Truyện ngắn

Lá rụng về cội

 

Xóm Trại xôn xao khi một chiếc xe con màu trắng đột ngột xuất hiện giữa buổi chiều muộn ở cái vùng ven đê, xa trung tâm phố huyện này đúng lúc mọi người đang hối hả chạy mưa. Người thì thu rơm, người thì quét thóc và tìm đồ che đậy khi cơn mưa rào chuẩn bị ập đến. Không nhanh chân nhanh tay thì ướt hết mẻ thóc, mẻ rơm đã gần khô. Người đàn ông chừng ngoài 70 tuổi, mặc quần áo sang trọng, đi giầy đen bóng lộn, bước xuống xe, hỏi thăm đường, giọng khẩn thiết:

- Chị làm ơn chỉ đường giúp tôi đến nhà bà Mận ở xóm Trại, làng Thượng.

- Kia kìa! Cái nhà có cây mít ở trước sân ấy – Một chị vừa trả lời ông khách lạ vừa vội vàng dồn thóc vào bao.

- Cảm ơn chị nhiều lắm!

Không có ai đáp lời ông khách lạ. Trẻ con cũng không reo hò như mỗi lần xóm Trại xuất hiện xe 4 bánh vì chúng còn đang giúp bố mẹ chạy mưa. Chiếc xe con chạy thẳng đến ngôi nhà 3 gian có cây mít ở ngay trước sân, quả sai lúc lỉu từ dưới gốc mọc lên. Không biết buổi chiều hôm ấy trong nhà bà Mận diễn ra cuộc trò chuyện như thế nào nhưng hôm sau người làng Thượng đồn ầm lên rằng ông khách lạ hôm trước chính là cha đẻ của anh Hiếu, con nuôi bà Mận, rằng ông ấy về xin bà Mận cho nhận lại con để đưa sang Mỹ định cư, rằng ông ấy biếu bà Mận một bọc tiền toàn đô la là đô la. “Phen này bà Mận giàu to rồi, chắc không phải ăn dè hạt tiện nữa”. “Số bà Mận thế mà có hậu, cả đời nghèo khổ, không ngờ bây giờ giàu nhất làng”. “Biết thế này người làng Thượng đã tranh nhau nhận nuôi anh Hiếu rồi chứ chả đến lượt bà Mận”. “Ở đời ai biết trước được chữ ngờ”… Cứ thế, mỗi người góp một câu, còn thực hư thế nào chỉ bà Mận là người biết rõ nhất.

*
Hơn 30 năm về trước, làng Thượng râm ran, chỗ nào cũng thấy người ta bàn tán chuyện một đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi ở cổng chùa Muống. Sư thầy Giác Hải dậy sớm quét dọn nên phát hiện đứa trẻ đỏ hỏn nằm gọn trong một bọc quần áo, đang khóc oe oe vì khát sữa. Sư Hải bế đứa bé đi khắp làng trên xóm dưới để xin cho nó bú nhờ và mong có gia đình nào nhận nó làm con nuôi thì phúc cho nó. Nhưng đi đến đâu người ta cũng lắc đầu. Có bà mẹ hai bầu sữa căng rực mà vẫn từ chối: “Thầy ơi, con toàn ăn khoai, ăn sắn nên mất cả sữa, thầy bế nó đi nhà khác xem sao”. Có bà mẹ nể sư Hải nên cho nó bú nhưng sư đi khỏi là vội vàng lau ngay hai bầu ngực như sợ một thứ bệnh truyền nhiễm sẽ ngấm vào mình.

Hồi ấy, làng Thượng mất mùa liên miên vì lụt lội, vỡ đê nên nhà nào cũng túng đói, đến những đứa con đứt ruột đẻ ra họ còn không cho ăn no được nữa là nhận nuôi thêm một đứa trẻ không biết nguồn gốc. Nhiều người tò mò chỉ vạch mặt xem đứa bé giống ai rồi lắc đầu nguầy nguậy. Họ nắm bắt thông tin, ngồi tụm năm tụm ba thì thèo và đi đến kết luận: đứa trẻ không phải con của người vùng này, cả vùng chẳng có người đàn bà nào chửa hoang cả: “Chỉ có cái ngữ ấy mới vứt khúc ruột của mình đi thôi”.

