Người tốt - Việc tốt

Lại đọc Nhật ký trong tù

Với tôi, Nhật ký trong tù của Bác trở thành tập thơ gối đầu giường một cách tự nhiên từ lúc nào không biết. Tôi đã đọc đi đọc lại tập thơ này nhiều lần. Mỗi lần đọc, lại phát hiện nhiều cái mới, nhiều cảm xúc mới, nhiều nhận thức mới.

Là một người cầm bút, trước hết tôi xem tập thơ là lời dạy của một bậc thầy đích thực của nghề văn, nghề báo phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Chỉ bằng sự phản ánh hiện thực tài hoa của mình, không cần phải dùng lời khuyên bảo khô khan, Bác đã dạy người cầm bút những ngón nghề cốt yếu nhất, tinh túy nhất. Như một thói quen, tôi thường giở Nhật ký trong tù ra đọc mỗi khi có thể, nhất là những khi đang loay hoay tìm cách viết.

Ở một nơi hẹp không gian, thiếu thời gian, hiếm giấy mực, mất tự do, mà Bác đã vượt lên tất cả, để lại cho đời một tặng phẩm quý giá đến như thế, rút ra từ hồn cốt, tim óc của mình thì đủ để gọi Bác là Danh nhân văn hóa.

Với một người sống no đủ, ngày rộng tháng dài, muốn viết cho ra một tác phẩm đã không dễ rồi, huống chi một người tù. Phải là một con người phi thường mới có đủ nghị lực, trí tuệ và tấm lòng bao dung quảng đại như thế để quên mình, nghĩ đến nhân gian, nhân loại, nghĩ đến tự do, hạnh phúc cho mọi người. Danh nhân văn hóa là như thế đó. Tập thơ Nhật ký trong tù để lại cho người đời biết bao bài học quý giá và súc tích, dễ hiểu, dễ cảm nhận nhất.

Nhat-ky-trong-tu

Với người cầm bút, bài học vỡ lòng được đặt ra là “viết cho ai, phục vụ ai?”. Với một bài học lớn như thế, cơ bản như thế, thay vì phải viết hàng pho sách lý luận dài dòng, Bác chỉ nói:

“Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

(Cảm tưởng đọc Thiên Gia thi)

Có cần phải tốn nhiều lời nữa không khi nêu lên quan điểm rõ ràng, dứt khoát của nghề viết là viết vì cuộc sống, vì con người, muốn thế phải chiến đấu, chống bất công, áp bức, chứ không phải chỉ ngồi ngâm hoa, vịnh nguyệt.

Ngày nay, chúng ta vẫn còn phải tốn nhiều giấy mực để cổ vũ nhà văn, nhà báo đi vào cuộc sống, bám sát thực tiễn để viết lách thì Bác chỉ cần nói ngắn gọn như thế thôi, và bằng thực tế sáng tác của mình, Bác đã làm gương trước hết. Qua nhiều bài thơ của mình trong tù, Bác đã cực lực lên án chế độ nhà tù vô nhân đạo của giai cấp thống trị, bênh vực hết lòng những người dân bị cầm tù, bị bạc đãi tàn nhẫn.

Trong bài “Bị hạn chế”, Bác viết:

“Đau khổ chi bằng mất tự do
Đến buồn đi ỉa cũng không cho;
Cửa tù khi mở, không đau bụng,
Đau bụng thì không mở cửa tù”

Bằng con mắt quan sát tinh tường, Bác ghi lại được những điều lố bịch, hài hước phản ánh chế độ thống trị thối tha qua cảnh tù đày buông lỏng không kiểm soát.

Trong bài “Đánh bạc”, Bác viết:

“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai;
Bị tù, con bạc ăn năn mãi:
Sao trước không vô quách chốn này!?”

Qua bài “Gia quyến người bị bắt lính”, Bác viết:

“Biền biệt anh đi không trở lại,
Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;
Quan trên xót nỗi em cô quạnh
Nên lại mời em tạm ở tù!”

