Thầy thuốc Văn nghệ

Làm sao trị bỏng?

Bỏng tuy là tổn thương ngoài da nhưng đôi khi trở thành trường hợp khẩn cấp đe dọa tính mạng. Nhiều người chết mỗi năm vì bị bỏng do lửa cháy. Điện và hóa chất cũng gây bỏng nặng. Nước sôi là nguyên nhân phổ biến gây bỏng ở trẻ em. Điều trị bỏng phụ thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của chấn thương. Cháy nắng và bỏng nước nhỏ thường chỉ cần điều trị tại nhà. Bỏng sâu hay lan rộng cần đi cấp cứu. Người bỏng nặng cần điều trị tại trung tâm chuyên khoa bỏng và phẫu thuật ghép da để che vết thương lớn hay ngăn ngừa sẹo khi có vết thương sâu. 

Tùy theo tổn thương nông hay sâu, thầy thuốc chia bỏng ra 3 cấp độ. Bỏng độ một ảnh hưởng đến lớp ngoài của da gây mẩn đỏ, sưng đau, chỉ cần chữa trong vòng vài ngày đến một tuần là hết. Cháy nắng là ví dụ điển hình bỏng độ một. Bỏng độ hai ảnh hưởng đến lớp dưới da gây đỏ đau, sưng tấy và có mụn nước. Bỏng độ hai sâu gây ra sẹo. Bỏng độ ba ảnh hưởng tới lớp mỡ và thần kinh dưới da khiến khu vực bỏng cháy đen, tổn thương thần kinh, gây sẹo co rút. Nhiều thứ gây bỏng bao gồm lửa, chất lỏng sôi hay hơi nước, kim loại nóng, dòng điện, bức xạ X-quang hay xạ trị ung thư, ánh sáng mặt trời hay tia cực tím, hóa chất acid hay kiềm. Bỏng sâu dẫn đến nhiều biến chứng như nhiễm trùng da và nhiễm trùng huyết đe dọa tính mạng vì gây sốc và suy đa cơ quan. Bỏng làm hỏng mạch máu gây thất thoát huyết tương dẫn đến giảm khối lượng máu và trụy tim mạch. Da giúp kiểm soát nhiệt độ của cơ thể nên khi da bị bỏng, nhiệt độ cơ thể giảm gây lạnh run và tụt huyết áp. Bỏng sâu gây sẹo xấu, nhất là sẹo lồi và sẹo co rút. Bỏng sâu về lâu dài cũng hạn chế chuyển động của các khớp xương. Trong khi khám bệnh, thầy thuốc kiểm tra da bị bỏng và diện tích bề mặt cơ thể bị bỏng. Người ta thường tính diện tích bị bỏng theo Luật số 9 của Wallace như sau:

- Đầu mặt và cổ chiếm 9%.

- Một tay chiếm 9%.

- Thân trước bao gồm ngực và bụng chiếm 9×2 bằng 18%.

- Thân sau bao gồm lưng và mông chiếm 9×2 bằng 18%.

- Một chân chiếm 9×2 bằng 18%.

- Một đùi chiếm 9%.

- Cẳng chân và bàn chân chiếm 9%. Hiệp hội bỏng Mỹ định nghĩa bỏng nặng là khi bỏng chiếm 25% tổng diện tích bề mặt cơ thể hay bất kỳ bỏng nào xảy ra ở vùng mắt, tai, mặt, tay, chân và háng. Thầy thuốc cũng kiểm tra các thương tích khác ảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể và cho xét nghiệm, X-quang hay làm các thủ thuật cần thiết.

Điều trị bỏng phụ thuộc vào mức độ chấn thương. Hầu hết bỏng nhẹ chỉ cần trị tại nhà trong vòng một vài tuần. Đối với bỏng nặng, sau khi sơ cứu, thầy thuốc cho thuốc men, băng bó vết thương và phẫu thuật. Mục tiêu điều trị là kiểm soát cơn đau, loại bỏ mô chết, ngăn ngừa nhiễm trùng, giảm sẹo xấu và phục hồi chức năng. Đối với bỏng lớn, cần truyền dịch để tránh mất nước. Đôi khi cần dùng thuốc giảm đau mạnh như morphin và thuốc chống lo âu. Nên kết hợp kem, thuốc mỡ và kháng sinh để giữ cho vết thương ẩm, giảm đau và ngăn ngừa nhiễm trùng. Nếu khu vực bỏng lớn, người bệnh cần tập theo các bài tập vật lý trị liệu giúp da căng và khớp xương dẻo dai. Ghép da là thủ thuật lấy phần da khỏe mạnh thay thế các mô sẹo do bỏng sâu. Phẫu thuật thẩm mỹ làm mất vết sẹo xấu và tăng tính linh hoạt của khớp xương.

Bs. Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

Ý Kiến bạn đọc