Sư Hải kiên trì bồng bế đứa bé đi xin sữa khắp vùng. Nhiều khi sư phải pha nước đường cho nó uống để nó khỏi khóc vì đói. Nhìn đứa bé côi cút, vô tội, bà Mận động lòng thương. Bà đến chùa xin sư thầy cho mình nhận nó về nuôi. Sư Hải động viên bà Mận: “Bà làm ơn làm phúc cũng là tích nhân tích đức. Trời Phật sẽ phù hộ cho bà. Sau này thằng bé lớn lên nó cũng sẽ không phụ công bà”. Sư Hải đặt tên cho đứa bé là Hiếu, lấy họ bà Mận thành Nguyễn Trung Hiếu và trao cho bà tất cả tã lót của đứa bé, phòng khi có người đến nhận còn biết đường đối chứng. Bà Mận vâng vâng dạ dạ rồi bế Trung Hiếu ra về. Làng Thượng biết chuyện, ai cũng bảo bà Mận rõ là lẩn thẩn, ôm rơm cho rặm bụng, ngoài 50 tuổi rồi còn nuôi con mọn, lại không phải máu mủ của mình. Thời buổi đói kém, phải chạy ăn từng bữa mà bà Mận nhận nuôi thêm một miệng ăn thì chẳng khác nào thân làm tội đời.

So-548--Song---Tran-Van-Quan
Sống – khắc gỗ – Trần Văn Quân.

Bỏ mặc ngoài tai những lời đàm tiếu, bà Mận chăm sóc, nuôi nấng Trung Hiếu như nuôi con đẻ của mình. Bà đã trải qua nhiều đận túng đói triền miên nên gặp lúc mất mùa, thóc cao gạo kém bà vẫn có cách xoay xở được. Đang sống cô độc một thân một mình, giờ có đứa trẻ như có bầu có bạn, bà Mận cũng thấy vui cửa vui nhà. Trung Hiếu giúp bà khuây khỏa những nỗi cay đắng, khổ đau mà đời bà đã nhiều lần nếm trải.

Thời con gái bà Mận đẹp nhất nhì làng Thượng. Ai cũng tấm tắc khen cô Mận da trắng, môi đỏ lại chịu khó làm ăn thì lấy ai mà chẳng được. Hồi ấy ông Tư là địa chủ, giàu nứt đố đổ vách, vàng chôn cả ống bơ ở góc nhà. Thế mà cậu Quý, con trai ông đến hỏi cô Mận làm vợ, không biết buông lời trêu ghẹo ra sao mà bị cô từ chối và hắt cả chậu nước vào mặt. Cậu Quý tức lắm, về đòi ông Tư đến hỏi cô Mận bằng được. Nghe đâu ông Tư phải nhờ cả thầy pháp làm bùa ngải gì đó để cô Mận bằng lòng vậy mà cũng không xong. Cả làng sửng sốt khi biết tin cô Mận lấy anh Thống, con ông đồ Nho ở xóm Trại, người vừa đen vừa xấu. Nhà ông Nho lại đông con, có tới 9 người con cả thảy. Anh Thống là con trưởng, dưới anh còn 8 đứa em lít nhít. Có người chép miệng: “Đúng là hồng nhan vất vả, đường quang không đi lại đâm quàng bụi rậm. Cô Mận mà lấy con ông Tư thì khác nào chuột sa chĩnh gạo”. Mà cô Mận cũng có biết thế nào là tình yêu đâu. Cô thương anh Thống sớm mồ côi mẹ, nhà nghèo nên anh Thống hỏi cưới là cô đồng ý liền. Sau hôm cưới cô về nhà đẻ ở xóm Đình lấy thúng thóc, gọi là của hồi môn đem về nhà chồng. Lúc trở lại nhà chồng, trời lại nhá nhem tối, chỉ vì chưa thuộc đường nên cô phải hỏi thăm nhà ông đồ Nho ở chỗ nào khiến hàng xóm nhà ông Nho cứ ôm bụng cười. Sau này kể lại nhiều người còn không tin.

