Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Lại nói chuyện lịch sư

Trong cuộc tọa đàm bàn tròn của đài BBC ngày 22/11/2015 về đề tài tích hợp môn Sử ở cấp học phổ thông mà nhà đài lại lái sang “biểu tượng ngọn đuốc sống Lê Văn Tám là ngụy tạo! Là nói láo! Liệu có cách thức nào giải quyết ổn thỏa chuyện này”? Lập tức ông GS. Sử học Ngô Vĩnh Long (Đại học Maine, Hoa Kỳ) bập ngay vào: “Trước hết là chuyện Lê Văn Tám ấy, khi dạy lịch sử mình phải lập lại tại sao người ta đã lập lên chuyện Lê Văn Tám, bởi vì cái này nó trở thành vấn đề lịch sử của Việt Nam. Nếu mà một đất nước, một dân tộc mà nói láo thì phải hiểu tại sao mình nói láo? Mình nói láo là vì mình yêu nước phải không? Nếu mà yêu nước mà nói láo như vậy có thể là không đúng thì mình phải học được bài học lịch sử này. Vấn đề này tôi đã nói không phải là vấn đề lịch sử nữa, mà nó là vấn đề xã hội, vấn đề luân lý, vấn đề con người”. Trong dịp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đáp lời mời sang thăm Đức của Tổng thống Joachim Gauck, tại buổi Chủ tịch gặp gỡ với cộng đồng người Việt Nam ở đây, báo Tuổi Trẻ ngày thứ bảy 28/11/2015 lược ghi bài phỏng vấn TS Nguyễn Văn Cường (Đại học Postdam, Đức), như sau: “Tích hợp và dạy học theo chủ đề liên môn là xu hướng quốc tế, là một biện pháp phát triển năng lực học sinh, tuy nhiên nó đòi hỏi nhiều điều kiện. Ở ta, trong quá trình cải cách giáo dục đã cập nhật xu hướng này là rất tốt, tuy nhiên đi vào cụ thể thì có nhiều nội dung cần bàn. Xu hướng tích hợp trên thế giới có nhiều mức độ khác nhau. Ngay ở Đức, tích hợp các môn học, họ cũng làm một cách thận trọng. Chúng ta nên làm từng bậc một, làm tới đâu chắc tới đó”. Ngày 27/11/2015, trước khi bế mạc kỳ họp thứ 10 khóa 2011-2015, Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã ra nghị quyết vẫn giữ Sử học là một môn riêng trong chương trình giáo dục phổ thông.

Việc tích hợp các môn học có liên quan với nhau là phương thức mới của khoa học giáo dục nhằm tinh giản chương trình giảng dạy, tránh sự trùng lặp để học sinh khỏi bị nhàm chán, chứ không chỉ với riêng môn Sử. Đó là vấn đề thời sự nghiêm túc của khoa học giáo dục, đang ở giai đoạn đầu khởi xướng và cần nhiều thời gian trải nghiệm, kiểm chứng để được vận dụng rộng rãi ở các hệ thống giáo dục trong thế giới hội nhập. Nó đòi hỏi nhiều công sức, trí tuệ, tâm đức của các nhà giáo dục, nhà khoa học và các bậc phụ huynh. Vậy mà từ chuyện “tích hợp”, người ta đế cái chuyện “ngọn đuốc” ấy vào! Khốn nỗi không ít vị học hàm học vị cùng mình mà bốn mắt vẫn mờ, đeo máy tăng âm mà tai vẫn điếc, bị mắc bẫy mấy anh nhà báo lọc lõi với nghề truyền thông xọc xịa!

tuong-Le-Van-Tam
Tượng đài Lê Văn Tám trong công viên Lê Văn Tám.

Ở đây, người viết chỉ đề cập tới tấm gương anh hùng Lê Văn Tám đã trở thành ngọn đuốc thiêng của lòng yêu nước Việt Nam suốt trong mấy mươi năm chiến tranh gian khổ khốc liệt, đã động viên thôi thúc lớp lớp người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” để có một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập ngày nay.

