấy luôn có biểu hiện méo mó, lập lờ khó chấp nhận được.

Một vấn đề nữa, ông Dương Trung Quốc nói: “Có những vấn đề chưa chín muồi, chưa đủ nhận thức khoa học, có thể gác lại chưa nói, nhưng đã nói ra thì không được nói sai”. Đúng quá! Nhưng ông nói tiếp: “Chẳng hạn từ 10 năm trước, tạp chí Xưa và Nay đã nêu vấn đề là tại sao trong một bài viết của Nguyễn Ái Quốc gần một thế kỷ trước có đánh giá cao vua Gia Long. Dù đánh giá về vua Gia Long có thể cần phải phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhưng về khoa học cần phải nhất quán”. Tôi tán thành với ông là về mặt lịch sử thì phải nhất quán nhưng phải phù hợp với từng giai đoạn lịch sử là sao? Có nghĩa là việc đánh giá về Gia Long thì có giai đoạn Gia Long tốt và cũng có giai đoạn Gia Long xấu. Hoặc là trước nay các cụ đánh giá Gia Long cao, bây giờ ta đánh giá lại thành Gia Long thấp mới phù hợp? Ông nói mù mờ quá biết đâu mà lần! Nhưng có điều tôi cho là hết sức quan trọng khi nói về Bác. Bài viết của Bác đăng ở đâu? Lúc nào? (gần một thế kỷ nhưng cần có ngày giờ cụ thể). Ai thẩm định bài viết nầy là của Nguyễn Ái Quốc?

Phan-Chu-Trinh
Phan Chu Trinh (1872–1926)

Thú thật, đây là lần đầu tiên tôi được biết một việc hết sức quan trọng như vậy và nói thật, tôi không tin là có một bài viết như vậy của Nguyễn Ái Quốc. Tôi lục tìm trong Hồ Chí Minh toàn tập, từ tập 1 đến tập 3 (gồm những bài viết của Bác từ năm 1912 đến 1945) cũng không thấy. Vì tầm quan trọng đặc biệt như vậy nên chúng tôi rất mong được đọc bài viết nầy của Nguyễn Ái Quốc. Với tinh thần đã nói thì không được nói sai chúng tôi rất mong được ông giải đáp những thắc mắc nêu trên nhằm chứng tỏ lời nói của ông mà chúng tôi đã trích dẫn là đúng.

Một nội dung quan trọng nữa khi ông cho rằng: “… về khoa học phải trung thực, nhất quán”. Trong trường hợp nầy (về bài viết của Nguyễn Ái Quốc gần một thế kỷ trước có đánh giá cao vua Gia Long), chúng tôi muốn ông nói rõ hơn, ai cần phải trung thực, nhất quán. Bởi vì từ năm 1942, Bác đã cho phát hành tài liệu Lịch sử nước ta, hầu như ai cũng có đọc. Trong tác phẩm “lịch sử diễn ca” nầy, Bác đã cho Gia Long có tội “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”. Bây giờ ông nói gần một thế kỷ trước, trong một bài viết Nguyễn Ái Quốc có đánh giá cao Gia Long. Vậy là không nhất quán vì trước sau khác nhau đến 180 độ. Còn vấn đề trung thực, giữa sự đánh giá cao và kết tội Gia Long cái nào là trung thực, nếu đúng như ông nói thì ý kiến của Bác trước sau không thống nhất, không nhất quán vậy thì làm sao phân định Bác có trung thực hay không!? Chúng tôi yêu cầu ông Dương Trung Quốc phải làm rõ vấn đề nầy vì nếu không sẽ ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của vị lãnh tụ thiêng liêng của dân tộc.

Tiếp theo, chúng tôi xin có đôi lời với ông Phan Huy Lê qua ý kiến của ông trên báo Thanh Niên ngày 26-2-2017. Ông Phan Huy Lê phát biểu như sau: “Cuộc kháng chiến chống Pháp đặc biệt là thời kỳ Cần Vương là thời kỳ được nghiên cứu rất kỹ. Nhưng có cuộc tranh luận rất lớn về các phong trào đầu thế kỷ XX, đó là tranh luận về quan hệ giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Ta lại coi Phan Chu Trinh là một nhà cải lương về tư tưởng. Giờ đây cũng phải nhận thức lại hai cụ đều là hai nhà yêu nước đi theo hai hướng khác nhau. Một bên huy động sức mạnh toàn dân để khởi nghĩa vũ trang. Còn một bên là cụ Phan Chu Trinh thì thấy với dân trí khi đó cần phải khai dân trí, hậu dân sinh rồi mới tiến lên giành độc lập dân tộc. Cùng đi tới một mục tiêu, xuất phát từ một động cơ, cùng đi tới độc lập dân tộc nhưng hai con người có hai con đường khác nhau, gần như bổ sung cho nhau. Cũng cần phải nghiên cứu khách quan hơn”.

