Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Lại viết về Phan Thanh Giản

Sở dĩ tôi đặt nhan đề bài viết như vậy là vì hơn 10 năm qua đã có quá nhiều bài viết về nhân vật Phan Thanh Giản rồi, trong đó có một số bài viết của tôi. Còn trước đó thì tài liệu về nhân vật nầy cũng không thiếu nhưng mới đây lại xuất hiện bài viết của tác giả Ngô Minh có nhan đề “Minh tinh chín chữ lòng son tạc” (một câu trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) trên báo An ninh Thế giới, số 195 tháng 11/2017. Trong bài, tác giả Ngô Minh đã dẫn lại kết luận của Viện Sử học (không có ngày tháng nên không rõ thời điểm ra đời của kết luận nầy) như sau: “Với nhận thức mới trên quan điểm lịch sử cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau”. Và tác giả Ngô Minh cho rằng: “Đó là sự phán quyết công bằng. Như vậy cụ Phan Thanh Giản đã được giải oan sau gần 150 năm mang tiếng bán nước”.

Để chứng minh cho nhận thức của mình, tác giả Ngô Minh đã dẫn ra hai cứ liệu: một câu thơ trong bài thơ chữ Nôm của cụ Nguyễn Đình Chiểu điếu Phan Thanh Giản (Minh tinh chín chữ lòng son tạc) và một phần của câu 30 trong bài Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (Phan học sĩ hết lòng mưu quốc). Tác giả Ngô Minh cho rằng đó chính là “quan niệm của đồng bào Nam bộ lại khác với nhiều chính thể” sau khi đã dẫn lời của vua Tự Đức: “Xét phải tội chết, chưa đủ che được tội” và “Truy đoạt lại chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậu”. Tác giả Ngô Minh cũng dẫn lại tổng kết của cuộc tranh luận về Phan Thanh Giản: “Năm 1963, ở miền Bắc, kết luận về Phan Thanh Giản trên tạp chí Lịch sử, nhà sử học, giáo sư Trần Huy Liệu đã lần nữa lên án Phan Thanh Giản phạm tội “bán nước”, “dâng thành hiến đất cho giặc”.

Đem cụ Nguyễn Đình Chiểu để khẳng định ý kiến của cụ có tính chất tiêu biểu cho quan niệm của đồng bào Nam bộ là không sai, nhưng cái “chết người” là ở chỗ ông Ngô Minh lại hiểu sai ý thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Từ đó, dẫn đến sự lệch lạc về nhận thức trong toàn bộ bài viết.

Hai bài thơ điếu Phan Thanh Giản của cụ Nguyễn Đình Chiểu (một bài chữ Hán và một bài chữ Nôm) đã quá nổi tiếng và hầu như ai cũng đã đọc rồi nên tôi không chép ra nữa, tôi chỉ nói về những chỗ mà tác giả Ngô Minh đã dẫn ra. Trước hết là câu “Minh tinh chín chữ lòng son tạc” và “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”.

Trong bài viết về hai bài thơ điếu Phan Thanh Giản của cụ Nguyễn Đình Chiểu của tác giả Phạm Thị Hảo (giảng viên về chữ Hán và văn học Trung Quốc – khoa Ngữ văn – của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh) đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 55 ngày 26/3/2009 có nhan đề “Viết về Phan Thanh Giản, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu”. Trong bút pháp Xuân Thu, khi phân tích một tác phẩm, một sự việc, người ta luôn có “bao”, có “biếm”, nghĩa là có khen, có chê. Nhưng khen như thế nào cho phải và chê như thế nào cho đúng là một việc làm không dễ. Trong hai bài thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu viết về Phan Thanh Giản cũng có khen và có chê nhưng có những chỗ, những đoạn mới đọc qua ta tưởng là khen nhưng khi nghiên cứu kỹ, ta lại thấy đó là một lời chê trách, thậm chí đó là một lời mắng hết sức nặng nề. Bút pháp Xuân Thu của cụ Nguyễn Đình Chiểu trong trường hợp nầy là hết sức cao siêu và độc đáo.

Chúng ta hãy cùng nghiên cứu câu “Minh tinh chín chữ lòng son tạc”.

