Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Lạm bàn việc học chữ Hán

Nhiều ngày gần đây, trên báo chí và mạng xã hội có khá nhiều bài viết, ý kiến sau khi Phó giáo sư – Tiến sĩ Đoàn Lê Giang phổ biến ý tưởng nên phục hồi việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông, tôi là một người không ưa lắm “chuyện thị phi”, nhưng đọc nhiều, nghe nhiều lại thấy “ngứa con mắt, ngứa lỗ tai” đành phải có vài ý kiến tham gia vào chuyện thị phi này vừa là cho vui, vừa là góp phần bảo vệ cái đúng, cái cần thiết cho xã hội theo suy nghĩ có phần nông cạn của mình chứ không dám cho rằng mình đúng như nhiều người đã khẳng định khi viết để bênh vực hay phản bác Đoàn Lê Giang.

Đoàn Lê Giang là Phó giáo sư – Tiến sĩ Hán Nôm, việc ông có nhiều tâm huyết cho bộ môn này là điều đúng và đáng trân trọng; việc ông cho rằng cần phải phục hồi dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam ta cũng là một ý tưởng hay dưới góc độ một nhà khoa học, nhưng đó có phải là biện pháp duy nhất đúng để “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” và “giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa” của các dân tộc Việt Nam, nối liền truyền thống văn hóa của cha ông ta ngày xưa đến nay hay không là chuyện nên bàn, cần bàn, bàn một cách thẳng thắn trên tinh thần khoa học chứ không nên “chụp mũ”, định kiến, xúc phạm người đưa ra ý tưởng, vì như thế là phản khoa học nếu không dùng những từ nặng nề hơn.

Anh-minh-hoa---Lam-ban-viec-hoc-chu-Han

Đoàn Lê Giang cũng đã có bài viết trên mạng khép lại cuộc tranh luận này, nhưng không dễ dàng mà khép được bởi người đồng tình, ủng hộ việc đưa chữ Hán vào nhà trường phổ thông còn khá đông, mà người phản bác thì cũng không ít. Thôi thì chúng ta loại những người hời hợt để đi đến chỗ “Cùng kỳ lý” xem sao, bởi tranh luận cũng là một biện pháp để “Trí kỳ tri” vậy.

Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay có rất nhiều người nói và viết mà không hiểu hết hoặc hiểu sai nghĩa từ mình dùng, cả những người chuyên hoạt động trên lĩnh vực viết lách, văn chương, chữ nghĩa, sinh viên đại học ra trường được gọi là “ông cử, bà cử” mà viết còn sai chính tả, văn phạm huống hồ là từ Hán Việt, nhưng như ông bà ta có câu “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”, không hiểu nghĩa mà hay dùng nên lộ cái “dốt” của mình ra. Không dẫn chứng thì chắc ai cũng biết những cái sai ấy ở chỗ nào. Dẫn ra e đụng chạm không hay.

Nguyên nhân căn bản của sự sai sót ấy trước hết là ở nhà trường phổ thông. Nhưng nói như thế cũng có phần chưa chính xác, khi con tôi học lớp ba, có lần tôi bảo cháu đưa tay cho tôi xem, cháu hỏi lại “tay hay tai” phát âm khá rõ ràng, rồi tôi đọc sách Tiếng Việt trong chương trình phổ thông trung học thì thấy cũng khá đầy đủ, thậm chí học cả mấy bài thơ Đường. Vậy thì do đâu cũng rất khó nói.