Cô Mận cưới anh Thống được 3 tháng thì làng Thượng có đợt tổng tuyển quân. Anh Thống gia nhập đoàn quân kháng chiến chống Pháp, chiến đấu ở vùng rừng núi Tây Bắc, bảo vệ biên giới Việt – Lào. Năm 1954, đơn vị anh Thống được huy động tăng cường cho chiến dịch Điện Biên Phủ, phải hoạt động bí mật nên cô Mận không nhận được tin tức gì của chồng. Cô mang thai đứa con đầu lòng mà cũng không làm cách nào để báo cho chồng biết. Không ngờ anh Thống hy sinh trong trận đánh cuối cùng ở chiến dịch Điện Biên Phủ, khi chưa biết rằng mình có một đứa con trai. Cô Mận đau lắm nhưng cô vẫn phải sống, phải gồng mình lên mà làm lụng để nuôi con và nuôi các em chồng bởi ông đồ Nho cũng mất rồi. Nước mắt hòa cả vào mồ hôi mặn đắng, cô cứ vùi đầu vào công việc đồng áng. Mỗi vụ gặt hợp tác xã chia thóc ở sân kho theo đầu người thì nhà cô Mận bao giờ cũng được nhiều nhất. Nhưng khổ nỗi được nhiều thì cũng ăn nhiều. Cô là chị dâu cả trong nhà nên quán xuyến mọi việc. Cô sợ “miệng ăn núi lở” nên nhà có nhiều thóc thì cô vẫn nấu cơm độn khoai, độn sắn. Có đứa em chồng không hiểu cứ cho cô là hà tiện. Gần chục đứa em chồng đang tuổi ăn tuổi lớn nên chúng ăn như tằm ăn giỗi. Cô Mận ngồi đầu nồi, xới không kịp các cánh tay nhao bát ra. Có nhiều bận cả nhà ăn xong rồi mà nồi cơm vẫn còn bốc khói hoặc cơm hết sạch rồi mà vẫn còn cánh tay chìa bát ra khiến cô phải nói khéo: “Hôm nay chị đi chợ nhìn thấy người ta bán quả bưởi to bằng cái nồi này này” và cô nghiêng nồi cơm đã hết nhẵn ra khiến bao bộ mặt tiu nghỉu. Cô Mận thường nhường các em và nhường con nên chỉ ăn khoai, ăn sắn hay cạo cháy sau cùng. Thế rồi 8 đứa em lần lượt trưởng thành. Cô Mận đứng ra dựng vợ gả chồng cho từng đứa một. Nhưng cuối cùng thì chẳng có đứa em chồng nào ở lại làng với cô. Họ lần lượt kéo nhau đi lập nghiệp ở xứ người, thi thoảng mới kéo nhau về thăm mẹ con cô Mận.