Chúng ta đều biết, trước khi tự tử, cụ Phan Thanh Giản đã tự tay ghi lại lời dặn với con cháu về việc đề tấm minh tinh tức tấm triệu với 24 chữ sau đây: “Minh tinh thỉnh tỉnh, nhược vô ưng thư. Đại Nam Hải Nhai Lão Thư Sanh Tánh Phan Chi Cữu, diệc dĩ thử chi mộ” (Tập san Sử Địa, NXB Khai trí, 1967, tr. 139). Câu ấy có nghĩa là: tấm minh tinh (tấm triệu) xin bỏ (miễn), nếu không thì đề: Quan tài (của người) học trò già họ Phan (ở) góc biển (nước) Đại Nam. Mộ bia cũng ghi như vậy.

So-495--Lai-viet-va-Phan-Thanh-Gian---Anh-1
Phan Thanh Giản.

Như vậy, theo lời dặn của chính cụ Phan Thanh Giản thì minh tinh (tấm triệu) có 11 chữ là: “Đại Nam hải nhai lão thư sanh tánh Phan chi cữu” chứ không phải 9 chữ như cụ Nguyễn Đình Chiểu đã viết. Vì sao lại có sự sai lệch giữa 11 chữ và 9 chữ như vậy?

Chúng ta cũng biết cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822) nhỏ hơn cụ Phan Thanh Giản (1796) đến 26 tuổi. Với sự chênh lệch về tuổi tác như vậy thì cụ Phan Thanh Giản thuộc vào hàng cha chú của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài ra, về học vị, cụ Phan Thanh Giản có học vị tiến sĩ còn cụ Nguyễn Đình Chiểu chỉ mới đậu được bậc tú tài. Điều đó không cho phép cụ Nguyễn Đình Chiểu khi viết về Phan Thanh Giản một cách “sòng phẳng”, “ngang ngay sổ thẳng” được. Vậy thì tại sao cụ Nguyễn Đình Chiểu lại “tùy tiện” cắt câu của cụ Phan Thanh Giản mất hai chữ? Ở đây chúng ta thấy cụ Nguyễn Đình Chiểu có dụng ý rõ ràng. Cụ dựa vào nguyên tắc viết triệu để thể hiện ý của mình. Khi viết triệu, người viết phải dựa vào nguyên tắc sau đây: “Nam linh, nữ thính, bất dụng quỉ khốc nhị tự” (Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, tủ sách sử học – Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974, tr. 279). Nghĩa là chữ cuối cùng của câu văn trên tấm triệu, nếu người chết là nam thì phải đúng chữ linh và nếu người chết là nữ thì chữ cuối cùng phải đúng vào chữ thính. Không dùng hai chữ quỉ và khốc.

Dựa vào nguyên tắc trên ta xem lại câu của cụ Phan Thanh Giản có đúng nguyên tắc hay không.

Quỉ Khốc Linh Thính
Đại Nam Hải Nhai
Lão Thư Sanh Tánh
Phan Chi Cữu

Bằng cách đối chiếu trên, ta thấy cụ Phan Thanh Giản đã thực hiện đúng nguyên tắc viết triệu, nghĩa là chữ cữu, chữ cuối cùng đúng vào chữ linh. Còn 9 chữ của cụ Nguyễn Đình Chiểu thì sao? Chúng ta cũng đối chiếu theo cách trên (Chúng ta có thể cắt bớt bất kỳ hai chữ nào: Đại Nam, hải nhai hoặc chi cữu. Chúng tôi chọn chữ hải nhai để câu văn có nghĩa và còn đủ chín chữ).

Quỉ Khốc Linh Thính
Đại Nam Lão Thư
Sanh Tánh Phan Chi
Cữu

Như vậy 9 chữ của cụ Nguyễn Đình Chiểu sai với nguyên tắc viết triệu vì chữ cuối cùng rơi vào chữ Quỉ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu không biết điều cấm kỵ trong phép viết triệu chăng? Có lẽ không phải vậy. Quỉ là gì thì chúng ta đều biết rồi. Để tấm triệu rơi vào chữ quỉ là ý gì? Tới đây chúng ta lại đối chiếu với một câu khác cũng trong hai bài thơ điếu nầy, đó là câu kết của bài thơ chữ Hán: “An đắc thung dung tựu nghĩa thần?” (Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập II, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1982, tr. 39). Chúng ta lưu ý chữ an đắc có nghĩa là sao được, chữ nầy thường được dùng cho những câu hỏi. Nguyên văn hai câu kết như sau: “Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự / An đắc thung dung tựu nghĩa thần?” (chuyện mất còn của 6 tỉnh là do trời, (như vậy thì) thung dung tựu nghĩa để thành Thần sao được). Người xưa luôn quan niệm “sanh vi tướng, tử vi thần”, vậy mà cụ Nguyễn Đình Chiểu đã cho rằng cụ Phan Thanh Giản thành thần sao được. Không thành thần được thì thành gì? Câu trả lời cũng quá rõ ràng rồi (hoặc như bài viết của tác giả Phạm Thị Hảo, sau khi phân tích tương tự như trên, tác giả cũng kết luận: Như vậy, cụ Đồ xem cụ Phan chết đi chỉ thành ma chứ không thể thành thần được).

