Tản văn

Ký ức về rừng

Đã từng sống ở rừng miền Đông Nam bộ những năm tháng chiến tranh nay trở lại rừng với tên gọi mới: Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, tôi thực sự choáng ngợp và phấn khích. Mã Đà, Bà Hào ngày xưa cây cối rậm rạp, sông suối giăng đầy, lối mòn nhỏ hẹp nay đã quang quẽ, nhà cửa san sát, hàng quán không thiếu thứ gì. Cùng mấy bạn bè văn nghệ Đồng Nai, Sài Gòn làm một cữ cà phê sáng tôi tự lục vấn cái trí nhớ đã phần nào xuống cấp của mình rằng cái đoạn trước nhà khách Mã Đà này là nơi nào? Hỏi thế, bởi vì thời đạn bom tôi đã qua lại đường này nhiều lần. Chẳng thể nhận ra nữa. Lộ ủi Lệ Xuân ngày xưa là con đường đất đỏ quạch, lồi lõm vệt bánh xe nay là đường nhựa láng mịn. Cái thay đổi bề ngoài ấy cũng chẳng có gì phải nói. Hòa bình đã hơn 40 năm rồi tất phải thế. Tôi choáng ngợp và phấn khích vì một lẽ khác. Đó là diện mạo và vóc dáng của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai. Dẫu giàu trí tưởng tượng đến mấy tôi cũng chẳng thể hình dung ra cảnh quan thiêng liêng, hùng vĩ, tươi đẹp này. Ở đây không gian trải ra mênh mông mà thời gian thì dồn nén lại, hiển hiện một thiên nhiên, lịch sử và văn hóa rừng. Cách đây hơn 300 năm trên đường đi mở cõi cha ông ta đã nhìn ra địa thế Đồng Nai với rừng núi trập trùng. Ngày ấy rừng còn lan tỏa tới tận Hố Nai, Vườn Mít bây giờ. Qua nhiều cuộc khẩn hoang và những biến thiên của lịch sử nhiều vùng đất đã trở thành phố phường, dân cư quần tụ đông đúc. Thế mà chúng ta vẫn còn gần 1 triệu héc-ta rừng. Không có rừng ngập mặn với cây tràm cây đước vươn cao giữa đầm lầy, với muôn ngàn loài tôm cá, chim từng bầy bay rợp bầu trời như tận chót mũi Cà Mau, ta có cả bạt ngàn rừng nguyên sinh trải dài. Người Đồng Nai yêu rừng, lãnh đạo Đồng Nai nhiều đồng chí kháng chiến trong rừng. Có một câu thơ nói rằng:

Hồn Tổ quốc ở trong rừng thẳm
Rừng điêu tàn Tổ quốc điêu linh.

Diễn dịch từ câu thơ này ta có thể khẳng định Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai là hồn cốt của Đồng Nai. Giữ và phát triển cái hồn cốt của Đồng Nai là tình cảm và trách nhiệm của người Đồng Nai, của các đồng chí có trọng trách. Bảo tồn và nâng cao giá trị rừng đã được thể hiện bằng hành động quyết liệt, bài bản. Nhớ những năm tháng Đồng Nai cùng cả nước đói mòn đói mỏi thì rừng đã cứu đói bằng cách xuất khẩu gỗ, đổi gỗ cho miền Tây, cung cấp gỗ cho nhà máy. Hai mươi năm ấy (1976-1996) chúng ta xót xa vì nhiều loài gỗ quý lần lượt bị đốn hạ, rừng nguyên sinh trù phú đã bị khoét sâu vào tận 15 cây số. Cả một khoảng rừng trụi lủi, trống lốc, bặt tiếng chim, vắng tiếng vượn…

Bai-xe-Truong-Son---Vu-Giang-Huong
Bãi xe Trường Sơn – Ký họa – HS Vũ Giáng Hương

Quyết định đóng cửa rừng và tái sinh rừng là mệnh lệnh từ trái tim. Nhìn những hàng cây tơ tràn trề sức sống đang vẫy chào chúng tôi bên dọc đường đi, anh Tâm – Phó giám đốc Khu dự trữ sinh quyển khoe: “Cây sao, cây dầu mới trồng đó anh”. Để có những cây trồng này cũng phải qua nhiều công đoạn vất vả. Len lỏi trong rừng lượm hạt, ủ trong bọng đất cho nẩy mầm, bứng ra trồng, chăm sóc ở vườn ươm 2 năm trời cho cây đủ lớn mạnh mới đưa trở về rừng. “Sử dụng giống cây bản địa là phương châm của chúng tôi trong việc tái tạo rừng” – anh Tâm nói. “Giữ rừng thế nào hả anh?” – tôi hỏi. Anh Tâm cho biết: “Các trạm kiểm lâm chốt trong rừng làm việc 24/24 rất vất vả, thậm chí nguy hiểm. Nhưng nhờ thế mà lâm tặc, bọn săn bắn thú rừng không dám bén mảng đến”. Tôi chợt nhớ đến những bài viết, bộ phim về cuộc đối đầu giữa kiểm lâm và bọn lâm tặc, đã có xung đột, đổ máu mà có khi phần thắng không thuộc về cán bộ kiểm lâm. Nhưng ở đây thì khác, kiểm lâm đã trở thành mối đe dọa với bọn tham lam, tàn ác.