Tôi ghi lại đầy đủ ý kiến của ông Phan Huy Lê đã đăng trên báo Thanh Niên. Qua ý kiến của ông, tôi thấy ông cố tình đơn giản hóa mọi việc để đi đến kết quả cuối cùng là hai người dù đi trên hai con đường khác nhau nhưng cuối cùng hai người cũng có cùng một mục tiêu là giành độc lập cho dân tộc với cùng một động cơ là yêu nước.

Chúng ta đều biết rằng vận động, tổ chức một cuộc cách mạng để giành độc lập cho dân tộc trong điều kiện nước nhà bị xâm lăng không đơn giản chỉ nêu vài khẩu hiệu “dân trí, dân khí, dân sinh” là được, mà cuộc cách mạng ấy còn đòi hỏi phải:

- Xét tình hình chung: Tương quan ta – địch, âm mưu, ý đồ của kẻ thù.

- Xác định mục tiêu cả trước mắt và lâu dài của cuộc cách mạng.

- Chiến lược – Sách lược.

- Tổ chức lực lượng.

- Phương châm – Phương thức đấu tranh…

Ai cũng biết sau khi có đường lối chắc chắn, chính xác rồi còn phải trải qua “thiên hình vạn trạng” mà cách mạng thì không thể một người, vài ba người làm được. Do vậy, chúng ta không thể nói một cách hời hợt rằng: bạo động hay bất bạo động gì cũng được miễn là cùng động cơ, cùng mục tiêu thì cùng có giá trị như nhau. Tôi không có tham vọng diễn giải với ông Phan Huy Lê những vấn đề ngoài phạm vi, yêu cầu của bài viết nầy nên tôi mượn lời của những bậc tiền bối nhận xét về cụ Phan Chu Trinh để chúng ta cùng suy gẫm.

Cụ Phan Văn Trường (người cùng thời với cụ Phan Chu Trinh, ông đã từng là luật sư Tòa thượng thẩm Paris) viết:

“Ông Phan Chu Trinh là một người rất đỗi thông minh, có học lực uyên thâm và có nhiều kinh nghiệm, ông nói chuyện rất có duyên ai cũng thích nghe. Nhưng ông lại nhẹ dạ một cách không ngờ và ngây thơ quá thể, thành thử những ưu điểm nói trên của ông đều bị cái nhẹ dạ và ngây thơ của ông làm hỏng bét. Bạn bè cố ngăn ông nhưng ông nhất định không nghe. Ông chứng minh rằng dạy cho người An Nam học và để cho người An Nam được tự do học hành là rất có lợi cho nước Pháp”.

“… Nhưng ông Phan Chu Trinh là một người rất kiên trì, đeo đẳng. Mặc dù bị đẩy vào tình cảnh cơ cực và nhục nhã ông vẫn hy vọng một ngày nào đấy sẽ được chính quyền thuộc địa ưu ái và chiếu cố như xưa. Ông vẫn tiếp tục lui tới những nơi làm việc của Bộ Thuộc địa, tìm cách gần gũi những viên chức cao cấp phụ trách về Đông Dương để bày tỏ lòng trung thành của ông. Chúng ta sẽ thấy ông đã tìm cách như thế nào để bày tỏ lòng trung thành ấy, nhưng ông vẫn bị chính quyền Pháp thừa lúc ban hành tình trạng chiến tranh để buộc ông và tôi vào tội có âm mưu chính trị chống lại nước Pháp và tống cả hai vào ngục suốt mười một tháng”.

Dam-tang-cu-Phan-Chu-Trinh-o--Sao-Gon
Đám tang cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn – Ảnh Internet

“Cũng tưởng rằng sau những bài học thấm thía ấy ông Phan Chu Trinh sẽ tỉnh mộng chia tay với tật lạc quan của ông và sẽ vĩnh viễn từ bỏ cái hy vọng được chính quyền thuộc địa chiếu cố thương yêu trở lại. Nhưng sự thật không phải thế. Ông có một thứ triết lý riêng của ông, ông lại vẫn chứng nào tật ấy, làm như chẳng có việc gì xảy ra cả, vẫn tiếp tục lui tới văn phòng Bộ Thuộc địa, vẫn tìm cách gần gũi những người đã bức hại ông, vẫn đưa hết thỉnh cầu nầy tới thỉnh cầu khác để xin được gặp ông Albert Saraut, người mà tôi tin là không dính dáng tí gì với cái âm mưu buồn cười mà cả ông Phan Chu Trinh cả tôi đều bị buộc vào, tuy rằng trên các giấy tờ trong tập hồ sơ liên quan đến vụ án của chúng tôi có ghi rõ cái tên Albert Saraut.

