Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lão nghệ sĩ, lão nhà văn

Đã có nhiều bài báo viết về các nhà văn, các nghệ sĩ cao tuổi, tác giả gọi các vị này là lão nhà văn, lão nghệ sĩ. Có thể những tác giả đó tưởng gọi như thế là tỏ thái độ trân trọng với các nhà văn, nghệ sĩ tuổi tác đó. Họ đâu biết người ta dị ứng, phê phán cách gọi thiếu tôn trọng đó. Chuyện này ta cũng nên tìm hiểu. Đó cũng là những hiểu biết bổ ích và lý thú.

Tội là ở cái từ Việt gốc Hán đọc là lão đó. Cách đọc này là của người Việt đọc chữ Hán theo cách riêng gọi là âm Hán – Việt hình thành lâu đời ở ta.

Chữ lão có nghĩa chủ yếu là già. Ta cũng mượn từ lão theo nghĩa đó để nói già, người già. Có điều người Việt có hai cách dùng từ lão. Một cách là dùng theo kiểu người Hán, nghĩa vẫn là “già”, nhưng kết hợp với từ ngữ khác trong câu thì theo “luật” ngữ pháp Hán. Ở tiếng Hán, tính từ phụ nghĩa cho danh từ, chỉ đặc điểm sự vật phải đặt trước danh từ. Cho nên cờ đỏ tiếng Hán đọc theo âm Hán – Việt là hồng kỳ (đỏ, cờ). Lão nghệ sĩ cấu tạo theo cách đó, chữ lão (già) đặt trước nghệ sĩ và cả tổ hợp lão nghệ sĩ là người nghệ sĩ già. Chữ ghép cấu tạo như vậy thường đòi hỏi các thành tố phải là Hán – Việt cả. Cách ghép lão nhà văn thì ghép không ổn vì nhà văn là từ Việt (xưa gọi là “nôm” khác “chữ” là Hán – Việt), nếu muốn gọi trang trọng có lẽ phải dùng lão văn sĩ, lão văn gia (nhưng lại kiểu cách cổ lỗ và cũng không tránh khỏi hiểu lầm).

Chữ lão này khi mượn vào tiếng Việt đã Việt hóa cao trở thành một từ Việt. Nó khác với các từ Hán chưa được Việt hóa cao, chỉ được coi là một yếu tố tạo từ không đi một mình được (kiểu như chữ lâm là rừng, không thể nói “tôi vào lâm chơi”) luôn luôn phải kèm theo từ khác (kiểu lâm nghiệp, lâm trường…). Từ lão khi đã Việt hóa, có thể đi một mình, lại chỉ có nghĩa là già, người già dùng để gọi thân mật. Lúc đó nó có thể là một tính từ như bà lão, ông lão (bà già, ông già) hoặc danh từ như lên lão. Người ta còn dùng từ này như một danh từ chỉ loại, chỉ đơn vị (trước gọi là “loại từ”), chỉ một người với thái độ khinh rẻ hay thân mật (lão thầy bói, lão chủ keo kiệt). Khi là từ Việt hóa cao như thế, người ta dùng theo kiểu người Việt, theo qui tắc ngữ pháp Việt. Khi đó đặt lão ở trước danh từ được coi là từ chỉ đơn vị không còn là một tính từ như cách dùng của người Hán. Trong các trường hợp đó các người bị gọi là “lão” không vui vẻ gì, vì có coi thường, khinh ghét người ta mới gọi thế. Chính vì thế gọi người ta là lão nhà văn, cả lão nghệ sĩ nữa là không ổn dù lão nghệ sĩ có hình thức cấu tạo từ ghép kiểu Hán! (vì nghệ sĩ đã Việt hóa cao không như văn sĩ). Áp lực nghĩa của từ lão Việt hóa mạnh hơn át đi sắc thái tôn trọng ở chữ lão nghệ sĩ đó (cũng có thể có trường hợp có sắc thái thân mật, nhưng phải có quan hệ thân mật và ngữ cảnh phù hợp).

Thật ra, đã qua cái thời dùng được từ Hán – Việt mới được coi là thông tuệ và cũng không ai còn nghĩ dùng chữ Hán – Việt trang trọng hơn dùng chữ thuần Việt hay Việt hóa. Dùng đúng nghĩa, đúng lúc, đúng chỗ mới là hay. Ở các trường hợp này có thể dùng nhà nghệ sĩ già, nhà văn cao tuổi hoặc cầu kì hơn một chút có thể dùng: nghệ sĩ lão thành, nhà văn lão thành.

Có thể những điều nói về từ Hán – Việt này hơi khó nghe với một số người. Nhưng tôi nghĩ nếu chịu khó đọc kỹ, hiểu chắc về một trường hợp dùng từ lão không thận trọng này, ta cũng có thể hiểu được nhiều trường hợp lẫn lộn kiểu ấy. 

Lê Dâ

Ý Kiến bạn đọc