Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Làm một nhà thơ cũng đủ lắm rồi!

(Kính gửi GS. Phong Lê – Nguyên Viện trưởng Viện Văn học)

 

Có giai thoại hay về Viện Văn học thời nhà thơ Hoàng Trung Thông làm Viện trưởng.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông được cử về làm Viện trưởng Viện Văn học kể vừa ấm chỗ thì có người gợi ý làm thủ tục để phong hàm Giáo sư cho nó đồng bộ qui trình, phàm là Viện trưởng… Nhưng ông khẳng khái trả lời: Tôi là nhà thơ. Làm một nhà thơ cũng đủ lắm rồi! Ông vừa làm nhà thơ vừa làm nhà Viện trưởng, hai vai vẫn vững mọi chuyện. Hồi đó còn bao cấp, khó khăn lắm. Lương lĩnh có kì, nhuận bút lại thất thường nhưng rượu thì cứ phải đều đặn mỗi ngày hai cuộc. Nên ông phải uống… ghi vách. Buổi sáng ông thường ngồi ở quán 91, hay 101, 111 Bà Triệu, lâu ngày không nhớ chính xác. Ông uống chậm rãi. Lời ra nhiều hơn rượu vào. Cứ rót một chén (li – theo tiếng Nam bộ), bà chủ quán lại lấy cục phấn vạch lên vách một vạch. Đến kì lương, bà nhắc khéo ông bao nhiêu vạch. Đang háo chuyện mà ngồi với ông thì thật sướng. Nhưng đang vội, tranh thủ làm vài tộp mà gặp ông thì… khó nói quá. Ông cứ chậm rãi đều đều, không dứt ra được. Ông hút điếu thuốc lào phải mấy lần châm đóm. Không biết ông làm thơ, làm việc Viện trưởng vào lúc nào mà hay thế. Vừa làm túy ông, vừa làm thi sĩ, vừa làm sự vụ quản lí đến hàm Viện trưởng mà cứ như người vô sự. Rất khác với một Giáo sư Viện trưởng kế nhiệm ông sau này. Đi đâu cũng không rời cái cặp to đùng. Ngồi vào là giở ra, lục lọi như đào vàng. Mà nói thì như lệnh vỡ. Phát biểu bài nào hùng hồn bài đó. May mà mới chỉ hùng hồn ở lời nói.

Nhưng mà Cụ Hoàng Trung Thông nói đúng. Hóa ra làm nhà thơ khó hơn, khó gấp bội làm nhà Viện trưởng. Đọc bài báo của Hồng Diệu trên Văn hóa Văn nghệ Công an số 423, ngày 6-12-2018 càng thấy rõ điều đó. Bài Một nhận định sai về thơ Việt Nam hiện đại, trang 16. Ấy là trong cuộc Hội thảo Kỉ niệm 10 năm ngày mất của nhà phê bình Hoài Thanh và 50 năm ra đời quyển Thi nhân Việt Nam, được tổ chức ở Viện Văn học, ngày 27-3-1992. Giáo sư Phong Lê, Viện trưởng Viện Văn học, trong bài Đề dẫn, có đoạn: “Suốt gần 40 năm qua, nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một bài buồn” (Bài Đề dẫn đã đăng trên Tạp chí Văn học số 3, tháng 5-6 năm 1992).

Sau đó, nhà thơ Hồng Diệu có bài phản biện trên Văn nghệ Quân đội số tháng 12-1992, dẫn ra một bài thơ rất buồn nhưng rất hay của Hoàng Hữu: Hai nửa vầng trăng. Còn một số bài nữa nhưng ông thấy chưa cần dẫn ra. Hai nửa vầng trăng là bài thơ hay, được chọn vào các tuyển tập, đến nay vẫn còn nhiều lời bình. Hoàng Hữu là nhà thơ, cũng là họa sĩ có phong cách, một người đa tài. Xem cái bìa quyển Truyện Kiều, bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học – 1979, đã thấy hấp dẫn, mời gọi lắm. Hồi đó NXB Văn học cố vận động xin Hoàng Hữu về lo phần trình bày sách mà bìa sách là quan trọng nhất. Nhưng Ty Văn hóa Vĩnh Phú không chịu “nhả ra”. Hoàng Hữu bị bệnh tim. Anh qua đời khi còn trẻ lắm. Khoảng 1999, chúng tôi được mời lên dự lễ tưởng niệm ngày mất của Hoàng Hữu. Bạn bè nhớ về anh với tình cảm sâu nặng, thương tiếc một con người tài hoa bạc phận…