Ngọn lửa Lê Văn Tám sáng bừng lên đêm 17/10/1945 ngay tại khu Thị Nghè – Gia Định trong những ngày đầu nhân dân Nam bộ hừng hực khí thế chống ngoại xâm, với lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam bộ dán đầy tường, trên các gốc cây, rải trắng đường phố, theo những chuyến xe đò lan về vùng phụ cận và lục tỉnh, như sau:

“Đồng bào Nam bộ!

Nhân dân thành phố Sài Gòn!

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sỹ!

Đêm qua thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn.

Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Ngày 2 tháng 9, đồng bào đã thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc:

“Độc lập hay là chết!”

Hôm nay Ủy ban kháng chiến kêu gọi:

Tất cả đồng bào già trẻ gái trai hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược.

Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó thì hãy lập tức rời khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

- Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

- Không đưa đường, không báo tin cho Pháp.

- Không bán lương thực cho Pháp.

- Hãy tìm thực dân Pháp mà giết.

- Hãy đốt sạch tất cả các sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa hàng.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp và tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sỹ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt võ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước.

Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945

Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ TRẦN VĂN GIÀU”

Dẫn lại nguyên văn lời hiệu triệu lịch sử ấy để bạn đọc liên tưởng nếu sống trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ thì bất kỳ ai già, trẻ, gái, trai, dù là trí thức hay dân thường, tất phải làm gì? Chỉ những kẻ lòng dạ bất trắc mới đang tâm làm tay sai cho giặc, phản lại Tổ quốc, trong khi những kẻ ươn hèn yếu đuối sẽ nằm nhà trùm chăn chờ xem thời thế. Ông Trần Văn Giàu là nhà yêu nước nhiệt thành, nhà cách mạng chân chính, là người có trọng trách lớn thời kỳ đầu Nam bộ kháng chiến, là sử gia tâm huyết, đã “khẳng định là có sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết do ai tổ chức và người nào thực hiện”. Thế hệ U.40 ngày đó rất quen thuộc với những bài ca yêu nước như: “Em bé tẩm dầu”, “Anh Bát Sắt”… Bà Trần Ngọc Hạnh – nguyên Giám đốc Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM, đã nghỉ hưu, hồi đó là chiến sỹ của Chi đội Bảy tỉnh Bà Rịa, sau phiên chế thành Trung đoàn 307, nay tuổi đã cao nhưng vẫn còn hát được những bài ca yêu nước thuộc nằm lòng từ thời con gái: “Cuộc kháng chiến Việt Nam có biết bao nhi đồng/ Đã hiến thân liều mình vì nước/ Gương em bé tẩm dầu xông vào kho xăng… lửa cháy bùng lên/ Từ đây tên em nêu cao trên bảng vàng son…” và “Anh Bát Sắt ơi/ Tinh thần anh cao quý thay/ Anh là một người anh hùng thiếu niên/ Anh đặt Tổ quốc lên trên gia đình…”. Trong lúc vận nước ngả nghiêng, đến những chú bé cũng biết “đặt Tổ quốc lên trên gia đình” thì sự kiện “ngọn đuốc sống”có gì lạ đâu? Duy chiến sỹ dũng cảm cụ thể là ai thì khó mà biết được. Nó khác hẳn với lời nói mơ hồ nước đôi của nhà sử học Phan Huy Lê lúc đó còn đang là chú học trò mươi mười lăm tuổi ở mãi đâu đâu, sau này có ghế vị, lời nói có thép có gang là bởi được hưởng phúc lộc của các bậc tiền nhân anh hùng liệt sỹ, đã hàm hồ phủ nhận: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật!” để không ít người nhẹ dạ vội tưởng rằng con người Lê Văn Tám và sự kiện anh hùng ấy là ngụy tạo!