Không thể tưởng tượng một người như thế mà lại có thể bị nhà cầm quyền thuộc địa hai lần buộc cho cái tội âm mưu chống lại nhà nước Pháp, một người – xin nói rõ là tôi không có ý khinh bỉ gì ông – lúc nào cũng bám vào lớp người thuộc địa, một người mà khi bị đuổi ra ở cửa to thì lại tìm ngay cách đi vào trở lại bằng cửa nhỏ, một người như thế mà lại có thể bị nhà cầm quyền thuộc địa hai lần khép vào tội phá hoại trật tự an ninh của nước Pháp.

Ông Phan Chu Trinh rất thông minh, rất dễ mến, rất tốt với bạn bè, nhưng những đức tính nầy không đủ để giúp ông trở thành một nhà cách mạng. Tôi nghĩ rằng bất cứ ai không bị mù quáng vì thành kiến, cũng sẽ phải cười với tôi – với tôi là kẻ biết rất nhiều về ông – nếu nghe nói ông Phan Chu Trinh là một con người nguy hiểm, là một nhà cách mạng, là một kẻ làm quốc sự có khả năng làm rung chuyển nền thống trị Pháp ở Đông Dương. Tôi không biết xếp ông vào chỗ nào trong bảng thứ bậc những người làm chính trị, nhưng cũng phải nói là cũng khó lòng gọi ông là một nhà cải cách.

(Trích từ Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh – giai đoạn 1900-1945)

Không phải chỉ riêng ý kiến của cụ Phan Văn Trường, còn một ý kiến khác cũng rất cần để chúng ta nghiên cứu. Quan niệm làm chính trị của cụ Tôn Quang Phiệt trong bài “Phan Chu Trinh – tư cách con người và chủ trương chính trị” như thế nầy:

“Tuy nhiên, hoạt động chính trị là một vấn đề phức tạp. Thành thực yêu nước và muốn giúp nước là một chuyện, nhưng có phương pháp đúng đắn để cứu nước cho có kết quả là một chuyện khác. Do đó cái chủ trương chính trị là rất quan trọng làm tiêu chuẩn cho chúng ta phê phán các nhân vật lịch sử”.

Trong bài viết của cụ Tôn Quang Phiệt có những đoạn như sau:

“Không đem máu rửa máu thì không cải tạo xã hội được (Phan Bội Châu đã dẫn trong bài tựa của quyển Phan Bội Châu niên biểu) thì “… Phan Chu trinh hô hào: Không bạo động, bạo động là chết và… Phan Chu Trinh đã muốn thực hiện chương trình khai dân trí, xướng dân quyền của dân mình; dân đã khôn ngoan tiến bộ về mọi mặt, đã biết dùng quyền của mình thì mới có thể độc lập được. Tuy nhiên, cứ lấy tư cách một người thân sĩ chân không mà hô hào cải lương thì làm sao mà được toàn dân hưởng ứng, toàn dân thực hiện được; mà toàn dân không hưởng ứng, không thực hiện, thì cải lương với ai?”.

“Cả hai phái bạo động và cải lương đều thất bại, vì lúc đó nước ta chưa đủ điều kiện chủ quan và khách quan để đuổi được ngoại xâm giành được độc lập. Tuy nhiên, cách mạng võ trang của Phan Bội Châu là đúng. Các nhà hoạt động cách mạng thường nói “thất bại là mẹ thành công”, trường hợp nầy rất đúng. Còn chủ trương cải lương của Phan Chu Trinh thì bị thất bại và bị phá sản luôn, sau Phan Chu Trinh những nhà chân chính ái quốc của nước ta không ai đi theo con đường ấy nữa. Nhũng kẻ theo con đường cải lương sẽ là những kẻ hợp tác với bọn thực dân thống trị, trở thành những tay sai của chúng không hơn không kém mà không người nào có được sự hâm mộ của nhân dân như Phan Chu Trinh nữa. Điều ấy tỏ ra rằng nhân dân ta rất sáng suốt, phân biệt được kẻ gian người ngay”.