Một vấn đề khác cũng được đặt ra trong câu “Minh tinh chín chữ lòng son tạc”, đó là lòng son của ai? Lòng son là của cụ Phan Thanh Giản chăng? Không phải, vì nếu là lòng son của cụ Phan Thanh Giản thì lòng cụ phải tạc 11 chữ như chính cụ đã dặn chứ làm sao cụ lại tạc 9 chữ của người khác áp đặt cho mình, vừa sai nguyên tắc viết triệu lại vừa rơi đúng vào chữ Quỉ như chúng ta đã thấy. Như vậy lòng son đây chính là tấm lòng của những người yêu nước. Cả thế hệ yêu nước thời bấy giờ không thể coi một người có hành vi đầu hàng, phản lại nguyện vọng chung khi chết đi lại có thể thành thần được, do đó tấm triệu chỉ có 9 chữ thôi và 9 chữ ứng với chữ Quỉ. Đó cũng chính là lòng dạ đích thực của những người yêu nước mà cụ Nguyễn Đình Chiểu là đại biểu đã nói thay cho họ.

Chúng ta cùng nghiên cứu tiếp câu “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”.

Trước hết, chúng ta không thể tách rời đoạn cuối của câu văn biền ngẫu để phân tích mà phải xem xét tổng thể của câu văn nầy. Đây là câu thứ 30 trong bài Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Nguyên văn như sau:

Phải trời cho mượn cán thương phá Lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh;

Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc.

(Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập II, sđd, tr. 47)

Tôi viết đậm hai chữ còn và hết nhằm dễ nhận ra phép đối chữ trong nguyên tắc viết văn biền ngẫu.

Vế trên của câu nầy đã quá rõ ràng nên không cần phải phân tích gì thêm, chỉ có vế dưới mới có nhiều chuyện rắc rối. Trước hết, vì sao khi cụ Phan Thanh Giản chết lại chỉ có ít người đặng xem tấm bảng phong thần. Ít người đặng xem có nghĩa là nhiều người không thấy. Còn tấm bảng phong thần thật ra có ai phong thần cho cụ Phan Thanh Giản đâu mà người ta thấy (chỉ đến sau khi có mấy ông vua làm bù nhìn, tay sai cho Tây như Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại mới phong thần cho cụ). Ý tứ của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng thật sâu sắc, ít người đó là ai, chính là những người theo phái chủ hòa (cũng đồng nghĩa với đầu hàng) với cụ Phan Thanh Giản.

Về chữ còn của vế trên đối với chữ hết của vế dưới là sao? Còn đối với hết, như vậy hết có nghĩa là không còn. Còn thì phải đối với không còn, đối như vậy mới chỉnh và đúng phép viết văn biền ngẫu. Còn mà gắn với hết lòng, hết sức thì không đúng phép viết văn của người xưa. 

Như vậy chúng ta phải hiểu phần cuối của câu văn nầy là Phan học sĩ không còn lòng dạ lo cho nước cho dân chứ không phải cụ hết lòng, hết sức lo cho nước cho dân như một số người đã hiểu sai ý của cụ Nguyễn Đình Chiểu.

Từ việc hiểu sai ý thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu dẫn đến việc tác giả Ngô Minh cho rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi cụ Phan Thanh Giản là một sai lầm lớn của người viết. Chúng ta hãy cùng đọc lại một đoạn trong bài viết của tác giả Phạm Thị Hảo (như chúng tôi đã dẫn ở trên) như sau:

“Bút pháp Xuân Thu bắt đầu phát huy tác dụng ở hai câu 3, 4:
Long Hồ uổng phụ thư sinh lão
Phụng các không vi học sĩ thần

(Ở Long Hồ (nơi quê hương), ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già

Nơi phụng các (chốn làm quan), ông đã làm một cách hão người bề tôi học sĩ

Hai cụm từ “uổng phụ” (phụ bỏ, uổng phí) và “không vi” (làm một cách vô ích, làm hão, chẳng tích sự gì) là sự phiền trách, xót tiếc nặng nề biết bao!