Những nhà sử học khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam đều kính cẩn ngả mũ cúi đầu trước hàng chục cuộc chiến tranh chống xâm lược từ các nước lớn hơn rất nhiều lần về mọi mặt. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Tây vừa qua, nay còn rất nhiều nhân chứng. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân, mỗi người đều là chiến sỹ, gặp giặc là đánh, vũ khí là bất cứ cái gì có được, thậm chí dù chỉ tay không, chiến trường là bất cứ nơi nào có bóng quân thù. Thắng lợi là chiến công chung, không ai nghĩ đến công mình và đồng đội cũng không kịp tìm hiểu chiến công đó là của riêng ai: gái trai, tên họ, tuổi tác, quê quán. Trong hoàn cảnh ấy, dù không biết chiến sỹ hành động thế nào nhưng vẫn một lòng cảm phục, càng nung nấu ý chí căm thù quân cướp nước và mỗi người lại nghĩ ra một hình thức chiến đấu mà mình có thể. Những tấm gương cụ thể chỉ là biểu tượng cho sự hy sinh âm thầm lặng lẽ của bao nhiêu chiến sỹ vô danh mà công trạng có khi còn lớn hơn rất nhiều lần. Đó là điều hiển nhiên, đồng bào ta đều thấy rõ huống chi là những nhà sử học!

Về ngọn đuốc thiêng Lê Văn Tám, dù là tên thật hay ẩn danh nhưng đã thành bất tử trong lòng dân tộc và hiển hiện bằng hình tượng một thiếu niên thiên thần có cánh trong một công viên mang tên người con dũng cảm của dân tộc giữa lòng TP.HCM đang từng ngày đổi mới đi lên. Đó là sự tôn vinh với những liệt sỹ anh hùng vì nước quên thân. Những thế lực đen tối không chỉ muốn xô đổ một tượng đài Lê Văn Tám mà sẽ lấn lướt đi tới xóa bỏ mọi chiến tích xứng đáng là niềm tự hào của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh, hòng thay vào đó hình hài của những kẻ coi rẻ quyền lợi của dân tộc mình, cúc cung phụng sự các thế lực ngoại bang xâm lược. Một ông cỡ bậc thầy nói toạc móng heo: “Với cái đà này rồi đây người ta cũng phải nghĩ đến việc đổi tên các công viên, trường học mang tên Lê Văn Tám thành công viên Gia Long, trường Trương Vĩnh Ký”! Mới hay: Chống giặc mạnh dù phải gian khổ trường kỳ, ngày thắng lợi rồi cũng đến; mà chống lại nền văn hóa nô dịch ngoại lai vong bản, chẳng những cần có bản lĩnh vững vàng, sự kiên trì chăm chút bồi đắp công phu mà lại không thể coi như chống giặc, càng không thể giới hạn thời gian.

Xin nêu một số bằng chứng có căn cứ cụ thể để độc giả khỏi mất công tìm:

- Báo Cứu quốc số 74 ra ngày 23/10/1945 đưa tin: trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch nói “Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bậc ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được”.

- Lịch sử Đảng bộ TP.HCM xác nhận sự việc thiếu niên Lê Văn Tám đốt cháy kho xăng vào những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và còn ghi rõ người tổ chức là đồng chí Lê Văn Châu ở Gò Vấp, sau này hy sinh ở mặt trận Thị Nghè năm 1947. Trong hồi ký của nhiều nhà lãnh đạo kháng chiến ở Sài Gòn lúc đó như Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Mai Chí Thọ (Năm Xuân) và sau này trong bài viết của ông Trần Trọng Tân, đều khẳng định sự kiện này với tình cảm yêu thương, trân trọng.

- Ông Hoàng Quốc Việt là một yếu nhân của chính quyền trung ương được cử vào Nam bộ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ, trong hồi ký “Con đường theo Bác” (NXB Thanh niên – 2003) viết: “Thanh niên và thiếu nhi Sài Gòn chiến đấu với tinh thần “bóp nát quả cam” của Trần Quốc Toản năm xưa. Hình ảnh em thiếu niên Lê Văn Tám đốt cháy kho xăng địch tại Thị Nghè để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân. Nhìn kho xăng bốc cháy, tiếng đạn nổ, khói tỏa mịt mùng ai nấy tự hào về sức sống mãnh liệt của một em thiếu nhi nghèo khổ của Sài Gòn”.