Một điều mơ hồ về bản chất kẻ thù xâm lược của cụ Phan được thể hiện trong đoạn viết sau đây:

“Tuy vậy, mãi về sau Phan Chu Trinh vẫn tỏ ra cảm động trước thái độ của một số chính khách Pháp. Trong bức thư gửi cho Khải Định năm 1922, Phan có viết: “Nếu không có những bậc chí sĩ nhân thân nước Pháp, thể cái nghĩa bình đẳng, bác ái ghé vai gánh vác cho Trinh thì cái thân nầy còn đâu đến ngày nay. Trinh sở dĩ còn chút sống thừa, đều là nhờ cái văn minh của dân tộc Pháp cả”. Nhắc lại việc nầy cố nhiên Phan Chu Trinh dụng ý chỉ trích chính sách độc tài của triều đình nhà Nguyễn đối với các phần tử yêu nước, nhưng không khỏi đề cao thực dân một cách quá đáng, làm cho nhân dân ta hiểu lầm. Sau nữa, sở dĩ Phan Chu Trinh được giảm án và sang lưu trú ở Pháp cũng là vì đương thời có phe bạo động gây lo sợ cho thực dân nhiều hơn, nên chúng mới phân biệt đối xử, có ý cảnh cáo cho người Việt Nam biết là nếu họ muốn hoạt động yêu nước thì đi con đường Phan Chu Trinh ít nguy hiểm hơn con đường Phan Bội Châu. Chủ nghĩa cải lương mà bị thực dân đô hộ lợi dụng được thì rất là nguy hiểm”.

Một đoạn khác nhằm làm rõ lập trường của cụ Phan đồng thời khẳng định với ông Phan Huy Lê là giữa cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh chỉ có làm hại nhau chứ không hề có sự “bổ sung cho nhau” như ông đã suy diễn:

“Trong thư gửi cho Toàn quyền Bô, Phan Chu Trinh chỉ trách người Pháp đã dung túng cho quan lại Nam triều làm bậy mà không nói một tội ác nào của chính người Pháp cả; trong thư gửi cho Khải Định Phan Chu Trinh nhiều chỗ ca ngợi công đức người Pháp. Lập trường bạn, thù như thế đảo điên. Phan Chu Trinh công kích người khác “trông ngoài là ngu” thế mà tự Phan muốn dựa vào Pháp, phải chăng đối với Phan Pháp không phải là ngoài, chính quyền thực dân Pháp ở nước ta là chính quyền hợp pháp? Vì không đồng ý với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tuyên truyền chống lại phong trào bạo động, làm hại cho cuộc vận động của Phan Bội Châu. Lúc Phan Chu Trinh đi Trung Quốc và Nhật về, Nguyễn Hàm, một đồ đệ của Phan Bội Châu ở Quảng Nam, đã viết thư cho Phan Bội Châu phàn nàn là: “Tây Hồ về đây rất bất lợi cho bạn buôn”. Bạn buôn ở đây là nói bóng là chỉ những người theo chủ trương bạo động (Phan Bội Châu niên biểu)”.

Và cụ Tôn Quang Phiệt kết luận:

“… chúng ta thấy rõ con đường cải lương nói chung và con đường cải lương của Phan Chu Trinh nói riêng không thể đưa lại lợi ích gì cho quốc gia dân tộc, chúng ta bài kích con đường đó”.

(Trích từ Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 436 và 437)

Đánh giá nhận xét về hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh chúng ta không thể không đọc ý kiến của Nhà cách mạng – GS. Trần Văn Giàu.

Trước hết là nhận xét có tính tổng quát:

“Ai cũng phải thừa nhận rằng nếu Phan Bội Châu không phải là một nhà triết học thì cụ đúng là một nhà chính trị và là nhà chính trị xuất sắc nhất, tiêu biểu nhất của nước ta hồi đầu thế kỷ XX, trong giai đoạn từ chiến tranh thế giới thứ nhất trở về trước”.

So sánh giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có mấy đoạn sau:

“Theo Phan Bội Châu thì muốn được gọi là một nước thì phải có nhân dân, đất đai, chính quyền; thiếu một trong ba cái ấy thì đều không đủ tư cách làm một nước. Nay, chính quyền ở nước ta về tay Pháp, đất đai ta bị quân Pháp chiếm đóng, nhân dân ta bị Pháp cai trị, thì đó là nước đã mất, như vậy, nhiệm vụ chính được đặt ra là lấy lại nước. Khác với Phan Chu Trinh là người đặt cày trước trâu, đặt vấn đề dân chủ mà không đặt vấn đề độc lập và cụ Phan Bội Châu và các đồng chí của cụ xác định rằng: giành lại chủ quyền dân tộc là vấn đề số một, là nhiệm vụ lớn nhất, không thể có sự thỏa hiệp giữa người dân mất nước với kẻ cướp nước… Giữa Việt Nam với Pháp, giữa nước thống trị với nước bị trị không thể có sự thỏa hiệp được; nó diệt ta hay ta diệt nó đó thôi chớ không thể có Pháp – Việt nhất gia được. Đó lại là đúng đắn, dứt khoát, cách mạng.

