Tản văn

Là hoa nên mãi xanh tươi

 

Cô bước đi đến đâu, đám trẻ chạy theo đến đó, đứa nắm tay, đứa líu ríu hỏi han đủ điều.

Mấy đứa nhỏ gọi bà Út, đứa lớn thì gọi cô Út; dẫu chúng gọi như thế nào thì cô vẫn như một người cô “ruột” (theo cách nghĩ về bà con thân tộc) của cả xóm này. Tôi nhìn theo bước chân cô, những bước chân thật chậm. Chậm vì sức khỏe tuổi già, hay chậm vì cô muốn nấn ná thêm, để nhìn cho kỹ mái nhà, cái bàn học của đứa học trò nghèo có trụ vững qua mùa mưa sắp đến…

Ở Mỹ Luông, một thị trấn ven sông của huyện Cù lao Chợ Mới, An Giang, hỏi cô Út Trinh, thì ai nấy trong địa phương đều biết. Tuy nhiên ngoài những người làm công tác “giấy tờ”, ít ai biết cô Út tên thật là Nguyễn Thị Tuyết Trinh (bí danh hồi kháng chiến là Hoàng Kiều Oanh) là một thương binh ¾. Cô là con gái Út của thầy Ba Hoài, người nuôi chứa đồng chí Ung Văn Khiêm trong những ngày đầu hoạt động cách mạng thời chống Pháp. Và trưởng thành lên, cô cũng là một trong những nữ cán bộ chủ chốt của huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong những ngày đầu sau giải phóng 1975. Người già neo đơn, đám trẻ quê và những “đứa con ruột” tật nguyền của cô không biết nhiều về chức vụ, thành tích và sự “gan góc dữ dội” của người phụ nữ gầy gò thân thuộc ấy. Họ chỉ biết, cô là một bà mẹ, bà cô “ruột” rất đỗi bao dung, hiền từ của cả xóm. Bởi đã ở tuổi ngoài 80, cô vẫn đi vận động quần áo, sách vở và có khi chút bánh kẹo làm niềm vui cho những đứa trẻ. Đôi lúc người ta lại thấy cô mang chai dầu cù là, thùng mì tôm hay bịch thuốc nhức mỏi cho những cụ già nghèo trong xóm. Cô đến thăm, động viên những trẻ em khuyết tật, người neo đơn bằng tất cả lòng yêu thương của một người từng “vào sinh ra tử”. Lâu lâu lại thấy cô đi ngang nhà, hỏi vói vào “Thằng nhỏ bớt đêm qua giờ có sốt lại không, con Tư” hay “Cái chân bớt nhức chưa chị Bảy”…

Cô đến, với chiếc xe đạp Farovite Tiệp Khắc cũ kỹ mua từ hồi mới giải phóng, và dẫu chiếc xe đạp có ràng, buộc đùm đề những bọc sách vở, bánh kẹo, gạo mì hay không thì đám trẻ vẫn luôn hồ hởi đón cô từ đầu xóm. Chúng sẽ hỏi cô đủ điều về cơn mưa hôm qua, những ngọn sét có làm cô giật mình hay không? Những đứa trẻ tuyệt nhiên không biết rằng, từ hồi lâu rồi, khi mảnh đất này còn bóng giặc, cô Út đã bỏ dở những năm tháng ước mơ thành cô giáo để đi làm cách mạng. Rồi cô bị địch bắt ngay trong ngày đám cưới. Hạnh phúc đầu đời tan vỡ và thiên chức làm một người mẹ cũng bị cướp mất vì di chứng của những trận đòn roi hiểm ác khi bị tù đày tra khảo. Đám trẻ không thể nào biết rằng trộn một lít muối và xà phòng, đổ hết vào họng một con người rồi dùng hai cực điện âm dương kẹp vào hai ngón tay là sẽ gây rối loạn cả hệ thống ion trong cơ thể. Để rồi cái di chứng ấy sẽ theo ám ảnh tinh thần, sức khỏe cô đến suốt đời. Đám trẻ chỉ biết rằng những cơn sấm sét vô tình trên phía lưng trời không tiếng súng, cũng có thể làm một “bà tiên tóc bạc như bông” lăn ra co giật, giãy giụa. Mớ bánh trái, gạo muối “bà tiên” tích góp từ tiền trợ cấp thương binh, văng tứ tung trên đường, trong đôi mắt bất lực (nhưng chưa bao giờ tuyệt vọng của bà), trong nỗi hoảng sợ và lo lắng của hết thảy mọi người lớn, nhỏ cả xóm dành cho bà cô “ruột” của mình.