- Đại tá Võ Thành Khiết, cựu chiến binh ở Quận 10, sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940 lên học ở Sài Gòn. Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1945, về quê, tham gia Thanh niên tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn. Sau đó làm liên lạc cho báo “Kèn gọi lính” của ta và cho Ủy ban kháng chiến Sài Gòn – Gia Định đóng tại quê ông. Năm 1947, vào du kích Hạ Trung Huyện, rồi lên trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh do ông Huỳnh Văn Một chỉ huy, liên tục chiến đấu ở vùng Chợ Lớn cho đến năm 1950 thì được đi học Trường Quân chính Khu VII đóng ở Bời Lời, Trảng Bàng, Tây Ninh. Ông kể thời kỳ làm liên lạc, thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức: “Có hai sự kiện xảy ra trên địa bàn cách nhau chừng vài trăm mét trong khoảng thời gian khá gần nhau, nhưng lâu quá rồi dễ lẫn. Cả hai sự kiện trên đều được báo chí kháng chiến và báo chí nội thành lúc ấy phản ánh khá đầy đủ, có thể sưu tra để phản ánh đúng sự thật lịch sử. Đạn nổ điếc tai, lửa khói ngất trời thì cả thành phố ai mà không biết. Hôm sau đồn rầm lên những tin truyền khẩu rồi mới là trên báo chí. Do đơn vị nào đánh thì không biết nhưng thiệt hại của nó và tâm lý địch, ta thì biết. Dù không chính xác nhưng báo chí của nó đã nêu lên một phần sự thật. Vụ đánh kho đạn Sở thú còn có tên là Pyrotechnique, nằm trên đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngang với Bảo tàng Lịch sử thành phố trong Thảo cầm viên) vốn là một doanh trại, toàn lính lê dương canh gác, lại gần Tổng hành dinh của tướng Le Clerc nên được bố phòng cẩn mật, bị một tổ vũ trang của ta đánh nổ đêm 8/4/1946. Vụ đốt cháy kho xăng Thị Nghè vào đêm 17/10/1945, người làm việc đó nghe nói tên là em Tám. Vùng này lúc đó phức tạp, cả ta và Tây đều không làm chủ được, tập trung rất nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ và có tinh thần đánh Tây hăng lắm. Khi lửa phật lên, xăng phụt ra bắt cháy. Gọi là “ngọn đuốc sống” cũng không có gì là quá. Ngay hôm sau, báo chí đã lên tít lớn và còn mô tả khá là chi tiết. Lớp thiếu niên chúng tôi thời ấy đều được học tập noi theo tấm gương em Tám. Hãy coi như một cái tên lịch sử”!

- Ông Hồ Thanh Điền (Hai Điền: 1926-2014), lão thành Cách mạng, đội viên Thanh niên Tiền phong đoàn Trần Cao Vân, sau thuộc Chi đội 13 (tiền thân của trung đoàn 300). Năm 1952 được ra Việt Bắc, qua Trung Quốc học. Từ 1956 làm Tiểu đoàn trưởng bảo vệ bờ bắc cầu Hiền Lương. Sau 1975 chuyển sang ngành công an, làm Bí thư Đảng ủy Công an tỉnh Đồng Nai, nghỉ hưu tại TP. Biên Hòa. Lúc sinh thời, người viết được nghe ông kể: “Tôi không phải là chứng nhân trực tiếp nhưng là người biết rất sớm chuyện này. Lúc đó đơn vị tôi đóng quân ở Trung Chánh. Ngay sớm hôm sau khi cháy kho xăng Thị Nghè, Nguyễn Thanh Hùng là chiến sỹ của tiểu đội tôi, nhà ở Đa Kao, chạy về báo tin: Thằng Tám trong xóm nhà tui là người đốt kho xăng hồi hôm đó!”. Ông Hùng đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp! Nay còn ông Phạm Văn Đông là đồng đội vong niên, nhà ở 22/3 Hồ Văn Đại, KP.3, TP. Biên Hòa, nhiều lần được nghe ông Hai Điền kể chuyện này.