Ở bài “Cấm hút thuốc”, Bác viết:

“Hút thuốc, nơi này cấm gắt gao
Thuốc anh nó tước, bỏ vào bao;
Nó thì kéo tẩu, tha hồ hút,
Anh hút, còng đây, tay ghé vào”

Trong bài “Cháu bé trong ngục Tân Dương”, Bác lại viết:

“Oa…! Oa…! Oa…!
Cha trốn không đi lính nước nhà;
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,
Phải theo mẹ đến ở nhà pha”

Tù nhân, hầu hết là những người lao động nghèo khổ, không có chút thế lực nào, không được ai bảo vệ, bộ máy thống trị tha hồ chà đạp họ, áp bức, bóc lột họ. Một năm sống trong tù ngục, Bác có thêm vốn thực tế sinh động để càng nung nấu lòng yêu nước, ý chí cách mạng sôi sục của mình. Bác quan tâm tới từng số phận, mỗi con người. Người rất nhạy cảm. Một tiếng sáo, một ánh trăng, một tiếng gà gáy cũng khiến người rung động, thương yêu. Ít ai tưởng rằng một vị lãnh tụ lại có trái tim nghệ sĩ đến như thế. Thật may mắn cho chúng ta, có được một tấm gương cao quý để học hỏi, noi theo.

Bài học tiếp theo là sự giữ gìn ý chí chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng yêu dân, yêu nước. Sách có câu “Mất ý chí là mất tất cả”. Biết vậy, nhưng giữ được ý chí không phải chuyện dễ. Sống trong nghịch cảnh mới biết con người bị thách thức thế nào. Ngay khi bước vô tù, Người đã xác định sẵn:

“Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao”

Trong bài “Tự khuyên mình”, Bác viết: 

“Ví không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”

Để chống lại cảnh tù đày ngồi không vô ích, Bác tìm mọi cách để làm điều có lợi cho mình, giữ gìn ý chí một cách tích cực mà bình thản, không lên gân. Trong bài “Học đánh cờ”, phong thái này được thể hiện rất rõ, rất đẹp và đáng nể phục:

I.

“Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người”

II.

“Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công,
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí
Gặp thời, một tốt cũng thành công”

III.

“Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh”

Một người tù mà ung dung tự tại, sáng suốt, vững vàng như thế, trên đời này dễ có mấy ai? Vậy mà Bác làm được, lại làm hay, làm giỏi nữa. Thế mới biết, ý chí của con người là có giá trị biết bao!

Mỗi khi mở tập Nhật ký trong tù ra, lòng tôi lại bồn chồn thương nhớ Bác, một người tù vĩ đại, vì nhiệm vụ cao cả bỗng dưng lại bị bắt cầm tù. Phẩm chất của một người tù đáng ra không được phép cầm tù đã bộc lộ đầy đủ, minh bạch qua thực tế cuộc sống đọa đày để trở thành một đóa sen hồng giữa môi trường ô uế.

Một bài học lớn lao nữa mà tác giả tập Nhật ký trong tù để lại là lòng thương người vô hạn.

Khi bị giải ngang qua một vùng đất hạn hán, khô cằn, Bác không nhớ mình đang khốn khổ trong cảnh tù, để chỉ biết xót thương cho người dân nghèo khó của nước bạn, qua bài thơ chứa chan tình người “Lòng An – Đồng Chính”:

“Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn,
Vì thế nhân dân kiệm lại cần;
Nghe nói xuân nay trời đại hạn,
Mười phần chỉ thu hoạch đôi phần”

Nhớ công những người “Phu làm đường”, Bác viết:

“Dãi gió, dầm mưa chẳng nghỉ ngơi,
Phu đường vất vả lắm ai ơi!
Ngựa xe, hành khách thường qua lại,
Biết cảm ơn anh được mấy người?”

Tả cảnh cùng cực trong tù, qua bài “Cái cùm”, Bác viết:

I.

“Dữ tựa hung thần, miệng chực nhai,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Mọi người bị nuốt chân bên phải,
Co duỗi còn chân bên trái thôi”

II.

“Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật,
Cùm chân sau, trước cũng tranh nhau;
Được cùm chân mới yên bề ngủ,
Không được cùm chân, biết ngủ đâu?”

III.

Người biết yêu người, yêu đời, cũng là người yêu thiên nhiên say đắm.

Thiên nhiên đối với Bác đã trở thành bầu bạn, người sẻ chia không thể thiếu được. Bài “Ngắm trăng” của Bác bộc lộ rất rõ tâm trạng này:

“Trong tù, không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Trong bài “Trên đường”, tình yêu thiên nhiên nơi Bác mới nồng nàn, tha thiết làm sao:

“Mặc dù bị trói chân tay,
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;
Vui say, ai cấm ta đừng,
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu”

Một tiếng cối xay ngô vọng tới cũng khiến Bác xúc động, bồi hồi:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi say ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng”

Cho nên, có thể gọi Bác là điểm tựa của mọi người, một điểm tựa vững chắc về ý chí, đức thương người và quan niệm sống cao cả của một vị lãnh tụ hết lòng yêu dân, yêu nước.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 384

Ý Kiến bạn đọc