Nỗi vất vả cơ cực, khổ đau khiến cô Mận già đi nhanh lắm. Mới ngoại tứ tuần mà mặt cô đã đầy nếp nhăn. Nước da trắng hồng thời con gái giờ cũng chuyển sang màu sạm nắng. Người làng Thượng lúc ấy đã gọi cô là bà vì bà Mận đã có con dâu. Trước khi anh Nhất, con trai bà Mận xung phong đi B thì anh đã tính toán việc nhà đâu vào đấy cho u anh đỡ vất vả. Anh cưới chị Chuyên, người cùng xóm, một cô gái vừa ngoan hiền vừa chăm chỉ đúng như nguyện vọng của bà Mận. Bà không ngờ con trai mình vừa cưới vợ tháng trước thì tháng sau đã đi theo đoàn quân Nam tiến. Bà không níu kéo con trai nhưng hôm tiễn anh Nhất lên đường, bà cố nuốt nước mắt vào trong trước đám đông, về nhà bà cứ ngồi ở góc bếp khóc rưng rức. Vừa khóc bà vừa lầm rầm trách móc: “Tiên sư nó chứ, đã định đi đánh thằng Mỹ thì còn cưới con gái nhà người ta làm gì để làm khổ con người ta. Nhà có một mẹ một con mà nó có thèm nói trước với u nửa lời đâu chứ”. Chị Chuyên phải khuyên giải mãi bà Mận mới chịu ăn cơm: “Thôi u đừng khóc nữa, nhà con sợ u ngăn cản không cho đi nên giấu u, chứ con thì con biết ý định của nhà con rồi. Con người ta sống chết có số u ạ. U đừng lo lắng làm gì cho sinh bệnh”. Bà Mận lấy khăn vấn đầu chùi vội giọt nước mắt vừa lăn ra trên gò má nhăn nheo: “Con nghĩ được như vậy u cũng đỡ áy náy”.

Anh Nhất đi được 6 tháng thì có giấy báo tử về làng, kèm thêm dòng chữ “hài cốt mất tích”. Bà Mận rụng rời chân tay còn chị Chuyên thì ngất lên ngất xuống. Hai người đàn bà ôm nhau khóc tức tưởi trong căn nhà 3 gian lạnh lẽo. Sau này đồng đội của anh Nhất tìm về tận nhà bà Mận trao cho bà và chị Chuyên chiếc ba lô và một quyển sổ kẹp 13 lá thư chưa kịp gửi về cho u và cho vợ của anh. Anh Nhất đã hy sinh trong trận đánh bảo vệ thành Quảng Trị, không rõ hy sinh lúc nào, ngày nào nên cứ đến ngày 27-7 hàng năm – ngày Thương binh Liệt sĩ là mẹ con bà Mận làm mâm cơm thắp hương.

Sau ngày đất nước thống nhất, trai xóm Trại có 3 người trở về thì chỉ có duy nhất một người còn lành lặn là anh Viên, còn hai người kia đều bị thương. Anh Núi thì bị cụt một chân còn anh Định thì bị một vết thương ở đầu, cứ trái gió trở trời là anh lại lên cơn như người thần kinh, chạy khắp làng la hét, hô “Xung phong”. Nhìn thấy họ, mặt bà Mận cứ ngẩn ra, thương trào nước mắt.

Thấy chị Chuyên ngày một héo mòn, bà giục: “U coi con như con gái nên mới nói. Con định ở vậy suốt đời hay sao? Đàn bà sống một thân một mình khổ lắm. U chẳng sống mãi mà ở cùng con được đâu, phải tìm một chỗ dựa con ạ!”. Chị Chuyên chỉ lặng im, rưng rưng, không nói. Nghe dân làng xì xào rằng anh Núi có tình ý với chị Chuyên, bà Mận càng giục tợn: “U thấy anh Núi là người tốt tính, lại cũng hoàn cảnh. Gia đình anh ấy có nề có nếp, biết quý người. Nếu con ngại với làng với nước thì u đứng ra tổ chức cho, không phải về nhà đẻ đâu”. Chị Chuyên thẽ thọt: “Thưa u… nhưng con đi lấy chồng thì u ở với ai?”. Biết là con dâu đã ưng bụng, bà Mận chửi yêu: “Tiên sư chị chứ, tôi ở một mình chứ cần gì phải ở với ai. Chị sống hạnh phúc là tôi cũng mừng lây rồi”.

Chị Chuyên lấy anh Núi được 3 năm thì bà Mận đón Trung Hiếu về nuôi. Lúc ấy con bé Cần, con gái đầu lòng của vợ chồng chị Chuyên được 2 tuổi. Ông bà nội của nó quý nó như cục vàng, coi nó như báu vật nên giữ khư khư, chẳng mấy khi nó được đến chơi với bà Mận. Khi biết chuyện bà Mận nhận con nuôi, chị Chuyên cũng đồng tình vì chị hiểu bà rất sợ cô đơn.