Phan Thanh Giản từng tự xưng là thư sinh lão, là người học trò già lương thiện, khiêm nhường, nhưng với việc làm của ông dâng đất dâng thành cho giặc chứng tỏ ông đã “uổng phụ” cái chí thanh cao đó. Việc làm của ông đã phủ định tài năng học sĩ thần của ông.

Đến câu 5, 6 càng uẩn áo hơn:

Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật
Tận trung hà hận tử Trương Tuần

Bút pháp Xuân Thu cho thấy ở đây hai tầng nghĩa, mới đọc, có thể hiểu là sự đánh giá rất cao:

Cầm cờ tiết đi sứ, nhiều phen vất vả, sống như Phú Bật
Tận lòng trung, còn gì phải hận, chết như Trương Tuần.

Nhưng người đọc nào có hiểu biết về hai nhân vật Phú Bật đời Tống và Trương Tuần đời Đường sẽ thấy đây là sự so sánh phản diện, hàm ý mỉa mai (Phú Bật là người đời Tống Nhân Tông, vâng mệnh đi sứ Khiết Đan, đã lao tâm khổ tứ, hết lòng thuyết phục địch, cuối cùng đem về thắng lợi cho đất nước. Trương Tuần người đời Đường, đã dũng cảm chống giặc giữ thành, bị giặc bắt, đánh đập tàn tệ, vẫn kiên trinh và tử tiết trong tay giặc) sẽ không thể tin rằng một người yêu nước, đang đứng trong hàng ngũ nghĩa quân để chống giặc như Nguyễn Đình Chiểu lại có thể ví Phan Thanh Giản với hai nghĩa sĩ ngoan cường nổi danh này được. Phan đâu có gian lao vất vả đòi được đất về cho dân cho nước như Phú Bật, Phan đã đầu hàng dễ dàng hết đợt một đến đợt hai. Phan đâu có kiên trinh tử tiết trong tay quân giặc như Trương Tuần mà là tự hủy thân mình vì thất vọng, vì xấu hổ. Lúc gần chết lại còn lo sợ, hỏi ông cố đạo bên cạnh là liệu thuốc giải độc “có cứu được tôi không?”.

Thật là sai lầm khi cho cụ Nguyễn Đình Chiểu “ca ngợi” cụ Phan Thanh Giản khi lập trường chính trị của hai cụ khác nhau như nước với lửa. Trong khi cụ Nguyễn Đình Chiểu luôn nêu cao tư tưởng chống giặc: “Còn đánh giặc, mất cũng đánh giặc” (câu 28, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), hoặc: “Bờ cõi xưa đà chia đất khác/Nắng sương nay há đội trời chung” (Ngư Tiều vấn đáp) hoàn toàn đối lập với cụ Phan: “Mây nước sang qua cùng Pháp quốc/Rước đưa mừng rỡ việc hòa minh” (trích bài thơ Đi sứ, Nguyễn Duy Oanh, sđd, tr. 187) hoặc: “Vậy tôi là người già yếu ớt, tôi còn hy vọng gì sống? Vâng, rồi đây tử thần sẽ cho tôi hiệp mặt trong sự vĩnh cửu với người nổi tiếng ấy. Nơi đó hai ta sẽ sung sướng vô biên giới và tình huynh đệ không thể tan rã được” và: “… tướng Bonard kính trọng tôi bằng tình tri kỷ!” (trích thơ của cụ Phan Thanh Giản gởi cho Lagrandière chia buồn về cái chết của Bonard. Chân dung Phan Thanh Giản, Nguyễn Duy Oanh, sđd, tr. 259). Một đằng đối với giặc thì “không đội trời chung”, một đằng thì đối với kẻ đi cướp nước mình mà lại coi nhau là “tình tri kỷ”, hoặc “tình huynh đệ không thể tan rã được” thì làm sao cụ Nguyễn Đình Chiểu “ca ngợi” cho đành!