Trở lại chuyện thơ buồn. Hồng Diệu cho biết, sau bài báo của ông trên Văn nghệ Quân đội, không thấy GS. Phong Lê có hồi âm gì. Bẵng đi, đến 1995, trong quyển “Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, bài Đề dẫn của GS. Phong Lê được “điều chỉnh” như sau: “Suốt hơn 30 năm qua, tính từ sau năm 1945, nền thơ ca chính thống của ta hiếm có lấy một bài buồn – cái buồn riêng của cá nhân”.

Có ba chỗ được điều chỉnh là:

- “Suốt gần 40 năm qua” thành “Suốt hơn 30 năm qua”.

- Có thêm: “tính từ sau 1945”.

- “Không có lấy một bài buồn” thành “hiếm có lấy một bài buồn – cái buồn riêng của cá nhân”.

Ông Hồng Diệu nói rất đúng: Có điều chỉnh mà không có sửa chữa gì. Không có đến hiếm có thì chỉ là thay đổi cách nói mà không thay đổi nội dung, chỉ là dịu giọng khẳng định xuống giả định. Hiếm có cũng như hiếm muộn, chưa phải là vô sinh hay tuyệt vô sinh nở, còn có thể điều trị, chạy chữa được. Xem GS. Phong Lê có “chạy chữa” gì không? Có, nhưng là lành sửa què. Hoặc là đã què thành cụt. Chính là mấy chữ cái buồn riêng của cá nhân. Chỉ thêm có 6 từ mà bộc lộ cả quan niệm nghệ thuật, một quan niệm khá là ấu trĩ về thơ nói riêng và nghệ thuật văn chương nói chung. Vì, với thơ thì không có nỗi buồn riêng của cá nhân đâu. Bởi vì nỗi buồn riêng của cá nhân nhà thơ có thể chôn sâu vào đáy lòng, sống để bụng chết mang đi, như tâm sự của GS. Đào Duy Anh khi người bạn tri âm tri kỉ, bạn tâm giao, là nhà sử học – nhà cách mạng Tôn Quang Phiệt qua đời (Tôn Quang Phiệt 1900-1973. Quyển II, tập 2. Tr.708. NXB Văn học – 2014).

Cái buồn cá nhân khi trở thành thơ thì không còn là riêng của cá nhân nữa mà đã thành tâm trạng xã hội, được xã hội, hay bạn đọc, đồng cảm, chia sẻ. Trước khi cái buồn của cá nhân cất lên thành lời thơ thì cái buồn đó, tâm trạng đó đã có ở người này người kia, đã có trong xã hội. Tiếng lòng của nhà thơ sẽ được cảm ứng, cộng hưởng, tương ứng tương cầu trong bạn đọc. Giá trị của nghệ thuật chính là ở đó. Nhà nghiên cứu Hồng Diệu đã nói rất rõ: “… tôi cho chúng (những bài thơ buồn) vừa mang “cái buồn riêng của cá nhân” vừa nói được cái buồn chung của con người, mà cái vế sau này mới là cái đích cuối cùng của thơ” (Một nhận định sai… Bđd. Trg.16).

Như vậy, luận điểm của GS. Phong Lê rằng “thơ ca chính thống của ta (sau 1945) không có hay hiếm có một bài buồn – cái buồn của cá nhân nhà thơ, phải được qui chiếu vào hai vấn đề sau:

- Phải đọc, hay nói theo ngôn ngữ của khoa học văn học hay khoa nghiên cứu văn học là phải tiếp cận, chiếm lĩnh được nền thi ca chính thống mới nói được câu đó.

- Phải có quan niệm đúng về nghệ thuật mới thấy ra hay không thấy ra thơ buồn thơ vui.

