Truyện ngắn

Làng 1683

Mới nhọ mặt người, bà Mùa đã hỏi chồng, ông khóa cổng chưa. Khóa rồi, khóa rồi, ông nói giọng run run. Mà sao bà lúc nào cũng lo khóa cổng thế nhỉ, nhà của nả chẳng có, thằng trộm nào vào chỉ có mấy bộ quần áo cũ.

Có mỗi việc khóa cổng mà khối lần hai ông bà vặc nhau. Bà thì lo lúc tranh tối tranh sáng bọn nghiện ngập hay chớp đồ, mà cái xoong cái xô cũng là tiền của chứ ai cho không. Ông thì hay nấn ná xem thằng Vụ, thằng con trai hôm nay có về không. Sau khi bán con trâu nó mua chiếc xe máy Tàu đi làm thuê ngoài thành phố, lâu lâu có ai về lại gửi cho ông bà mấy trăm.

Kỳ này, ông mong nó về thật. Ông muốn khoe với nó số tiền nó gửi về đóng cho xóm làm đường nông thôn mới, đường đã làm xong mà nó chưa một lần được đi trên con đường đó.

Ông thương con ông, 31 tuổi đầu chứ trẻ trung gì mà nó chưa chịu lấy vợ. Nó hận con Sim nhà ông Cang xồm. Hai đứa thề bồi với nhau. Vậy mà lúc con ông đi nghĩa vụ quân sự, con Sim lại đi lấy chồng Hàn Quốc, chồng nó chỉ kém ông Cang xồm bố nó có 1 tuổi.

Nhà ông Cang xồm lúc đầu cũng cảm thấy ngượng ngùng với xóm giềng nhưng dần dần quen đi. Cái chuyện lấy chồng nước ngoài xảy ra như cơm bữa, ai hơi đâu mà quan tâm. Đèn nhà ai nhà nấy rạng. Đổi lại, con Sim đưa tiền cho ông Cang xồm xây được căn nhà 2 tầng; nhà xây theo kiểu nhà ống ở thành phố, lòng rộng có ba mét mốt, cái mái chống nóng bên trên xây thêm một cái chỏm kiểu như nhà thờ Hồi giáo, nhìn mãi rồi cũng quen mắt. Thằng em trai con Sim nghe nói đang học tiếng Hàn, sắp đi xuất khẩu lao động. Ông Mùa dần dần như cũng muốn đồng tình với xóm làng, ấy là cái lý, muốn giàu có phải đi xuất khẩu cho dù đi lao động, đi làm kỹ thuật hay đi làm Ôsin hoặc đi làm dâu thì chỉ xuất khẩu mới giàu có lên được. Mọi cái màu mỡ trong nước, các quan chức tham nhũng và các đại gia họ chia chác nhau hết rồi. Dân thường hả… Lybia, Angola, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia… nước nào cũng là một chân trời rộng mở, hội nhập và phát triển.

- Ông làm gì mà ngồi thần ra thế? – Bà Mùa cắt ngang ý nghĩ của ông bằng một câu hỏi làm ông giật mình.

Ông ngường ngượng thấy da mặt như sần sần, đúng là mình nghĩ lan man quá mà mọi ý nghĩ cũng chẳng thoát khỏi cái ăn cái mặc cái nghĩa ở đời.

Tuổi già hình như ai cũng vậy, cả nghĩ và ngại làm.

Bà vợ bị cảm. Ngẫm ra nhà ông còn may chán. Lúc này mà chưa bán trâu thì lấy ai mà chăn dắt. Ông nghĩ lại mà thương vợ. Quanh năm tứ thời, cứ chiều đến lại dắt con trâu ra gặm những đám cỏ còn sót lại trên đường. Đường nông thôn mới mở rộng đến 7 mét, xe ô tô còn tránh nhau được. Tất cả đường làng đều biến thành đường bê tông lấy đâu cỏ mà chăn trâu. Ông thay bà đem nải chuối chín cho con “Mít” cháu ngoại của ông bà. Cứ thứ bảy chủ nhật mẹ nó lại nhốt nó trong nhà để đi làm thuê, nó thẩn tha chơi với con chó con mèo loanh quanh trong mấy bức tường, nghĩ mà tủi. Ông đến cổng mà không sao vào được. Cổng khóa. Gọi mãi cháu chẳng nghe thấy. Bây giờ khổ thế đấy. Muốn đem cho cháu nải chuối, đĩa xôi phải điện trước để nó ở nhà hoặc biết đường ra mở cổng. Ông quên làm thao tác đó trước khi đi. Ông đành ngoắc nải chuối vào một thanh cổng rồi buồn rười rượi quay về. Đường làng thì rộng ra mà cổng nhà thì khép lại. Không biết rồi đây mọi người sẽ sống với nhau ra sao đây. Nhà nào có trộm cắp hoặc hỏa hoạn cũng chẳng ai đến cứu được. Mở được cửa, được cổng ra thì trộm nó chạy đến tận biên giới rồi.