Tính bà Mận vốn tiết kiệm, lại hay lo xa nên dù nhà có hai miệng ăn, thóc còn đầy trong hòm mà bà vẫn nấu cơm độn khoai, độn sắn hoặc có bữa phải ăn ngô bung. Năm nào bà cũng dự trữ lương thực, nhỡ khi mất mùa, đói kém thì biết lấy gì mà ăn. Thiên tai, lũ lụt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vùng quê của bà là vùng trũng nên mưa vài trận liên miên là lúa ngập hết, chẳng có gạo mà ăn. Bà Mận thường dạy Trung Hiếu phải biết quý hạt gạo, nếu đánh rơi một hạt cơm cũng phải nhặt lên, sạch thì ăn, bẩn thì đem cho gà, cho cá kẻo “phải tội”. Cu Hiếu rất ngây thơ. Nó hỏi bà Mận:

- Sao lại phải tội hả u?

- Con có biết làm ra được hạt gạo như thế này phải mất bao nhiêu công đoạn, bao nhiêu mồ hôi không? Lãng phí là phải tội với người đã làm ra hạt gạo đấy. Từ nay ăn xong con phải vét nồi thật sạch, nghe chưa?

Cu Hiếu ngoan ngoãn vâng lời. Thế là sau bữa ăn nó lấy thìa vét nồi quèn quẹt, đến hàng xóm cũng nghe thấy. Đôi đũa cả xới cơm được nó liếm sạch sẽ khiến bà Mận chẳng mất công rửa lâu. Bà thường kể chuyện ngày xưa cho Hiếu nghe vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ: “Ngày xưa làm gì có khoai, có sắn mà ăn. Đến củ chuối người ta còn tranh nhau đi đào. U đã từng phải ăn cháo cám đấy. Ông cụ đẻ ra u thì chẳng có cháo cám mà ăn, bị chết đói hồi Ất Dậu, đến là khổ. Bà cụ đẻ ra u và 3 chị em u chẳng có hơi sức đâu mà khóc, cứ lả người đi vì đói”. “Ngày xưa có ai được sướng như bây giờ đâu, lúc nào cũng lo ngay ngáy vì máy bay Mỹ nó thả bom, chết người hàng loạt”. “Ngày xưa…”. Cứ thế bà Mận kể chuyện ngày xưa cho Hiếu nghe như kể chuyện cổ tích vậy. Thằng bé gối đầu lên cánh tay bà, chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Quay đi ngoảnh lại thế mà đã hơn 30 năm rồi. Cây mít trước sân nhà bà Mận năm nào cũng ra quả, sai chi chít và lúc chín thì ăn ngọt lịm. Bà Mận mang bán thì ít mà mang cho khắp xóm thì nhiều. Ai cũng quý và nể bà không hẳn vì bà được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà vì bà có tấm lòng thơm thảo và biết nuôi dạy anh Hiếu thành người. Bây giờ Hiếu đã trở thành một bác sĩ, trạm trưởng trạm y tế xã. Bà Mận cứ giục anh cưới vợ kẻo bà chẳng còn hơi sức đâu mà bế cháu nhưng anh vẫn chưa chọn đám nào. Bà đã bước sang tuổi 80, cái tuổi gần đất xa trời, trong lòng bà chỉ đau đáu hai nguyện vọng: một là tìm được hài cốt của người con trai duy nhất đem về nghĩa trang Liệt sĩ ở quê, hai là tìm được cha mẹ đẻ của anh Hiếu thì bà mới yên tâm nhắm mắt.