Khi đưa ra luận điểm nhà khoa học phải có sở cứ. Sở cứ phải có là nền thơ ca chính thống của ta từ sau 1945 cho đến thời điểm GS đưa ra luận điểm (1992).

Vậy GS. Phong Lê tiếp cận, chiếm lĩnh nền thơ ca đó đến đâu? Chắc chắn là GS. Phong Lê có đọc ít nhiều và cái phần GS đọc được, theo nhãn quan hay góc độ hay cái nhìn của GS là hiếm có, tức là chưa có một bài thơ buồn.

Điều này là có thể có vì cái phần GS. Phong Lê đọc được, có thể chẳng có bài buồn nào cả. Có khi nó nằm ở phần còn lại. Là cái phần GS chưa đọc, chưa tiếp cận, chiếm lĩnh.

Nền thơ ca (chính thống) là tập hợp những tác phẩm tác giả tiêu biểu, theo quan điểm chính thống. Giới nghiên cứu văn học đã định hình được, qua các tuyển tập thơ, từ tác giả cho đến thời kỳ. Chẳng hạn các Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-1960; 1945-1975; hoặc Thơ Việt Nam thế kỷ XX, nhất là Toàn tập và Tuyển tập của các tác giả và các dạng Tuyển chọn của một tác giả hay nhiều tác giả.

Như vậy, về tư liệu là không thiếu. Cái thiếu là ở người nghiên cứu. Tức là GS. Phong Lê tiếp cận hay chiếm lĩnh được rất ít nền thơ ca này. Nghĩa là, có những bài thơ buồn nhưng GS. Phong Lê chưa đọc đến.

Nhưng điều này rất vô lí. Vì:

- Một nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, hàm Giáo sư, không thể không biết được diện mạo cơ bản của nền văn học này, cả thơ và văn xuôi và các thể loại khác như kịch, lí luận – phê bình, nghiên cứu… Bởi vì, rất đơn giản, không có những tri thức cơ bản như thế, sao lại được phong hàm Giáo sư. Còn nếu có, chỉ có thể là do, như thực trạng thừa Tiến sĩ thiếu kẻ sĩ (Đỗ Trung Lai) hay thừa thầy thiếu thợ, hay là nhiều Giáo ít sư (Tôn sư trọng đạo. Sư theo nghĩa Nhất tự vi sư bán tự vi sư). Mà sâu xa và thực tế hơn, không có những tri thức cơ bản như thế thì GS sẽ hành nghề Giáo sư như thế nào được.

- Viện trưởng Viện Văn học thì phải là Giáo sư thực thụ đủ sức nghiên cứu giảng dạy và cao hơn, lãnh đạo được hoạt động của Viện đó. Nếu biết quá ít về nền văn học nói chung và nền thơ truyền thống nói riêng thì làm sao lãnh đạo được công việc nghiên cứu thơ của Viện. Mà Viện Văn học là một trung tâm khoa học lớn nhất quốc gia về chuyên ngành này. Nếu đúng ra phải gọi là Viện Hàn lâm Văn học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam.

Vậy thì nguyên nhân còn lại là ở quan niệm nghệ thuật – ở đây là nghệ thuật THƠ – của GS. Phong Lê: Cái buồn riêng của cá nhân. Ở đây là cá nhân nhà thơ. Đi tìm cái buồn riêng của cá nhân nhà thơ trong những bài thơ đã được công bố (xã hội hóa) là điều độc đáo vô cùng phi lí. Nghĩa là đi tìm cái không thể có. Nỗi buồn riêng của cá nhân nhà thơ cũng như của mọi người, ai cũng có cả. Nhưng một khi nhà thơ đã công bố, chia sẻ, xã hội hóa thì không còn là của riêng cá nhân nhà thơ nữa. Và chỉ những cái riêng có ý nghĩa nhân sinh thế sự mới chia sẻ với bạn đọc được, mới trở thành nghệ thuật được. Có nhà thơ viết “Sau đêm ấy vợ tôi có chửa” (Nadim Hitmet), nhưng chưa thấy nhà thơ nào viết “Sau đêm ấy tôi bị cắm sừng”. Tại sao cái buồn của riêng cá nhân nhà thơ lại trở thành thơ? Cái buồn riêng ai bằng Trần Tử Ngang đời Đường mà thành thơ muôn đời, đại ý: Nhìn trước không thấy người sắp đến. Ngoảnh lại không thấy kẻ đã qua. Nhìn trời đất thật vô cùng. Ngẫm một mình mà rơi lệ. Khi Giang Nam “chết nửa con người” (Quê hương) thì có còn là của riêng Giang Nam nữa không? Cũng như thế, tâm sự của Vũ Cao trong Núi Đôi có buồn không? Có còn là của riêng cá nhân Vũ Cao nữa không?