Một ví dụ khác sẽ chứng minh thái độ của cụ Nguyễn Đình Chiểu đối với cụ Phan Thanh Giản rõ ràng, quyết liệt hơn trong câu: “Hoặc là chuộng một lời hòa nghị, vận Nam thiên phải bắt Nhạc Phi về, hoặc là trăm họ hoành la, thời U địa chẳng cho Dương Nghiệp lại” (câu 23, Văn tế Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập II, sđd). Chúng ta hãy đọc những dòng chú thích của sách nêu trên do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm và Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú thích về Nhạc Phi và Dương Nghiệp như sau: Về Nhạc Phi: “Nhạc Phi người đất Thang Âm đời Tống… Khi có giặc Kim xâm lấn, Nhạc Phi đã từng cầm quân đánh bại Ngột Truật, đánh bại quân Kim ở Chu Tiên trấn. Giữa lúc đó, tên gian thần Tần Cối chủ hòa, muốn dâng đất Hoài Bắc cho giặc, lợi dụng lệnh vua một ngày mười hai lần triệu Nhạc Phi về kinh, rồi đặt điều vu cáo hãm hại ông, bắt ông bỏ ngục. Bấy giờ Nhạc Phi mới 39 tuổi”. Và về Dương Nghiệp: “Người đất Thái Nguyên đời Tống, là một tướng giỏi. Nhưng khi ông cầm quân đánh phía Bắc, ông bị hơn mười vạn quân Khiết Đan vây hãm. Ông bị bắt, nhịn đói ba ngày rồi chết”. Khi đọc những dòng chú thích nầy, chúng ta làm sao không liên hệ giữa hình tượng Nhạc Phi và Tần Cối với Trương Định và Phan Thanh Giản (Phan Thanh Giản cũng ba lần gởi thơ buộc Trương Định bãi binh – NĐC toàn tập, sđd, tr. 72), khi một người quyết chí đánh giặc còn một người lại “chuộng lời hòa nghị”. Khi đã liệt Phan Thanh Giản vào hạng gian thần như Tần Cối thì cụ Nguyễn Đình Chiểu đã tỏ ý khinh miệt hết sức nặng nề rồi. Còn về cái chết của cụ Phan Thanh Giản, cụ đâu có chết oanh liệt như Dương Nghiệp hay như Trương Tuần đã dẫn ở trên. Không chỉ cụ chết vì thất vọng, xấu hổ như tác giả Phạm Thị Hảo đã viết, tôi xin thêm một nguyên nhân dẫn tới cái chết của cụ. Tại Tập san Sử Địa số 22, Sài Gòn, 1971, tr. 44-46, có đăng lại bản văn thư đề ngày 14/1/1963 của hải quân trung tướng Bonard gởi thượng thư Bộ Ngoại giao có đoạn như sau: “Hiện thời phe họ Trương (tức Trương Đăng Quế – chủ chiến – NV) có vẻ lấn át phe kia (tức phe Phan Thanh Giản – chủ hòa – NV), tính mạng của Phan Thanh Giản bị đe dọa kịch liệt; dù ông ta còn làm kinh lược các tỉnh miền Nam, tôi cũng sẽ không lấy làm ngạc nhiên nếu thấy ông phải xin lánh nạn trong khu vực của chúng ta”. “Xin lánh nạn” theo lời của Bonard tức là “xin tỵ nạn chính trị” như chúng ta thường dùng bây giờ. Chúng ta đều biết, sau khi đơn phương giao thành Vĩnh Long cho giặc, cụ Phan đã có thư cho tổng đốc An Giang và Hà Tiên với lời khuyên hãy bẻ gãy giáo gươm, giao thành không chống lại và cũng đã có tờ sớ, gom cả triều phục, ấn triện nhờ chiếc tàu Mẫn Thỏa mang gấp về Huế trình cho vua Tự Đức và chờ đợi nhưng