- Trong hồi ký “Đứng lên đáp lời sông núi – tập II” (NXB Thanh niên, 1995) của Trần Thắng Minh (nguyên UVTƯ Đoàn TNCSVN) cho biết Lê Văn Tám là bạn trong Đội Thiếu niên ở Đa Kao với ông. Bạn đọc cần lưu ý là cuốn sách được viết ra 10 năm trước khi ông Phan Huy Lê phủ định chuyện này! Ông Hồ Thanh Điền và ông Trần Thắng Minh thuộc hai thế hệ, không quen biết nhau.

- Người có công tôn vinh “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” là nhà văn Phan Vũ. Ông nói: “Tôi người Hải Phòng, Vệ quốc quân Nam tiến. Những năm ở chiến trường Tây Nam bộ tôi có nghe chuyện một thiếu niên Sài Gòn tên Tám, dũng cảm xông vào đốt cháy một kho xăng. Chuyện chỉ có thế nhưng cái chết của em cứ lởn vởn trong tâm não tôi. Năm 1954, tập kết ra Bắc, niềm thương nỗi nhớ miền Nam làm cho hình ảnh em bé đốt kho xăng sống dậy, tôi dồn tâm sức viết vở kịch “Lửa cháy lên rồi”. Năm 1982, Xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu TP.HCM dựng bộ phim “Ngọn lửa thành đồng” dựa trên kịch bản của tôi do anh Lê Mộng Hoàng đạo diễn.

Dù thời gian đã qua hơn 60 năm nhưng hẳn là còn nhiều bằng chứng chưa được khai thác hết. Đã có lớp lớp người tiếp bước tấm gương vì nước quên thân cao cả ấy để Tổ quốc Việt Nam được về lại với con Lạc cháu Hồng, thì bỗng dưng từ một bản tin của phóng viên Khôi Nguyên đài BBC phát đi làm xôn xao dư luận: “Tại cuộc họp mặt của Hãng phim Truyền hình Việt Nam vào cuối tháng 2/2005 tại Hà Nội, GS Phan Huy Lê là một trong hai nhà sử học (ông Dương Trung Quốc) được mời dự, đã tiết lộ: Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật!”.

Vì sao chỉ với mấy lời phát ngôn bất chợt của ông chánh sử gia trong cuộc họp mặt không dính dáng gì tới sử học, lại dựa vào uy tín của một nhà cách mạng, một sử gia bậc thầy đáng kính đã khuất bóng từ lâu, để đưa ra một vấn đề sử học rất nhạy cảm, làm lung lạc niềm tin của không ít người kể cả những người ít nhiều chữ nghĩa?!

Khi tung ra lời nói giật gân như thế, ông Phan Huy Lê úp mở tiết lộ dần ra: “Anh Trần Huy Liệu tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè”! Nghĩa là ông trùm truyền thông lúc đó ngồi ở Hà Nội “bịa” ra một chú bé Lê Văn Tám ở Sài Gòn với hành động huyễn tưởng liều mạng thí thân để lừa mị nhân dân cả nước! Coi như một món hàng có giá, ông Lê tiếp thị: “Tôi đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này (Lê Văn Tám) một cách chi tiết và thấu đáo, nhất là dưới góc nhìn của lịch sử và tôi dự định trong thời gian sớm nhất”. Nhưng vì “không muốn việc của mình bị cuốn vào các sự kiện lớn khác, phải cần một điều kiện bình thản hơn, chờ đợi một dịp thuận lợi và nhất định tôi sẽ làm”! Tưởng rằng ông Phan Huy Lê sẽ dập tắt ngay “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” bởi đó là chuyện do ông Trần Huy Liệu “bịa” ra! Hơn 4 năm sau, câu chuyện râm ran và càng lan rộng gây bất an lòng người và công luận phản ứng bất bình, ông Lê chối khéo bằng những lập luận loanh quanh, mơ hồ, lắt léo! Để chứng tỏ cách làm việc rất chi là khoa học, ông Lê mất công lần mò đi “hỏi một số bác sỹ, và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy (50mét)”! Ai cũng biết thập niên 1960, để phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ ở Việt Nam, tại Sài Gòn và ngay cả bên nước Mỹ đã có hàng chục người nam nữ già trẻ tự thiêu, được đăng tải trên trang nhất các báo, kèm hình ảnh rất chi là xúc động. Có ông bác sỹ nào dớ dẩn dám quả quyết phán rằng trong ngọn lửa bừng bừng, một người tự thiêu bất kể lớn bé sẽ ngã lăn quay tại chỗ hoặc có thể chạy thêm được bao nhiêu mét nữa? Bất luận gì thì kho xăng địch bốc cháy từ mồi lửa do một chiến sỹ gây nên. Phải chăng khi tâm con người ta động thì nghĩ ra ý xấu và khẩu phát ra lời nói ác?!