Cuộc gặp gỡ với ông khách lạ ngay tại nhà bà Mận vào buổi chiều mưa ấy đã giúp bà hoàn thành một tâm nguyện. Ông ấy chính là cha đẻ của anh Hiếu, là Việt kiều vừa từ Mỹ trở về Việt Nam để tìm con. Trước khi qua đời, vợ ông mới nói ra sự thật rằng con trai ông vẫn còn sống chứ không phải đã chết từ lúc lọt lòng như lời bà ấy nói dối lúc chạy theo ông ra nước ngoài. Giọng ông run run: “Ba mươi năm qua bà ấy sống trong ám ảnh, giày vò nên sinh bệnh, cứ nằm liệt một chỗ 7 năm trời mới mất. Chúng em là người bên kia sông, chuyện quá khứ dài lắm, lúc nào rảnh em sẽ kể cho chị nghe. Em biết ơn chị nhiều lắm. May nhờ sư Hải còn minh mẫn mà em mới tìm được đến đây”. Đúng là ông ấy có biếu bà Mận mấy nghìn đô la nhưng bà Mận từ chối: “Suốt đời tôi ở trong lũy tre làng, tôi chẳng đi đâu mà dùng đến tiền. Thôi, ông cứ giữ lấy cho con ông”. Anh Hiếu đã được bà Mận chuẩn bị tâm lí từ trước nên anh cũng không vì thế mà bàng hoàng. Anh còn trấn tĩnh bà Mận: “U đừng lo lắng gì cả, con không đi Mỹ đâu, con ở với u quen rồi”. Bà Mận chậm rãi nói: “Con ạ! Đúng là lá sẽ rụng về cội. Cha con tìm được con là u mừng lắm rồi. Ở lại hay đi Mỹ là tùy con quyết định”. Anh Hiếu vừa bóp cái lưng còng của bà Mận vừa thông báo một tin làm bà mừng rơi nước mắt: “Con sắp cưới vợ, không biết u có đồng ý không, cô Na dạy mẫu giáo u ạ!”. Bà Mận hỏi dồn: “Thật thế hả, đúng là hai niềm vui đến một lúc. Sao u lại không đồng ý cơ chứ. Tiên sư anh, cứ để u chờ dài cổ”.

*
Sáng nay trời mát mẻ, bà Mận dậy sớm trước khi đài huyện phát thanh. Bà vốn có thói quen dậy sớm từ thời con gái. Bà quét quáy từ ngoài ngõ vào trong sân, để khỏi ảnh hưởng đến giấc ngủ của các con. Khi tiếng loa truyền thanh của xã phát đến mục thông báo “Tìm thấy mộ liệt sĩ”, bà dừng chổi, nghiêng tai nghe ngóng: “… Liệt sĩ Bùi Văn Nhất, sinh năm 1954, trú quán ở làng Thượng, xã…, huyện…, tỉnh…, hy sinh năm 1974, hiện được an táng tại nghĩa trang xã… huyện… tỉnh Quảng Trị. Ai là thân nhân của các liệt sĩ trên xin liên hệ với Phòng Thương binh – Xã hội huyện…”. “Ối, ối giời ơi, Hiếu ơi, Na ơi” – Bà Mận buông rơi cái chổi, vừa ôm ngực vừa thở hổn hển chạy vào trong nhà: “Có phải, có phải loa vừa thông báo tìm thấy mộ anh Nhất không? Giời ơi! U chết được rồi. U nhắm mắt được rồi”. Anh Hiếu bật dậy khỏi giường: “U cứ bình tĩnh, để con lên Phòng Thương binh – Xã hội huyện hỏi xem sao. Rồi con sẽ đưa anh Nhất về cho u!”.

Bây giờ thì anh Nhất đã nằm cạnh cha mình trong nghĩa trang Liệt sĩ của xã, dưới dòng chữ đỏ chói “Tổ quốc ghi công”. Bà Mận lặng lẽ thắp tuần nhang lên mộ chồng và mộ con. Cái lưng còng của bà chẳng khác nào một dấu hỏi dường như đang giãn ra. Bà ngồi lặng hệt pho tượng cho đến khi bóng chiều tắt hẳn.

Trần Thúy Lành
(Tỉnh Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 548

Ý Kiến bạn đọc