Khác với Phan Chu Trinh, là người dựa vào Pháp mà vận động dân chủ. Phan Bội Châu đặt vấn đề cách mạng chống Pháp, đặt vấn đề giành lại chính quyền là vấn đề trung tâm của tất cả các vấn đề. Cụ viết: “Điều quan trọng nhất là chủ quyền; điều quan trọng của chủ quyền là độc lập, chủ quyền hoàn toàn, cả đối nội lẫn đố ngoại”. Phan Bội Châu không chấp nhận một chủ quyền bị cắt xén, bị hạn chế; không thừa nhận một sự độc lập giả hiệu, hình thức. Độc lập phải thực sự và đầy đủ”. Và cụ quyết liệt: “Khôi phục độc lập bằng cách nào? Giành lại chủ quyền bằng cách nào? Bằng bạo động, bằng máu và thép”.

Khi bàn về sự tổ chức cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tư sản, GS. Trần Văn Giàu viết:

“Đầu thế kỷ XX, đối với Pháp, người Việt Nam cũng có hai khuynh hướng chính: “Cách mạng bạo động và bắt tay Pháp xin cải cách. Tư tưởng cải lương, dù là tư tưởng cải lương của Phan Chu Trinh, xét kỹ nhất, ta cũng khó có thể xem đó là “cách mạng hòa bình” được, bởi vì nó không có gì là cách mạng, nó không đặt vấn đề giành chính quyền, giành chủ quyền từ tay Pháp đem về tay Việt Nam; nó không tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống yêu nước Việt Nam tiêu biểu lúc nầy bởi tư tưởng cách mạng bạo động của Phan Bội Châu; tư tưởng cách mạng bạo động ấy dù có thiếu sót gì cũng là tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, tư tưởng cơ bản của người Việt Nam là tư tưởng cách mạng bạo động.

“Mục đích của Duy Tân hội là: Đánh giặc phục thù mà thủ đoạn là bạo động”.

Cụ Phan Bội Châu nói về Quang Phục hội:

“Bây giờ chúng tôi tìm đường sống ở trong muôn vàn cái chết, chỉ nghĩ đến bạo động mà thôi”.

Về Phan Chu Trinh, GS. Trần Văn Giàu viết:

“Về sau có người nói: Hai cụ Phan “tương phản nhi tương thành”, một người chú trọng chống Pháp vì dân tộc, một người chú trọng chống triều đình vì dân chủ. Nhưng nếu tìm trong văn bản được công bố thì ít khi thấy hai cụ “phân công” với nhau mà thường thấy hai cụ xung đột tư tưởng với nhau, sự xung đột tư tưởng đó đã bộc lộ trong tác phẩm dài đầu tiên của Tây Hồ là thư gởi Toàn quyền Bô viết năm 1907.

Có mấy điều về mặt tư tưởng cần phải được chú ý trong thư:

Thứ nhất: Thư gởi Toàn quyền Bô không nhằm bóc trần chế độ thực dân, lên án nó, mà đây là thư trước tác, hậu bổ “đến cửa quan bảo hộ, phơi gan trải mật, rỏ máu kể rõ cái thủ đoạn tàn ngược của quan trường cùng là cái tình trạng thảm khổ của cùng dân, khiến cho tội ác của quan lại và cái khổ cảnh của quốc dân trong mấy năm nay lọt vào tai các quan bảo hộ”. Mục đích của thư là như vậy. Theo bức thư thì lâu nay các quan bảo hộ bị quan trường bản xứ bưng bít không cho biết thực trạng và dân tình, cho nên không biết rằng ngày nay đất nước và dân tộc Việt Nam tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn hèn, sự thế hư hỏng, nhân dân lìa tan, phong tục suy đồi, lễ nghi bại hoại, một dân tộc hơn hai mươi triệu người sắp sửa ở cái địa vị bán khai mà quay về cái địa vị dã man, nước Nam bây giờ như một người ốm nặng, gần chết, mà không có thuốc cứu chữa được nữa. Pháp bảo hộ bị quan trường bưng bít nên không biết nhìn điều đó, chớ nếu có người trình bày cặn kẽ thì các quan bảo hộ nghe thấy cũng xót ruột đau lòng, cho là làm phải mà không nỡ cự tuyệt”.