Để phản biện GS. Phong Lê, Hồng Diệu đã đưa ra nhiều cứ liệu chắc chắn, có sức thuyết phục. Đó là bài Hai nửa vầng trăng của Hoàng Hữu; Không nói của Nguyễn Đình Thi (1948); Đêm sao sáng của Nguyễn Bính (1957); Em ở đâu? (1957) và Con đường (1962) của Tế Hanh; Xuân Diệu có khá nhiều bài thơ buồn, Hồng Diệu mới chỉ dẫn 2 bài: Hỏi (1957) và Cái dằm (1961); Quang Dũng có bài Chiều núi mưa rào (1972)… và chắc chắn còn nhiều nữa. Tôi hiểu ý sâu xa của Hồng Diệu. Ông dẫn những bài mà những nhà nghiên cứu “qua loa” thường ít quan tâm, tức là chưa đọc đến! Thôi thì bận quá, chưa đọc hết. Ừ, thì thể tất. Nhớ là phải đọc nghiêm túc. Vâng ạ! Để em rút kinh nghiệm. Còn những bài dường như nằm lòng trong nhiều thế hệ bạn đọc như Màu tím hoa sim (Hữu Loan, trước 1954); Tây Tiến (Quang Dũng, trước 1954); Quê hương (Giang Nam, sau 1954); Núi Đôi (Vũ Cao, sau 1954)… thì sao? Đây mới là câu hỏi ngầm ý tại ngôn ngoại dành cho bạn đọc suy nghĩ tiếp nhưng là chí tử đối với GS. Phong Lê. Không thể nói tôi chưa đọc đến. Chưa đọc đến những bài đó thì còn Sư trưởng Sư phó nỗi gì! Có khác gì một người tự hào là Hà Nội gốc, nhà ở trung tâm mà không biết Hồ Gươm nó nằm ở chỗ nào! Nhất định GS. Phong Lê phải biết những bài thơ này. Biết, nhưng lại không nhận nó là vui hay buồn. Thế mới oái oăm. Đây là chỗ thâm thúy của nhà nghiên cứu Hồng Diệu. Chỉ hé lộ, không nói hết. Hàm tiếu thôi, không toe toét! Đến đây buộc GS. Phong Lê phải lựa chọn hai lối tẩu vi nhưng lối nào cũng có hố tử thần.

- Chưa đọc đến. Như đã nói, là không thể chấp nhận được đối với một nhà nghiên cứu hàm Giáo sư.

- Có đọc nhưng không thừa nhận đấy là những bài buồn. Vì đấy là buồn sử thi, buồn tích cực, buồn “minh họa chính trị”… chưa phải cái buồn riêng của cá nhân. Cũng không chấp nhận được. Quan niệm như thế thì không còn là nghệ thuật, là thơ nữa. Thì không nên nghiên cứu văn học, không thể nghiên cứu văn học. Nhưng như vậy lại rất vô lí đối với một vị Giáo sư – Viện trưởng Viện Văn học.

Vậy thì tẩu vi lối nào? Hồng Diệu có hé ra nhưng còn e ấp, ở đoạn này:

“Trong câu nói trên của GS. Phong Lê, người ta thấy rõ dụng ý (C.G nhấn mạnh) phàn nàn, chê trách trong văn học Việt Nam hiện đại (ai?) đã để xảy ra tình trạng nghèo nàn, đơn điệu – ít nhất là của thơ. Một câu nói tưởng bình thường mà có ý nghĩa đặc biệt: đánh giá cả một nền văn học!” (Bđd. Trg.16).

