Tản văn

Lắng nghe mưa kể

Mới mùa mưa năm ấy những cậu bé còn khỏa thân nhông nhông chạy khắp làng tắm tiên tập thể. Cười đùa, la hét, hò reo đuổi theo những con thuyền giấy trôi theo dòng nước ngập đường làng. Những mùa mưa sau, tuy chưa ai bỏ hẳn cuộc chơi, nhưng đã có cậu không dám tồng ngồng toàn thân mà đã trang bị bán thân bằng chiếc quần đùi! Vì nhà đầu xóm bỗng có cô bé nghiêng nón che mưa bên hàng rào thưa tìm trái mồng tơi về làm mực tím.

Rồi những mùa mưa tiếp lại có người bỏ tắm mưa tập thể để lăng xăng lo cho mấy chum nước mưa đặt dưới hàng cau trước sân nhà. Không phải cậu lo nước cho ông pha trà, mà là để mỗi ngày dùng “ké” vài gáo dừa rửa mặt gội đầu cho mượt tóc sáng da như người ta thầm thì truyền khẩu.

Mưa là thời điểm những thím cua đồng đầy trứng vàng dưới yếm, ngoi khỏi hang bò dưới khe ruộng nẻ. Những chú cá rô lách ngược dòng rúc trong những bụi cỏ đẫm nước mưa. Tốp thì ra đồng bắt cua. Tốp thì thi nhau bắt cá. Với lũ trẻ đây là những ngày vui hơn lễ hội đình làng.

Sai-Gon-mua---Anh-Doan-Quang
Sài Gòn mưa – Ảnh: Doãn Quang

Nhưng rồi theo năm tháng, trò chơi đuổi cá bắt cua cũng không còn hấp dẫn với những thành viên của hội tắm mưa tập thể này nữa. “Mốt” bây giờ, mưa là phải đi soi đuốc bắt ếch mới thể hiện được “đẳng cấp” cao. Mình không còn là “lũ trẻ” ngày nào nữa. Vì chỉ người lớn mới có can đảm dám đi một mình trong đêm mưa gió giữa đồng không mông quạnh để lần theo tiếng ếch gọi bạn tình cuống quít dưới mưa. Thế rồi mùa mưa sau tuy vẫn đi tìm bắt ếch, nhưng có người nhìn chúng “yêu” nhau bỗng thấy lòng mình xao xuyến không nỡ ra tay. Hội tắm mưa tập thể cứ teo tóp vơi dần sau mỗi mùa mưa tiếp.

Rồi theo dòng đời hối hả, những đêm mưa trong xóm trọ xa nhà, khách tha phương bỗng thấy day dứt thèm nghe tiếng mưa rơi trên tàu lá chuối sau vườn, giọt tranh tí tách đếm nhịp trước hiên nhà quê cũ. Da diết nhớ những bạn tắm mưa tập thể, nhớ cánh tay trần của cô bé cầm hờ chiếc nón che mưa tìm hái trái mồng tơi. Rồi vu vơ buồn theo tiếng hạ-uy-cầm ai đang buông khúc nhạc sầu nức nở “Giọt mưa thu”…

Những mùa mưa sau – những ga tàu tiếp – khách viễn hành dần hiểu ra rằng mưa không đơn thuần là sự dịch chuyển của thiên nhiên. Nước bốc hơi tụ thành mây, gặp khí lạnh thành mưa trả lại nước cho sông, hồ, biển cả bằng những mùa mưa ngắn dài tùy vùng miền theo chu kỳ năm tháng.

Miền Bắc có mưa xuân như rây bột mịn. Mưa mỏng nhẹ như sương, lạnh như băng tuyết bay trên đỉnh núi Rồng. Nơi hơn ngàn năm trước Lý Thường Kiệt dựng cột cờ để ba quân đều tỏ trong cuộc hội quân. Hơn nghìn năm sau đã xây thành kỳ đài vĩnh cửu để quốc kỳ Việt Nam hùng vĩ tung bay trên kỳ đài Lũng Cú, điểm mốc chủ quyền của Việt Nam.

Miền Trung mưa thu dai dẳng lê thê những giọt ngâu của Ngưu lang Chức nữ như những giọt buồn của công chúa Huyền Trân đẫm hòa trong điệu Nam bình, niêm trọn khúc tâm tình của thân gái dặm trường trên đường Nam tiến gửi về cố quận thân thương xa cách ngàn trùng.

Mưa phương Nam lấn chen trong nắng hạ. Ào ào như trút nước rồi chợt bặt ngừng nhường cho nắng rọi lung linh. Mưa vội đến, vội đi như cố chạy cho kịp bước người đi dựng bờ, mở cõi về tận miền đất mũi Cà Mau.

Mưa biển Đông có hương cau, hương lúa từ đất liền quyện trong hơi nước chuyển tới đảo xa. Có tiếng sóng ầm vang biển cả, trầm hùng như khúc quân hành ca của người lính đảo đang ngày đêm canh giữ biển trời.

Mưa! Mưa không phải chỉ là những giọt nước vô hồn, lạnh lẽo. Mỗi cơn mưa còn gợi nhớ về những kỷ niệm buồn vui của kiếp phận mỗi con người. Mỗi giọt mưa còn có lời thầm thì vọng từ ngàn xưa kể về vùng trời, vùng biển, miền đất quê hương để ta tự hào về Tổ quốc Việt Nam ta có núi có sông, có trời có biển; có hải đảo xa nhưng vẫn gần với đất liền.

Đào Quang Bắc
(Nhật Lệ, TP. Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454

Ý Kiến bạn đọc