Ông Lê đổi ý ngược với những lời ông đã tung ra mấy năm về trước: “Lê Văn Tám không phải là tên nhân vật lịch sử có thật nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hy sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng” với những lời giải thích vòng vo: Ông Trần Huy Liệu vì “không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS.THL) đã dựng lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét”, và “trên cơ sở sự kiện có thật chỉ dựng lên theo cách nói của giáo sư (THL) chuyện thiếu niên tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch”, khi “dựng chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương)”! (Tạp chí Xưa và Nay, số 340 tháng 9/2009).

Thừa nhận sự kiện “một chiến sỹ dũng cảm đốt kho xăng là có thật và là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng” thì việc chi ông Lê phải dùng những lời lẽ giật gân úp mở làm rùm beng lên chỉ vì một cái tên? Nhằm mục đích gì? Tưởng nhà sử học họ Lê khôn mà dại, tự lòi cái đuôi ra. Chính ông dẫn chứng báo Kèn gọi lính ngày ?/10/1945 đưa tin: “Một thiếu niên 16 tuổi nhất định không nói tên, họ, làng, tình nguyện lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm xầm vào kho đạn”. Trong khi khắp trong Nam ngoài Bắc, các tờ báo Quyết chiến, Thời mới, Cờ giải phóng… đăng tải chuyện đó rần rần với những tình tiết khác nhau. Một nguồn tin tả: “Đội viên cảm tử là em Tám, 13 tuổi được giao nhiệm vụ giả câu cá, cắt cỏ bên sông để quan sát. Thừa lúc địch sơ hở, Tám lọt được vào ẩn nấp ở bên trong với một chai xăng và bao diêm. Lúc mười giờ sáng, em tiếp cận, tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa đốt… Một tiếng nổ long trời làm rung chuyển cả thành phố! Khắp người Tám bị dính xăng, bắt lửa, như cây đuốc sống. Em đã hy sinh anh dũng. Kho đạn bị phá hủy hoàn toàn. Đài phát thanh bên kia đường bị sập một phần lớn. Cả đại đội lính Âu Phi bị tiêu diệt”. Và một nguồn tin khác: “Chiến sỹ cảm tử đã đột nhập đốt cháy kho đạn đường Docteur Angier cạnh Đài phát thanh… Mười giờ rưỡi, một tiếng nổ long trời phát ra làm cả kho đạn nổ đến chập tối ngày hôm sau mới chấm dứt. Đài phát thanh và nhiều phố xá kế cận bị sập. Trụ sở Bộ chỉ huy của tướng Le Clerc nát như cám(!). 600 tấn bom đạn, thuốc nổ và 40 tên lính Pháp thành mây khói”… Vậy thì ông Trần Huy Liệu còn gì để “chế biến” ra một Lê Văn Tám thứ hai? Muốn thanh minh vì lỡ trớn với ông thầy, ông Lê cứ nói quẩn quanh: “Trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sỹ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ngọn đuốc sống” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám nhằm động viên tinh thần chiến đấu của quân dân trong những năm đánh Mỹ (?!)”.