So-636--Hoa---Bich-Khoa---Anh-1
Hoa – tranh kỹ thuật số – BÍCH KHOA.

Không vô tư như đám trẻ, nhưng những người dân xứ quê cũng không biết nhiều về những tấm huân chương cất đầy trong hộp thuốc ở nhà của cô Út. Họ chỉ nghe kể sau những tấm huân chương đó là một mối tình dang dở khi cô bị địch bắt tù đày ở khám lớn Long Xuyên suốt nhiều năm; nhưng nhà tù không thể đè bẹp ý chí của một cô gái hốc hác, gầy gò như cái cây khô vẫn cứ vươn lên thẳng đứng. Nhà tù đã lấy mất của cô khả năng làm vợ, làm mẹ… nhưng không thể nào đè bẹp được thiên chức một người mẹ và tấm lòng bao dung của một người phụ nữ yêu quê hương đất nước, dẫu trong cực nhọc lam lũ bao nhiêu lòng vẫn rộng bao la.

Có lần nhìn những bước chân chậm chạp của cô bước vào phòng họp chi bộ, bàn tay lần vịn từng cái bàn để đôi chân vững hơn, tôi thấy lòng mình thắt lại. Cô nói, vẫn sẽ đi làm cho đến khi cô không còn có thể. Cô giữ trọn lời thề của một người đảng viên. Và với chức vụ Chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi của xã, không một ngày nào cô không đến chiếc bàn nho nhỏ thân quen ở Ủy ban Nhân dân thị trấn. Không một buổi họp chi bộ nào thiếu vắng cô, dẫu trời có mưa to…!

Cô không nói nhiều về những dấu lặng của đời mình, nhưng người dân xứ này không thể nào quên. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cô sống độc thân trong một căn phòng tập thể sau lưng trụ sở cơ quan. Hừng đông một ngày mùa thu, ai đó đã đặt một đứa bé trai trước cửa Ủy ban Quân quản. Cô không biết ai đã đặt đứa trẻ trước cơ quan, nhưng trước mắt thì cô sẽ nuôi nó đã, rồi tìm lại gia đình cho đứa trẻ sau. Cô nuôi giữ đứa trẻ, thức đêm bồng nó đi cả cây số để gửi cho bú thép. Mỗi sáng đi làm, cô phải gửi đứa nhỏ cho một bà má ở xóm trên. Trưa về, nấu lấy nước cơm pha đường cho đứa trẻ uống. Cô quần quật giữa bộn bề công việc mới tiếp thu và đứa con thơ dại. Nhưng đó lại là niềm vui, giúp cô như cái cây khô vừa được mùa ra hoa trở lại.

So-636--La-hoa-nen-mai-xanh-tuoi---Anh-3
Chân dung cô Út Trinh ở Khám lớn Long Xuyên, tháng 10/1965 và hiện tại.

Người ta truyền nhau những thông tin nửa tin nửa ngờ, rằng đó là đứa con rơi ở trong sở Mỹ. Cha nó đã bỏ đi, mẹ nó vì không thể mang con về quê được nên để đứa nhỏ ở cổng Ủy quan Quân quản. Có tin lại nói rằng, cha mẹ đứa nhỏ lên tàu bỏ đi, nhưng vì căn cớ chi đó mà đứa trẻ bị lạc lại… Nhưng dù là thông tin thế nào, cô vẫn thương đứa trẻ. Cô nhớ lời Bác dạy, “Trẻ em như búp trên cành”, và đứa con của cô nhận nuôi, chính là mầm non của một xã hội mới, một xã hội yêu thương không còn tiếng bom đạn.

Có những ngày thơ ấu, đứa trẻ đi chơi trong xóm chạy về lay tay hỏi cô: “Mẹ ơi, người ta nói con là con của Mỹ, nếu mai mốt ba Mỹ về nhận, mẹ có cho con đi Mỹ không?”. Trẻ thơ hỏi những điều vu vơ nhưng cũng làm cô đắn đo suy nghĩ nhiều ngày. Cô vẫn yêu thương đứa trẻ hết lòng, nó là niềm vui cuộc sống của cô sau công việc. Nó đi rồi, cô sẽ buồn. Nhưng cô nghĩ, nếu đứa trẻ có một cuộc sống tươi đẹp, đầy đủ hơn, cô vẫn để nó đi để nó được nhiều hạnh phúc. Nhưng rồi không một ai quay lại tìm đứa trẻ, cô Út vẫn là người mẹ duy nhất, nuôi dạy thằng bé lớn khôn…