“Sở dĩ nước Nam bây giờ như người ốm sắp chết khó có thuốc cứu chữa, ấy là tội của sĩ phu nước Nam, mà gây nên tội ấy là cũng bởi hiểu lầm rằng chính phủ bảo hộ dùng chính sách ngược đãi người Nam làm chính sách hay nhất”.

“Theo Phan Chu Trinh, người Pháp bảo hộ không phải là không có khuyết điểm; khuyết điểm của người Pháp bảo hộ là để mặc kệ cho hư nát không thèm hỏi đến; hai là khinh thường đánh đập người Việt Nam, ví người Nam với bò, lợn, không muốn đặt ngang hàng với mình, sợ dơ bẩn; ba là, và đây là điểm lớn nhất theo Phan Chu Trinh là “dung túng quan lại Việt Nam”, chỉ đặt quan to ở trên cao mà trông chung chớ không nắm tình hình bên dưới, nếu người Pháp bảo hộ mà hiểu được, nắm được tình hình bên dưới thì quan lại còn thò ngón gian vào đâu được nữa”.

“Tìm đâu cũng không thấy Tây Hồ nhận ra rằng đối lập chính là đối lập giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp. Tìm đâu cũng không thấy Tây Hồ công kích bản chất của chế độ thực dân, chỉ thấy cụ phê phán một số chính sách thực dân, phê phán rằng chính phủ bảo hộ không làm hết sứ mệnh bảo hộ, phê phán người Pháp khinh miệt người Việt Nam, do đó cụ yêu cầu người Pháp, người Nam phải tôn trọng nhau, gần gũi nhau, giúp đỡ nhau. Đó là một điểm cốt yếu của chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề”; ngay cả khi chủ nghĩa đó chưa được đặt tên là “Pháp – Việt đề huề” – một tư tưởng chính trị cải lương chủ nghĩa gieo rắc ảo vọng trong nhân dân”.

Kết thư gởi Toàn quyền Bô, cụ Phan Chu Trinh viết:

“Chính phủ bảo hộ có thay đổi chính sách, kén chọn kẻ tài năng, trao cho quyền bính, lấy lễ mà đãi, tỏ rõ lòng thành, cùng với họ bàn mưu lập kế để hưng lợi, trừ hại, mở đường sinh dưỡng cho dân nghèo, trao quyền nghị luận cho thân sĩ, rộng đường báo chí để thấu dân tình, phân minh thưởng phạt để trừ hại tệ, ngoài ra như sửa đổi pháp luật, bãi bỏ khoa cử, chấn hưng học hiệu, đặt dựng thư cục, đào tạo sư phạm, cho đến công thương, khoa kỹ nghệ, pháp thuế dịch, không có cái gì là không lần lượt cải lương, thì người dân đều yên làm ăn, kẻ sĩ phu đều vui phục vụ. (Khi ấy) chỉ sợ nước Pháp bỏ nước An Nam mà đi (chớ) còn ai xem nước Pháp là kẻ thù địch nữa”.

Bình luận đoạn văn trên, GS. Trần Văn Giàu viết:

“Tây Hồ đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng “cải tử hoàn sinh”cho nước Nam, cái chính sách trường cửu xem Tây – Nam như một.

Thế là cụ không rõ bản chất của đế quốc thực dân, cụ mơ hồ về nó. Cụ không hề đặt vấn đề đánh đổ Pháp, không nhằm mục đích ấy để mà đề ra chương trình cải cách. Chính đó là một đặc điểm của chủ nghĩa cải lương. Nói chung thực chất của chủ nghĩa cải lương là ở chỗ người ta chỉ thực hành những sự cải tiến mà không đòi tiêu diệt những cơ sở chủ yếu của giai cấp thống trị cũ, thực hành những sự cải tiến phù hợp với sự duy trì những cơ sở đó… Phan Chu Trinh không tìm ra nguyên nhân ở bản chất thực dân, phong kiến của bộ máy nhà nước mà tìm thấy nguyên nhân ở “cái tệ xa cách”, nghĩa là ở chỗ nhà nước bảo hộ Pháp chỉ đặt người ngồi ở cao để trông nom chung chung. Thế nghĩa là gì? Nghĩa là nếu Pháp trực tiếp nắm cả bộ máy từ trên xuống dưới thì quan lại sẽ bơ mõm, tham nhũng sẽ tuyệt gốc? Còn ảo tưởng nào lớn hơn?”.