Nói rằng phải học chữ Hán mới giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt được thì e rằng hơi cực đoan, bởi theo tôi biết, trong lời ăn tiếng nói của người Việt ta hàng ngày sử dụng khá nhiều từ tưởng chừng như từ Hán, nhưng ngữ nghĩa thì hoàn toàn là Việt, bất quá chỉ có thể viết từ đó, chữ đó bằng chữ Hán mà thôi, thí dụ như: Thành phố, sở dĩ, bất quá, vô cùng, trường học, quần, đầu, trị tội, hàng hiệu, tiến sĩ, bằng cấp, học vấn, thi cử… Có thể nói 60, 70% từ ngữ Việt có thể viết bằng chữ Hán là không sai, nhưng 60, 70% ấy có phải là gốc Hán hay không thì cần phải nghiên cứu lại, hay là đó chỉ là sự trùng hợp mà thôi, bởi “chữ” và “từ” có sự phân biệt nhất định. Người Quảng, người Tiều, người Triều Tiên, người Nhật, người Tày, người Dao… cũng mượn chữ Hán để đọc bằng ngôn ngữ của dân tộc mình chứ đâu phải nhờ có chữ Hán mới có tiếng nói của dân tộc. Tôi nghĩ người Việt, tiếng Việt cũng không ngoại lệ. Trong quá trình phát triển ngôn ngữ của một dân tộc có thể có sự biến đổi, có sự vay mượn và cũng có sự giao thoa giữa các dân tộc gần gũi với nhau mà không cần dẫn chứng thì ai cũng có thể biết được. Ngay trong tiếng Việt của chúng ta cũng có thổ âm, thổ ngữ của từng vùng, rõ nhất là ở các tỉnh Bắc Trung bộ, còn tiếng Việt phổ thông, chữ quốc ngữ đã có sự thống nhất dùng cho cả nước mà ai đọc cũng hiểu.

Tiếng Việt của chúng ta có khả năng biểu đạt rất cao, dĩ nhiên trong đó cũng có những chữ, những từ có thể viết bằng chữ Hán và ý nghĩa của chữ và từ trùng khít với cách hiểu của người Tàu. Khi đọc bài “Thu điếu”, một tuyệt tác của Nguyễn Khuyến, ta thấy tác giả dùng toàn tiếng Việt, chỉ trừ một chữ “trúc” trong câu “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” là có thể viết bằng chữ Hán, nhưng trong chữ Hán thì tre hay trúc đều viết là trúc (竹), còn trong tiếng Việt ta thì tre khác với trúc. Chắc chắn vị “Tam nguyên Yên Đỗ” này rất giỏi chữ Hán nhưng ông không dùng từ Hán hay Hán-Việt trong bài thơ này chứng tỏ tiếng Việt của chúng ta đâu có kém cạnh gì ai. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là phải học, phải hiểu càng sâu càng tốt tiếng Việt để sử dụng cho đúng lúc, đúng nơi, đồng thời cũng phải biết ngữ nghĩa của những từ gọi là Hán-Việt để đọc hiểu các văn bản xưa của cha ông (văn bản phiên âm), hiểu các giá trị truyền thống qua các câu nói, răn dạy của người xưa về đạo lý làm người, xử thế, ăn ở hằng ngày, bên cạnh đó là ứng dụng các từ “Hán-Việt” trong văn nói và văn viết cho chuẩn, thế cũng là tốt lắm rồi, mà để đạt được trình độ đó cũng không dễ dàng gì đâu.

Còn nói về chữ Hán (tự dạng) – xin được không nhắc lại về lịch sử ra đời và phát triển – có lẽ ai cũng công nhận rằng đó là một thứ chữ đẹp về mặt hình thức, có giá trị rất cao, thậm chí không ít chữ còn chứa cả triết lý của một số dân tộc Đông phương. Học chữ Hán là việc nên làm, cần làm đối với những người yêu thích, học càng sâu càng tốt, nếu có chút năng khiếu và đam mê thì rèn luyện chữ viết bằng bút lông, tập thư pháp cũng là một cách giúp cho người thực hành bình tâm, tỉnh trí, lại còn có tác dụng dưỡng sinh, rèn luyện thể lực không kém gì các bộ môn dưỡng sinh mà hiện nhiều người đang thực hiện (như đi bộ, tập võ dưỡng sinh chẳng hạn). Mỗi bức thư pháp là một tác phẩm nghệ thuật, mà hơn thế là tác phẩm ấy còn biểu hiện cả cái gọi là “tinh, khí, thần” của tác giả. Nên học và nên làm lắm chứ.