Bây giờ trong căn nhà tình nghĩa ấy, dẫu chỉ hai mẹ con sống với nhau, nhưng không bao giờ vắng lặng niềm hạnh phúc. Tôi có dịp ăn cơm cùng cô Út, cô bày trên mâm 6 cái chén cơm khác, gọi là chén vọng. Cứ mỗi bữa cơm, cô lại mời 6 đồng đội của mình về cùng ăn. Bữa cơm đạm bạc canh rau nhưng chưa bao giờ thiếu vắng những người xưa. Hình như, những người ngã xuống cho cuộc sống hôm nay vẫn vẹn nguyên trong cô một màu nguyên thủy. Cô nói với tôi, mỗi khi ăn cơm, cô đều nhớ đến đồng đội. Rồi mẹ con cô lại đi thăm mộ các anh các chú mỗi dịp lễ, và cả những lúc nhìn gió chướng trở ngọn, buồn thương chợt vương trên đôi mắt đã kéo mây vì tuổi già và những di chứng chiến tranh.

Cô nói, suốt cuộc đời mình, cô luôn ghi nhớ những lời trong di chúc Bác để lại: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Khi lớn tuổi rồi, cô mới thấy, cuộc đời dẫu dài đến đâu thì những cống hiến của mình vẫn không bao giờ tự thấy là “đã đủ”. Vậy nên, những năm tháng về hưu, cô vẫn chưa bao giờ “ngơi tay” để nghỉ. Cô vẫn cần mẫn như tằm “đến thác vẫn còn nhả tơ” cho đời, cho xã hội: “Sữa để em thơ, lụa tặng già”.

Đến từng ngõ ngách xóm nghèo, chở cọc cạch trên xe những bọc gạo, muối có khi có thêm mấy con cá khô mà cô tự tay làm lấy hoặc trái bí trái bầu trồng ở vườn nhà. Với những gì có thể làm được, cô đã cho đứa trẻ mồ côi, những người neo đơn hay những người nghèo khó có được một bữa cơm no. Rồi ngày mai những giàn bầu dây mướp sau vườn lại ra hoa kết trái. Những điều giản đơn thôi nhưng làm cho cô vui trong những ngày tháng hưu trí của mình. Chúng làm cô nhớ lại sự đùm bọc của bà con quê mình với cách mạng, với cô trong những ngày khốn khổ. Chúng nhắc nhớ cho cô những ngày “cơm nắm muối mè” nhưng lại rất no lòng.

Mấy tháng trước, tụi trẻ không biết vì sao tự dưng “bà tiên” biến mất. Chúng kéo nhau đến nhà cô Út. Cổng không khép, nhưng cửa khóa. Trên chiếc giường nhỏ đặt ngoài hàng ba vẫn còn đó rổ xoài, mấy cuốn vở và viết mới, được bọc kỹ trong mấy lớp bọc nilon, chờ tụi trẻ… Tuổi ngoài 80, kéo theo những cơn động kinh di chứng tù đày luôn dày vò làm cô mất ăn mất ngủ. Cô Út nhập viện ở TP. Hồ Chí Minh để mổ sắp lại các dây thần kinh và cột sống suốt cả tháng ròng. Vậy rồi khi về, sân nhà vẫn sạch tươm, cây cối vẫn xanh, hoa vẫn nở. Cô biết tụi trẻ đã đến đây tìm cô, ở lại chơi, tưới cây, quét lá… Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho…

Bây giờ, những bước chân của cô Út đi trên xóm nghèo không còn vững như trước nữa. Chiếc xe đạp mấy mươi năm theo cô như con ngựa sắt trung thành đến bây giờ vẫn bền bỉ theo cô khắp những ngả đường trong thị trấn. Cô Út không chạy xe được nữa, nhưng đẩy xe đi bộ, cô thấy vững bước, yên tâm hơn.

Những ngày đầu mùa mưa ở miền Tây, tôi lại nhớ đến cô Út Trinh. Tôi nhớ từng bước chân cô trải trên con đường vào xóm nhỏ. Và không hiểu sao, dẫu biết quy luật sinh lão của đời người, nhưng lòng vẫn cứ tha thiết mong cầu cô Út vẫn sẽ khỏe, cô vẫn mãi là người mẹ hiền của những đứa trẻ xóm nghèo quê tôi.

LINH AN
(Tỉnh An Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 636

Ý Kiến bạn đọc