Đánh giá về nhân dân Việt Nam, cụ Phan Chu Trinh viết:

“Nước Nam gần đây, học thuật không mở mang, phong tục thì hư hỏng, liêm sĩ cũng mất hết, kiến thức cũng bịt bùng, trong khoảng một làng một xóm mà cá thịt lẫn nhau, trong họ hàng ruột rà mà không khỏi xem nhau như cừu thù, nhất đán mà có chí khác thì không có đất đai mà dựa được, không có súng ống mà cậy được, không có của cải mà cung được; giả sử chính phủ bảo hộ cho mượn mấy nghìn khẩu súng, khoanh cho một vùng mấy tỉnh, rồi cho tự giữ gìn lấy, không hỏi han gì đến, chưa đầy vài năm sau, nếu không báo thù lẫn nhau thì cũng tranh nhau hơn kém, nếu không cướp giật tiền của thì cũng giành giật địa vị, họ tất sẽ tàn sát lẫn nhau cho đến chết mới thôi. Quyết họ không thể sinh tồn một ngày ở thế giới ngày nay được. Như vậy thì còn bàn gì đến đối địch với ai nữa”.

“Đến nay, thế nước càng ngày càng suy, đến nỗi sụt xuống bậc cuối cùng, nếu không núp dưới quyền bảo hộ của nước Pháp thì ngày nay không biết đã trụy lạc xuống vực sâu hang thẳm nào”.
GS. Trần Văn Giàu bình luận:

“Phan Chu Trinh đánh giá về dân tộc và chí sĩ Việt Nam như vậy. Nếu thế thì nước ta làm sao có thể tự lập được? Nếu không tự lập được thì tất nhiên phải nhờ nước Pháp bảo hộ, giáo dục cho đã. Đó là ý kiến của Tây Hồ! Nói như vậy có “oan” cho cụ không? Trong “Thi tù tùng thoại”, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc chuyện ở Côn Lôn, có ghi lại lời cụ Phan ngoài đảo: “người nước Nam chịu nép dưới chính thể chuyên chính đã trên nghìn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập”. Lạ quá! Một nghìn năm độc lập tự chủ mà lại làm ra cái không có tư cách quốc dân độc lập nghĩa là sao? Chúng ta biết rằng không những ở thư gởi Toàn quyền Bô mà trong “Tỉnh quốc hồn ca”, cụ Phan Chu Trinh cũng đánh giá đồng bào ta thấp kém tệ hại như thế”.

“Vậy thì Việt Nam phải đội ơn Pháp tới cai trị mình! Vậy thì chế độ thực dân đã chẳng phải là vực sâu hang thẳm, mà ngược lại. Quái gở thay! Mà chính đó là câu văn, lời nói của chính Tây Hồ”.

Một ý kiến của cụ Phan Chu Trinh đối với phái chủ trương bạo động như sau:

“Cái thương nước tôi nói đây không phải là xui dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước nầy cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu”.

“Đã mấy mươi năm nay nhờ các phong trào của thế giới xô đẩy duy tân mà trong nước ta cũng có đảng thủ cựu, đảng duy tân, đảng hòa bình, đảng kịch liệt, làm ồn ào cả lên mà rốt cuộc lại chẳng thành hiệu quả gì. Đến khi đổ bể thì thấy toàn là những đầu trâu mặt ngựa cả, chỉ bêu xấu cho cái danh giá của dân tộc mình, khiến cho người ta trông vào thấy càng khinh rẻ thêm, càng giày đạp thêm”.

“Chỉ mê tín cái lịch sử đời xưa, trọng chủ nghĩa phục thù, tìm mưu kế phỉnh phờ cho dân nó dấy lên, nhưng than ôi một con dao, một đoạn tre thì có làm gì! Cái nỗi thảm hại đem thịt ra cho người ta băm, đưa đầu ra cho người ta bắn, nghĩ cũng đáng thương, nhưng công việc làm nào có ích gì, chẳng qua làm cho dân đức của ta thêm trụy lạc…”.

GS. Trần Văn Giàu bình luận về đoạn văn nầy như sau:

“Sao lại mạt sát nặng nề như vậy? Sao lại tự quyền mạt sát những người nổi lên chống Pháp, dù họ thất bại”.

“Bậc anh hùng bị xem là kẻ dại dột, phỉnh phờ, mê tín lịch sử xưa, thậm chí là đầu trâu mặt ngựa! Sao vậy được? Nổi lên đánh Pháp đô hộ là làm “dân đức thêm trụy lạc” là nghĩa làm sao? Những ý chống bạo động cách mạng nầy xa với chủ nghĩa yêu nước chân chính quá!

(Trích từ Tổng tập của Giáo sư Trần Văn Giàu)

Tóm lại, trích dẫn như vậy cũng đã quá dài. Những trích dẫn trên đây nhằm ghi nhận những yếu tố làm sáng tỏ ý của ông Phan Huy Lê:

- Ông không tán thành gọi cụ Phan Chu Trinh là nhà cải lương về tư tưởng.