Trở lại chuyện có nên đưa chữ Hán vào nhà trường phổ thông như một bộ môn bắt buộc hay không, thì theo cá nhân tôi là không nên bởi các lý do sau:

- Chương trình học tập của các em hiện nay nặng lắm rồi. Không nên trách những người có trách nhiệm, bởi muốn theo kịp với nền văn minh hiện đại thì phải học những bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên thôi, không có cách nào khác, chỉ có điều nên nghiên cứu chương trình và thực hiện chương trình thế nào để “giảm tải”cho các em, chứ nhồi nhét riết rồi các em trở thành những “con gà công nghiệp” thì hư chuyện hết. Bắt các em học thêm một thứ chữ nữa thì tội cho các em lắm.

- Chúng ta có thể làm cho các em sử dụng tốt tiếng Việt và từ Hán-Việt trong môn văn, nhất là cổ văn, loại văn bản có nhiều từ Hán-Việt, thầy cô cần giải thích cặn kẽ nghĩa của từng từ để các em hiểu và sử dụng. Thế hệ chúng tôi ngày trước cũng đâu được học chữ Hán trong trường phổ thông mà viết và nói tiếng Việt (có sử dụng từ Hán-Việt) đâu có sai nhiều. Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên… là những tác phẩm có rất nhiều từ Hán-Việt, hiểu cho hết cũng được gọi là tạm dùng.

- Không nhất thiết biết mặt chữ Hán mới hiểu nghĩa và sử dụng đúng từ Hán-Việt. Như phần trên đã nói, từ Hán-Việt là một bộ phận của tiếng Việt, tôi biết có những người dân bình thường, học rất ít, thậm chí không biết chữ (một số người lớn tuổi giữa thế kỷ XX) đọc thuộc lòng Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, nhiều câu ca dao, tục ngữ, họ sử dụng rất chuẩn những từ mà ta gọi là Hán-Việt trong ngôn ngữ hàng ngày.

Nhưng, đối với những người làm công việc có liên quan đến chữ nghĩa, là thầy cô giáo, nhất là giáo viên dạy văn thì rất cần phải học chữ Hán để có thể giải thích từ cho học sinh. Tôi cũng biết là trong chương trình đại học Văn, sư phạm Văn phải học 200 tiết chữ Hán, tôi cũng đọc được giáo trình chữ Hán của đại học thì thấy không phải là không cơ bản, học cho đàng hoàng thì có thể phục vụ tốt cho công tác giảng dạy của mình. Chỉ tiếc là hầu hết sinh viên khoa Văn của đại học ta học chữ Hán để “trả nợ”, sau khi ra trường thì chữ trả lại cho thầy chứ không sử dụng được.

Có điều chúng tôi khá băn khoăn là chúng ta dạy cho học sinh những bài thơ Đường, Nhật ký trong tù, bài thơ Nguyên Tiêu của Bác Hồ nhưng lại dạy theo bản dịch của ai đó nên người tiếp thu không thể nào thấy hết cái hay, cái đẹp của những vần thơ chữ Hán. Bác viết: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự” mà học sinh được học là “Giữa dòng bàn bạc việc quân” thì mất hết cái thần của câu thơ.

Còn vấn đề vốn văn hóa truyền thống của dân tộc hàng ngàn năm được ghi lại bằng chữ Hán, chữ Nôm thì phải làm sao? Theo tôi nghĩ, đó là trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan chuyên môn, của những người như PGS-TS Đoàn Lê Giang và đồng nghiệp, chúng ta phải sưu tầm, nghiên cứu, phiên âm, dịch nghĩa cho thật chính xác (và hay) để nhân dân ta tiếp cận. Những câu đối, hoành phi ở đình chùa, miếu mạo cũng cần có phiên âm đính bên dưới cho người đến viếng đọc cũng được, họ thưởng thức nét chữ chạm khắc đồng thời biết được ý nghĩa qua bản chú chứ không nhất thiết đọc chữ Hán.

Đôi dòng gọi là lạm bàn bởi kiến thức còn hạn hẹp lại có thể có phần chủ quan, nếu có gì không đúng xin các bậc thức giả chỉ giáo.

Anh-minh-hoa---Nam-quoc-son-ha

Nam Quốc Sơn Hà

Phiên âm Hán – Việt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ của Lê Thước – Nam Trân:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Trương Thanh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 420

Ý Kiến bạn đọc