Ông thấy cái ông Lê Huy Ngọ ngày còn làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp nói đúng cái ý nghĩ của ông; ông ấy nói với thầy giáo cũ của ông một cách hài hước mà cay đắng mã số nông thôn bây giờ là 1683. Ông thầy chưa hiểu hết ý nghĩa của những con số này, ông Ngọ giải thích, nông thôn bây giờ chỉ còn trẻ em (1/6) và phụ nữ (8/3). Đó là bộ mặt nông thôn bây giờ, làng ông cũng vậy.

Nhưng cũng may, nhờ cái mã số 1683 ấy mà vợ chồng ông còn giữ được ngôi nhà cấp 4 và mấy sào ruộng đến bây giờ. Chẳng là nhà ông phải thế chấp ngân hàng chính sách để vay 24 triệu đồng cho con trai đi học Cao đẳng Kinh tế, khoa Quản trị kinh doanh. Học xong 6 năm, nó đi xin việc không cơ quan nào nhận. Các cơ quan hoặc công ty họ chỉ nhận những ai có bằng đại học hoặc đủ tiền chạy chọt. Ngân hàng mấy lần có giấy báo về đòi thanh lý nhà đất của ông. Bà vợ ông sợ mất nhà lo mất ăn mất ngủ rồi đổ bệnh. Thằng con trai ông liều mạng bảo ông cứ cho ngân hàng đến thanh lý nhà đất. Nó cam đoan chẳng có ai mua nhà ở quê đâu. Thực ra, mấy ông cán bộ xã, có ông cũng muốn mua làm của cho con cháu nhưng còn sợ cái tiếng với dân làng nên cũng ngại. Thế là ông bà được ngân hàng gia hạn trả nợ 5 năm nữa. Thằng con trai ông quyết rời quê đi làm để trả nợ cho ngân hàng chính sách, cố giữ lại ngôi nhà và 4 sào ruộng, mỗi năm cho cấy rẽ thu được 2 tạ thóc đủ hai ông bà già ăn trong năm. Lắm lúc ông cứ sờ sợ mà tự thấy ngượng, thằng con trai ông đi làm mướn vớ được cô nào làm vợ, nó bỏ làng luôn, rồi ai sẽ chăm sóc ông bà lúc ốm đau, ai sẽ hương khói khi ông bà thất lộc.

Tuổi già khổ vậy, cả nghĩ và ngại làm.

Nửa đêm, nghe tiếng lao xao ở giữa xóm, ông hồ nghi bà vợ ông Cang xồm qua đời. Bà ấy bị phát hiện ung thư cách đây 5, 6 tháng. Ông lập cập lấy cái đèn nạp điện đi xem sự tình vì ông là Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi của xóm Nam Phòng này. Trước khi đi bà Mùa lại dặn ông cái chuyện khóa cổng làm ông bực cả mình. Khóa cổng. Lại khóa cổng. Của nả chỉ có mấy bộ quần áo cũ mà lúc nào cũng lo mất trộm. Ông càng thương bà. Thực ra bà ấy lo mất con chó. Bây giờ chó có giữ nhà được đâu. Bọn trộm chó không đánh bả nữa, xưa quá rồi. Nó đánh bằng suyệt điện như người ta suyệt cá. Con chó trúng kim, điện phóng từ ắc-quy chỉ kịp ẳng lên một tiếng lăn quay ra bất tỉnh, bọn trộm ôm xốc lên xe chạy bán mạng. Vì cái chuyện đó dân gian có câu vè:

Ngày xưa nuôi chó giữ nhà
Bây giờ giữ chó như là giữ con.

Ông kịp nghĩ đến vậy trong khi khóa cổng rồi bươn bả đến nhà ông bạn già, ông Cang xồm mà đáng lẽ họ đã là thông gia với nhau.