Ông Phan Huy Lê thề rằng: “Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học”! Cho dù sự việc chính do ông Trần Huy Liệu nói ra thì vẫn phải có bằng cớ thuyết phục trước bao nhiêu người đồng thời sống cùng sự kiện, huống chi câu chuyện phiếm giữa hai thầy trò mà một người đã về cõi thiên thu non nửa thế kỷ rồi và người đặt điều lại đưa ra những tình tiết tiền hậu bất nhất đầy mâu thuẫn. Đều là nhà sử học, tại sao ông thầy không chỉ rõ đích danh bài viết? Tại sao các trò không hỏi cho rõ ra sự thật? Tại sao ông Nguyễn Đình Thanh, ông Nguyễn Công Bình đều là đồng môn, đồng tuế, đồng liêu, được ông Lê gán cho là biết chuyện mà vẫn im hơi lặng tiếng trước sự bối rối của một thân hữu đầy danh vọng? Nhà nghiên cứu sử Dương Trung Quốc nổi tiếng là người táo bạo và mạnh miệng cũng lờ đi? Lý do nào để có những người dễ tin đến thế?

Sự kiện lịch sử chấn động từ Nam ra Bắc mà thời gian càng lùi xa, những chứng nhân ngày càng vắng bóng thì những kẻ tim đen dạ tối xuyên tạc càng nhiều và càng ra công bươi móc. Sự việc rõ ra như thế, nếu như ông thầy sử học họ Phan là người “trung thực, có trách nhiệm và danh dự công dân” tất phải có lời cải chính công khai minh bạch trên các phương tiện truyền thông, chứ không để mặc cho dư luận xã hội đồn thổi những lời xúc phạm anh linh liệt sỹ và người thầy khả kính, làm lớp trẻ không biết tin ai, gây mất ổn định xã hội trong tình hình đất nước lại đang bị họa ngoại xâm đe dọa. Bất cần ông Lê đồng lõa hay chỉ là sự hớ hênh thì bọn người cơ hội đầy rẫy đây kia vẫn lợi dụng việc này để bêu xấu cuộc kháng chiến của ta đồng thời làm hoen ố danh dự của ông. Vậy mà ông còn hùng hồn lý sự: “Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực”! Vậy ông đã làm gì để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám?

Bây chừ hẳn GS. Ngô Vĩnh Long có thể bình tâm suy nghĩ lại xem những cứ liệu sử học của người đồng nghiệp tung ra dù chưa được kiểm chứng kỹ càng, liệu đã đủ sức thuyết phục chưa? Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức miền Nam tiêu biểu trọn đời cống hiến hy sinh cho sự nghiệp hòa bình, thống nhất, độc lập của Tổ quốc từng nói: “Người ta ai cũng có một gia đình để yêu thương, một quê hương để luyến nhớ, một Tổ quốc để phụng thờ, một dân tộc để phục vụ và một niềm tin hướng thiện. Người trí thức càng thấm sâu hơn điều ấy”. Những trí thức thế hệ ông như LS. Thái Văn Lung, KS. Nguyễn Ngọc Nhựt, NS. Lưu Hữu Phước, KS. Lâm Văn Tết, LS. Trịnh Đình Thảo, KTS. Huỳnh Tấn Phát, KS. Phạm Ngọc Thảo, LS. Nguyễn Thị Thanh Vân (Bà Ngô Bá Thành), BS. Phùng Văn Cung… đã cùng lớp con cháu đồng thời như Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn… góp phần xứng đáng làm nên một “Miền Nam thành đồng Tổ quốc”.

Nói chuyện lịch sử không thể dễ dãi, vô căn, vô tâm và không thể quên lời dạy của người xưa: Sự kiện lịch sử, thời gian càng xa càng nhiều cái khó tin. Người đời thường ưa cái lạ, nghe được một điều truyền lại thì muốn viết cho lớn chuyện lên, thế là gạt bỏ cái đồng, truy tìm cái dị, khiên cưỡng phụ họa, sống sượng thêm bớt. Ghi sử quý ở chỗ đáng tin. Người viết sử phải chịu trách nhiệm với cả đất nước, nếu như lại tùy tiện viết sai thì thật là nguy hại! (Lưu Hiệp – Văn tâm bửu giám).

TP.HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2015

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 384

Ý Kiến bạn đọc