“Ải Bắc ngày chiều tin điệp vắng” (Một câu trong bài thơ điếu chữ Nôm của cụ Nguyễn Đình Chiểu), nghĩa là chờ mãi mà không thấy phản hồi của triều đình, cụ tự thấy số phận của mình đã được định đoạt cụ mới bắt đầu tuyệt thực (Thành Vĩnh Long mất ngày 20/6/1967, đến ngày 19/7/1967 cụ bắt đầu tuyệt thực. Nghĩa là phải sau 1 tháng chờ đợi trong tuyệt vọng cụ mới tính đến cái chết). Hơn 5 tháng trước ngày mất thành Vĩnh Long, Bonard đã thấy “tính mạng Phan Thanh Giản bị đe dọa kịch liệt”, nay thêm việc đơn phương giao thành Vĩnh Long cho giặc thì với đầu óc của một bậc đại thần, cụ Phan Thanh Giản chọn cái chết là lẽ đương nhiên. Vậy mà hiện nay vẫn còn nhiều người, trong đó có ông Ngô Minh, coi cái chết của cụ Phan Thanh Giản là sự “tuẫn tiết”. Trong tiếng Việt, ai cũng biết tuẫn tiết là vì tiết nghĩa mà liều mình hoặc tự tử để bảo toàn khí tiết, không để rơi vào tay giặc hoặc bị bắt mà không đầu hàng giặc như Dương Nghiệp, Trương Tuần chứ đâu có đầu hàng, tự giao thành cho giặc như cụ Phan. Một người đã đối đãi với giặc bằng “tình tri kỷ”, cụ Phan Thanh Giản còn tưởng tượng, đến khi chết đi sẽ được gặp Bonard thì “Nơi đó hai ta sẽ sung sướng vô biên giới” và “tình huynh đệ không thể tan rã được” thì khi lâm vào bế tắc đã tự hủy mình thì không thể coi đó là tuẫn tiết được.

Ngoài ra, theo sách của nhà sử học Nguyễn Phan Quang (trong tác phẩm “Việt Nam – Thế kỷ XIX (1802 – 1884), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 286) có trích lại báo cáo của Bonard ngày 8/9/1862, trong đó có đoạn: “Phải nói rằng tôi chỉ còn biết hài lòng về chính phủ Tự Đức và những người thay mặt họ đã giúp đỡ tôi tại Nam kỳ để cho hiệp ước được thi hành sớm chừng nào hay chừng ấy”. Cũng ở trang sách nầy, có hai nhận xét về Hiệp ước 1862 như sau:

Hiệp ước 1862 rõ ràng là một “hàng ước”, “một vết nhơ lịch sử”

(Ca Văn Thỉnh).

Nghĩa quân phải đơn độc đối phó với địch. Quan trọng hơn, hiệp ước tạo cơ sở cho địch đàn áp nghĩa quân, trong khi triều đình thì ra lịnh bãi binh, lại còn giúp thực dân Pháp truy lùng các thủ lĩnh! Do vậy khó có thể nói khác rằng “đây là một sự phản bội đối với những người kháng chiến” (Trần Văn Giàu).

Chừng đó thôi, chúng ta đủ thấy chính phủ Tự Đức và những người thay mặt họ (còn ai khác ngoài Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp) tệ hại đến mức nào. Giặc đến cướp nước mình thì ký hàng ước, lại còn sốt sắng giúp đỡ giặc thi hành hiệp ước ấy đến mức chúng phải khen ngợi “chỉ còn biết hài lòng” như báo cáo của Bonard thì còn gì để thanh minh, bào chữa nữa.

Đối với giặc thì đầu hàng, thỏa hiệp tới mức ấy, còn đối với ta thì sao? Chúng ta hãy cùng đọc đoạn trích sau đây trong bức mật thư của Phan Thanh Giản gởi cho Bonard (trong Tập san Sử Địa, NXB Khai trí, 1971, tr. 48 và 49), có đoạn như sau: “… Trước kia, Trương Định đã lừa phỉnh để triều đình lầm tưởng rằng y tận lực phục vụ; về sau y đã tập hợp và tuyển mộ nhiều quân lính vì vẫn âm thầm mưu đồ bất chính. Y đã dám lợi dụng thời cơ để làm giàu trên dân chúng; y tự phụ rằng các quản và đội đã ép buộc y cầm đầu họ. Y còn dám tự bảo rằng hành động như vậy là đã tuân lệnh triều đình, y đã đi khắp nơi để mộ quân và, từ lâu, đã gây cho dân chúng nhiều nhũng nhiễu, phiền muộn và khổ cực.

Đọc bản tuyên ngôn đính kèm theo đây, tôi đã nhận thấy sự kiêu hãnh và ngạo mạn cao độ của con người dám phủ nhận cả đương triều.

Quân đội thuộc quyền các hạ mà còn chưa diệt trừ được tên ấy thì lòng kiêu hãnh của y cứ gia tăng; nếu không giết và tru diệt ngay y thì y sẽ được sự ủng hộ tại khắp nơi vì danh vọng của y ngày thêm lớn; những hư ngôn và ngón gian quyệt của y ngày càng nhiều và dân chúng còn chịu tai ách không biết đến bao giờ. Vậy cần phải bắt y đền tội lỗi nhưng tôi nghĩ rằng từ lâu hẳn các hạ đã có dự định ấy.