Đây chính là nguồn gốc của vấn đề. Ngay từ đầu Đổi Mới, các nhà tiên phong đổi mới đã ầm ĩ lên rằng văn học cách mạng sau 1945 chỉ là phụ thuộc chính trị, là nữ học đồng phục, thậm chí đến gần đây GS. Trần Đình Sử vẫn gọi là văn học đồng phục… GS. Phong Lê hồi đó còn đi xa hơn. Cho cái ác là trường tồn. Phải chung sống với cái ác… Thơ không có bài buồn, không có nỗi buồn… tức là con người, xã hội đó không còn là con người – xã hội người nữa. Là con người bị chính trị hóa rồi. Chỉ có đấu tranh (giai cấp) quyết thắng xông lên, nhất hô bá… chấp hành như đoàn binh như trại lính. Không có nỗi buồn. Không biết buồn. Không được buồn, không được “ủy mị tiểu tư sản”…

Luận điểm của GS. Phong Lê nếu phản ánh đúng thực tiễn của nền thơ này thì nó có sức mạnh vĩ đại. Đương nhiên là phải xóa đi, làm lại. Phải vĩnh viễn cho vào kho quá khứ. Nhưng cái lão Hồng Diệu nó… Nó đánh sập lâu đài lí luận của Giáo sư. Nó đưa ra sở cứ, làm cho GS có khi phải lấy câu Sắc sắc không không (Sắc bất dị không không bất dị sắc sắc tức thị không không tức thị sắc…) mà độ nhật.

Thương GS quá! Tuổi già mọi sự như sương. Hơi đâu tranh luận… với lão Hồng Diệu. Nhưng mà kinh nghiệm lắm GS ạ! Giáo sư muốn thay đổi cả thế giới này cũng được. Càng tốt. Nhưng phải đứng trên đôi chân của mình bám chặt vào cuộc đời mới có sức mạnh, thì muôn vàn Hồng Diệu có đáng gì! Giá hôm ấy (27-3-1992), GS khiêm nhường đọc Lời khai mạc cảm ơn Đại biểu chúc mừng Hội thảo, để cái nền thơ ca chính thống và những bài thơ buồn cho đám chuyên gia tin cậy về lĩnh vực này thì ít ra cũng là người biết làm Viện trưởng, có phải hay hơn không! Vì sở trường, vương quốc của GS là ở văn xuôi. Là các Ma Văn Kháng. Đâu phải là các Xuân Diệu. Công trình đầu tiên của GS sau mấy năm về Viện Văn học – nếu tôi không nhớ nhầm – là “Văn xuôi Việt Nam 1945-1970” mà tư tưởng cơ bản toát lên là nhiều dòng chung hướng. Sau này với những “Trên chặng đường…”, “Trên hành trình…”, “Hành trình…” là tiếp theo cái mạch ấy.

Mà sao GS không theo gương cố Viện phó Hoài Thanh hồi âm cho Hồng Diệu, có phải mọi bề đều vui không. Cụ Hoài Thanh tỏ ra rất khiêm tốn, cầu thị, dân chủ, văn hóa qua việc hồi âm cho Hồng Diệu khi Hồng Diệu có lời nhận xét về quyển sách của Cụ, quyển Chuyện thơ… Đây là một đoạn trong thư của Cụ Hoài gửi từ TP. Hồ Chí Minh:

“Tôi vừa đọc bài viết của anh đăng trên tạp chí Văn học về quyển Chuyện thơ… Đó là một bài viết có tình và có nhiều nhận xét tinh tế. Bài viết của anh khiến tôi vừa cảm động, vừa vui. Rất cảm ơn anh… Nhưng tôi muốn nói thêm với anh điều này…” (Chuyện thơ 2. Hồng Diệu. NXB QĐND – 2019. Trg.74).

Giá mà trong giới cầm bút đều được như Cố Viện phó Viện Văn học Hoài Thanh và Cố Viện trưởng Hoàng Trung Thông thì mọi sự đã hanh thông lắm. Vì thế chúng tôi – Hồng Diệu và Quan Văn Đàn – rất mong được Giáo sư hồi âm.

Hà Nội, 5-4-2019

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 546

Ý Kiến bạn đọc