Giới thiệu sách

Lắng nghe một cõi thơ bay

(Tập thơ Thưa em, trời đất nhớ quên… Tác giả: Lê Nhược Thủy – NXB Hội Nhà văn năm 2017).

Lê Nhược Thủy, tên thật là Lê Hữu Huế, sinh ngày 14.3.1949. Anh làm thơ từ thời sinh viên ở Huế, tốt nghiệp Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm ban Việt Hán, gần 10 năm dạy học ở Pleiku. Ngoài ra, ông từng làm trưởng ban Thanh Niên Chủ Nhật, thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, là hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Tác phẩm chính thức trước 1975 là Ngày Tổ quốc vinh quang, Những ngọn đuốc hòa bình Việt Nam và các tập thơ in sau năm 1975 là Khi không mà bỗng nhớ – năm 1989, Chia tay một dòng sông – năm 1996.

Nhà thơ Trần Phá Nhạc trong lời bạt cuối tập thơ viết rằng: “… Vậy đó, Lê Nhược Thủy mộng ở thành phố Huế thời đấu tranh rực lửa, mộng ở Pleiku sương mù và mộng ở Blao, ở Sài Gòn… Một ngày rằm tháng tư, chợt nhớ chữ “không” trong thơ Thủy, tôi đã tới nhà anh mang tặng bộ “Du già sư địa luận” bởi trong bộ sách thâm mật ấy có dẫn giải về lẽ “không” ngay trong phần “Sanh-Tử”.” (Lê Nhược Thủy với hành trình thơ từ “mộng” đến “không”).

Tập thơ Thưa em, trời đất nhớ quên… gồm 80 trang, 38 bài thơ, tranh bìa do Hs. Vũ Hà Nam trình bày, do NXB Hội Nhà văn ấn hành quí 2 năm 2017, tổng cộng 200 bản dành để tặng thân hữu và bạn yêu thơ.

Có thể nói thơ Lê Nhược Thủy chảy tràn qua hai dòng chính là thơ tranh đấu và thơ trữ tình.

Các tập thơ Ngày Tổ quốc vinh quang, Những ngọn đuốc hòa bình Việt Nam là thơ tranh đấu thời kỳ trước năm 1975 kêu gọi “Việt Nam ta quật khởi. Việt Nam ta vùng lên. Xích xiềng sắt hãy cởi. Ngục tù hãy phá tan”. Hay những câu da diết chờ ngày hòa bình thống nhất đất nước “Nắng vẫn đổ trong thôn làng rộn rã / Đón mừng người trai biệt xứ trở về”.

Ba tập thơ in sau năm 1975 là cõi mộng của người từng trải, chiêm nghiệm, chia sẻ cùng người yêu với nỗi ngất ngây say đắm, để rồi một ngày chợt hiểu cuộc đời quá mênh mông, phù ảo.

Thưa em, trời đất nhớ quên
Hoang vu thả xuống bóng đền đài xưa
Trái tim thắp lửa trong mưa
Cho vừa ấm lạnh cho vừa nhặt khoan
(Lời thưa)

Hay lòng chợt bồi hồi, lắng đọng khi trở về bên Thành phố xanh bên dòng sông xanh: “Cảm ơn Huế đã cho tôi những giây phút vô cùng thanh thản… / Con đường xanh lao xao tiếng nói học trò / Âm thanh dội vào lòng tôi tha thiết”.

Những ánh chớp kỷ niệm của 10 năm làm thầy giáo ở Pleiku: “Thị xã nhỏ ngỡ bàn tay em, quyến luyến / Mỗi bước chân bậc đá gập ghềnh / Gió mùa khô xoáy tròn bụi đỏ / May mà tôi nhận ra em” (Pleiku thân yêu).

Và còn đây nữa: “Ta nhớ em vô chừng / Ngựa hoang đã đứng bên mùa thu nghiệt ngã / An Khê điệp trùng cây lá / Mà trong ta nắng võ vàng” (An Khê và An Khê).

Octavio Paz trong bài Bàn về thơ cho rằng: “Khi ta đọc hay nghe một bài thơ, chúng ta không ngửi, nếm hay chạm vào ngôn từ. Tất cả những cảm giác ấy là những hình ảnh tinh thần. Để trải nghiệm một bài thơ, ta phải hiểu nó; để hiểu nó, ta phải nghe nó, nhìn nó, trầm tư cùng nó – biến nó thành một âm vang, một cái bóng, một thứ hư không. Sự hiểu bài thơ là một bài tập tinh thần”.

Cũng như thế thơ Lê Nhược Thủy là thứ thơ cần đọc chậm rãi, trải nghiệm những âm vang xao động từ cõi mơ hồ nào đó mới nhận ra vẻ đẹp lung linh của nó. Đúng như trong bài Mật thời gian Lê Nhược Thủy thú nhận: “Chỉ còn thời gian tựa dòng mật đắng / Anh xin em, uống cạn để say”.

Trần Hữu Dũng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 461

Ý Kiến bạn đọc