Tôi đã cho bắt giữ tên Quang do Trương Định sai tới và giam giữ ngặt để đưa ra xét xử.

Vì những lý do ấy, tôi trân trọng gởi các hạ bức mật văn nầy và cũng là để thỉnh cầu ngài cấp thời bình định đất Gò Công: kẻ phiến loạn bại trận sẽ không thể tập hợp đồ đảng tùy tòng và như thế dân chúng được sớm thấy dứt mối đau khổ, đó là điều tôi thiết tha mong mỏi trong thâm tâm”.

Tôi xin đính theo mật văn nầy bản tuyên ngôn đã nhận được để các hạ tri tường.

Đây là mật văn của tôi”

Năm thứ 15 triều vua Tự Đức, ngày 20 tháng 12

Sao y chính bản:

Hải quân Trung tướng, Thống đốc kiêm Tư lệnh.

Ký tên: Bonard

Trích: Á Châu (Asie) tập 29. Văn khố Bộ Ngoại giao, Paris.

(Bức mật văn nầy cũng được trích trong “Nguyễn Đình Chiểu toàn tập”, sđd, tập II, tr. 72. Và trong “Chân dung Phan Thanh Giản” của Nguyễn Duy Oanh, sđd, đã in nguyên văn tại các trang 155, 156 và 157).

Có một việc mà chúng ta thấy bất thường là với danh nghĩa, tư cách gì mà cụ Phan Thanh Giản lại “thỉnh cầu ngài cấp thời bình định đất Gò Công”. Chỗ nầy chúng ta cần liên hệ với một đoạn văn trong quyển VN thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Phan Quang (sđd, tr. 300) như sau: “Phan Thanh Giản, sứ giả An Nam đầu tiên cũng đồng thời là phó vương của ba tỉnh còn lại và là tổng đốc Vĩnh Long. Tốt hơn hết là chúng ta cần tranh thủ, lôi kéo cho được nhân vật quan trọng này” (Đây là một câu trong ba bức thư của Rieunier, sĩ quan tham mưu quân đội Pháp ở Nam kỳ gởi cho chính giới Pháp nhằm thuyết phục cho âm mưu chiếm trọn Nam kỳ). Vu khống, thóa mạ người yêu nước đang ra sức chống giặc, đòi quân đội của kẻ thù phải diệt trừ, tru diệt Trương Định, người mà cả dân tộc tôn thờ. Thỉnh cầu kẻ thù cấp thời bình định đất Gò Công. Chúng tôi cho rằng thái độ nầy không phải của người đại diện triều đình và càng không phải của bất kỳ người dân yêu nước nào của Nam kỳ Lục tỉnh.

Tôi kết thúc bài viết nầy bằng bức mật văn, bằng chính chữ nghĩa của cụ Phan Thanh Giản gởi cho tướng giặc. Chừng đó chắc cũng đủ để cho ai còn mơ hồ về lòng “yêu nước”, “thương dân” của cụ Phan Thanh Giản và cho rằng hơn 150 qua cụ phải chịu hàm oan. Trong bài viết của tác giả Ngô Minh còn một việc khác, tôn vinh Trương Vĩnh Ký là “nhà bác học” và đặt Trương Vĩnh Ký ngang hàng với các danh nhân khác của tỉnh Bến Tre, đó cũng là một sai lầm nghiêm trọng. Không thể đặt một tên đại Việt gian lên ngang tầm với những anh hùng, những người có công với Tổ quốc được. Vấn đề nầy chúng tôi sẽ hầu chuyện cùng tác giả Ngô Minh vào dịp khác.

Tôi rất tâm đắc với câu của nhà văn Chu Giang trong bài viết về Phạm Quỳnh, đáng lẽ các nhân vật như Phạm Quỳnh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… “cách tốt nhất là để cho cụ yên nghỉ” (Một sự thách thức lịch sử, báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 490, ngày 5/4/2018), vì lúc này “phê phán kết tội cụ không cần thiết, không có ích gì, mà tán dương phong tặng cho cụ là xuyên tạc lịch sử, là phản văn hóa”.

15/4/2018

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 495

Ý Kiến bạn đọc