Bà Cang xồm vừa trải qua một cơn nguy kịch. Thập tử nhất sinh. Giờ tỉnh lại làm mọi người thở phào như cả xóm vừa trút được một hơi thở nặng nề. Nhìn bà con chòm xóm đứng ngồi quần tụ trong căn nhà xây, tràn cả ra sân nhà ông Cang xồm, ông Mùa thấy lòng mình như ấm thêm cái tình làng nghĩa xóm. Nhưng ngay lúc đó ông bỗng chợt nhận ra, ở đây thiếu vắng những gương mặt đàn ông, thiếu vắng các cô thiếu nữ trẻ trung, thiếu vắng những cậu thanh niên mạnh khỏe, mau mắn. Chỉ rặt những khuôn mặt đen sạm và buồn như đất. Ông bỗng nhớ cũng đận này năm trước khi đám tang đưa bà Sung ra đồng, ông xót xa thấy chỉ có mỗi một ông trung niên là ông Tư khoèo cầm chịch, còn người khênh quan tài toàn đàn bà. Những năm tổng động viên trong chống Mỹ xóm làng cũng không hiu hắt như thế này. Lúc đó vẫn còn những cô thanh niên dân quân trên đường làng, còn những cậu thanh niên yếu sức không đủ tiêu chuẩn đi chiến đấu.

Bây giờ các thành phố như khối nam châm khổng lồ hút tất cả mọi người còn sức khỏe làm ăn được bám chặt vào đó để mưu sinh, để kiếm lấy đồng tiền bát gạo. Còn ở nông thôn, như cái làng Nam Phòng của ông đây, đến cái ông Tư khoèo cầm chịch gõ phách cũng gây một ấn tượng dở khóc dở cười. Đáng lẽ dùng hai thanh tre khô gõ phía cật vào nhau để phát ra nhịp phách, nhưng mươi năm trở lại đây làng ông chẳng còn búi tre nào, đến gói tăm cũng phải mua của Đài Loan, thì kiếm đâu ra hai mảnh tre làm nhịp phách. Vì thế, ông Tư khoèo phải dùng một cái hộp bánh Danisa bằng sắt tây xem như cái trống con, còn dùi trống là chiếc gậy Tôn Ngộ Không đồ chơi của trẻ con đã hết điện để gõ nên âm thanh phát ra như tiếng sắt va nhau lúc đục lúc trong điều khiển một đám hậu sự. Sự việc đó luôn ám ảnh ông.

Bà Cang xồm đã qua cơn chết. Nhưng bà vẫn nằm không mở mắt, thỉnh thoảng cơ thể lại lên cơn giật co rúm… báo hiệu không biết sẽ đi lúc nào. Vì thế mọi người vẫn nán lại chờ xem sự tình. Mãi tới lúc mặt trời đỏ lựng phía xa, bà Cang xồm mở mắt, sắc diện dần hồng hào có lẽ đã qua cơn nguy kịch, chừng đó mọi người mới hồ hởi chào nhau, lục tục ai về nhà nấy.

Ông Mùa nán lại mấy phút an ủi ông bạn già rồi mới ra về. Đường làng ửng sáng, phẳng phiu, lác đác mấy đám trẻ đi học sớm mua xôi ăn trước khi vào lớp. Vừa đi, ông Mùa vừa bất chợt rùng mình vì một cơn gió se lạnh lướt qua làng. Lại sắp hết một năm cũ. Ông chợt nghĩ đến mùa màng, đến vụ Đông Xuân sắp tới. Bốn sào ruộng người cấy rẽ năm trước đã trả lại ông bà vì vật tư, phân bón đắt quá mà toàn là phân, thuốc giả, mất mùa liền mấy vụ. Thằng con ông ngoài phố chắc nó không về, mấy ngày trước nó còn nhắn với ông bà cứ bỏ ruộng cũng được, nó cố làm thêm ngoài giờ mươi ngày ở ngoài phố kiếm đủ gạo ông bà ăn cả năm. Tuổi già ăn được bao lăm.

Bây giờ giá có cho không cũng chẳng ai muốn nhận ruộng. Trên cánh đồng của xóm nhiều thửa đã bỏ hoang vì chủ của chúng phải xoay xỏa kiếm tiền nơi phố xá để gửi tiền về quê mua gạo cho bố mẹ và những đứa con nhỏ gửi ông bà.

Trong óc ông Mùa lại hiện lên cái mã số cay nghiệt 1683! Mà thật đấy! Ngẫm ra, xóm làng của ông bây giờ đúng là cái bức tranh 1683. Xóm ông đổi tên xóm Nam Phòng thành xóm 1683 chắc cũng chẳng ai thắc mắc, kiện cáo gì. Nó đúng là như vậy mà. Chỉ lát nữa thôi, con đường làng khang trang này cũng chỉ có trẻ con và đàn bà vội vã, hối hả đi làm những công việc muôn thuở của mình.

Còn ông. Ông già rồi. Tuổi già mà, cả nghĩ và ngại làm.

Lê Thế Thành
(P. Quang Trung, TP. Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 423

Ý Kiến bạn đọc