- Ông cho là giữa hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có sự bổ sung cho nhau.

- Hai con người đi hai con đường khác nhau nhưng cùng một mục tiêu, một động cơ nên cũng có vị trí ngang nhau khi nhận xét đánh giá.

Trước hết về chữ cải lương. Bản thân chữ cải lương không có gì là xấu cả, bằng chứng là trong đoạn kết thư gởi Toàn quyền Bô, chính cụ Phan Chu Trinh cũng đã dùng từ nầy trong thư của mình như đoạn trích trên đây. Nhưng trong thực tế, lâu nay khi nói về lập trường chính trị của cụ Phan Chu Trinh mọi người lại hiểu với một hàm ý là lập trường ấy có tính nửa vời, không thực tế, không phù hợp với lập trường đấu tranh của dân tộc. Theo hướng đó, áp vào chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khi cụ “dựa vào Pháp – đang là kẻ thống trị – để mong cải tiến điều kiện dân chủ cho dân mình thì quả là ảo tưởng. Thực dân Pháp cướp nước mình mà hô hào Pháp – Việt đề huề trong khi nhân dân đang đấu tranh để giành độc lập thì không phải là tư tưởng cải lương thì nó là cái gì? Dùng chữ cải lương e rằng còn nhẹ, chưa đúng với bản chất của nó. Vậy thì có gì mà ông Phan Huy Lê tỏ ra lấn cấn, không đồng tình!?

Trong các đoạn trích dẫn trên đây đâu có chỗ nào thể hiện việc chủ trương của hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có bổ sung cho nhau. Chỉ có đối nghịch nhau, cụ Phan Chu Trinh tuyên truyền làm hại cho cuộc vận động của cụ Phan Bội Châu là có, cụ Phan Chu Trinh mắng chửi phong trào bạo động của cụ Phan Bội Châu thì có. Đã đối nghịch – thậm chí rất kịch liệt thì bổ sung làm sao được!? Ngay trong khẩu hiệu “Dân trí”, “Dân khí” thì chính cụ đã bi quan thái quá khi cho rằng dân ta sắp sửa ở vào địa vị bán khai đang rơi xuống địa vị dã man thì người Pháp có chịu nghe lời cụ mà “khai” mà “chấn” cho không!? Trong khi cụ Phan Bội Châu luôn quyết liệt với mục tiêu giành độc lập. Như vậy không hề có sự bổ sung nào như ông Phan Huy Lê đã nói.

Cuối cùng, khi đánh giá nhận xét về một nhân vật lịch sử đòi hỏi người đánh giá phải công tâm, khách quan, điều nầy tôi nghe ông Phan Huy Lê nói nhiều rồi nhưng trong trường hợp cụ thể nầy, chúng ta thử đặt lên bàn cân giữa hai người, một đằng thì nhẹ dạ, ngây thơ, mơ hồ, ảo tưởng, lập trường bạn-thù đảo điên, Pháp – Việt đề huề (Theo cụ Phan Văn Trường thì cụ Phan Chu Trinh không phải là nhà cách mạng, không biết xếp chỗ nào trong thứ bậc những người làm chính trị, khó lòng gọi ông là nhà cải cách) với một đằng thì chỉ có quyết giành độc lập bằng máu và thép, tìm đường sống trong muôn vàn cái chết, không thỏa hiệp với bọn cướp nước (Theo GS. Trần Văn Giàu thì cụ Phan Bội Châu là nhà chính trị xuất sắc, tiêu biểu). Từ những điểm khác nhau cơ bản như vậy, ông Phan Huy Lê đòi hỏi hai người phải được đặt ngang nhau quả là không thể chấp nhận được. Trừ trường hợp ai đó cố ý lập lờ làm nhiễu loạn nhận thức đối với những kết luận trước đây của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, suốt một trăm năm qua, nhân dân ta vẫn coi cụ Phan Chu Trinh là một nhà yêu nước, như vậy cũng đủ để minh chứng nhân dân ta luôn yêu thương, quí trọng với những ai có tấm lòng với dân, với nước. Tôi nghĩ đó cũng là phần thưởng quý giá mà nhân dân đã dành cho cụ Phan Chu Trinh mặc dù về chủ trương, quan điểm – tư tưởng của cụ còn có những điều chưa chính xác, thuyết phục thậm chí lệch lạc, tai hại.

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452

_______________________

Những chữ in đậm trong các phần trích dẫn là do tác giả nhấn mạnh.