Về thăm Khu dự trữ sinh quyển lần này mới thấy tâm huyết, khối óc và bàn tay của con người đã tạo dựng nên bao công trình tuyệt mỹ, xúc động lòng người. Khu di tích lịch sử Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích Khu ủy Đông Nam bộ là trang sử oai hùng của một thời, Vườn tượng là nơi con người và thiên nhiên đã hóa tượng đài vĩnh cửu và Bàu Sen là tâm hồn Việt luôn thơm ngát giữa rừng… Tất cả đã biến chốn rừng rú thành nơi hấp dẫn, thiêng liêng và kỳ thú. Đi giữa rừng ngước nhìn những cây bằng lăng cao vút, những cây đa tỏa bóng mát, rễ bám chằng chịt, bắt gặp cây trung quân lá dày xanh mướt lòng tôi lại rưng rưng nhớ về những năm tháng xa xưa…

Thiên nhiên rừng đã cho tôi – một chàng trai Hà Nội vốn chỉ quen chốn thị thành những trải nghiệm tuyệt vời. Những đàn bướm vàng bay rập rờn giữa lòng suối cạn. Dòng sông Đồng Nai khi trong vắt có thể nhìn tận đáy những vỉa cát trắng chồng lấn lên nhau và đàn cá bơi lội nhởn rỡn trong làn nước, có khi đỏ ngàu như một người rượu bữa, chếnh choáng giữa hai bờ xanh rì một màu tre. Cắm sâu vào khe núi bạc phếch màu thời gian là ống nước để lấy dòng nước ngọt ngào hội tụ của đất trời. Hoa phong lan xanh đỏ tím vàng treo lơ lửng trên cành cao, rung rinh trước gió. Hoa chuối đỏ tươi một góc rừng. Hoa tím bằng lăng như muốn nói điều gì? Cây cầy (Kơ-nia) sừng sững giữa trời cao là biểu tượng của lòng chung thủy. Cây dầu thẳng tắp mà ruột thường bị khoét rỗng để lấy dầu. Cây gõ đỏ như sinh ra là làm bền đẹp và sang trọng cho những ngôi nhà, cây chò chai là dành cho những con thuyền ngoài biển rộng. Cây xoài rừng trái chín đỏ hoe như tiếp thêm sức lực cho anh bộ đội trên chặng đường hành quân. Nhiều loài cây dây leo như cây mây cứ mềm mại, quấn quyện thành bụi xanh ngắt, um tùm. Nhỏ thấp hơn là loài cây dương xỉ thường mọc lan man trong rừng nhắc ta nhớ về một thời tiền sử, cây sâm cau lúp xúp trên mặt đất là một vị thuốc bổ. Mùa mưa cả khu rừng náo động, mưa tuôn qua bốn tầng lá, ào ạt chảy qua những kẽ nứt của đất, nước đầm đìa lênh láng và dần dần thấm vào lòng đất thành những khe lạch nước trong vắt đêm ngày róc rách bên sông Đồng Nai. Mùa nắng tiếng ve sôi gióng giả, những tia nắng lọt qua kẽ lá nhuộm hồng mặt đất, cảnh đẹp và nên thơ khiến ta bỗng thèm một cây cọ và khung vải để vẽ nên bức tranh rừng. Rừng là nơi có những bầy voi đủng đỉnh vẻ trầm ngâm tư lự bước đi giữa hàng cây cao, thỉnh thoảng lại vươn vòi hái bẻ trái cây, là nơi có con hổ với tấm thân uốn lượn nhịp nhàng nằm mai phục rình mồi ven bờ suối vắng. Cũng nơi ấy có đàn bò tót phóng mải miết qua trảng cỏ trống trải, có con lợn rừng dũi mõm xuống đất tìm kiếm thức ăn, con trăn uốn lượn ngoằn ngoèo trong đám cỏ và kỳ đà trườn trên lá khô sột soạt thò cổ xuống sông uống nước. Những buổi sớm mai đàn khỉ đu chuyền nhún nhẩy trên đầu ngọn tre xanh, con sóc leo thoăn thoắt trên cành cây chạy trốn khi nghe tiếng động và bầy chim hót líu lo tấu lên khúc nhạc rừng. Buổi chiều nghe tha thiết tiếng vượn hú gọi bầy đàn, thấy con nai vàng ướt lướt thướt ngơ ngác dưới cơn mưa. Đêm xuống dù dưới ánh trăng thanh hay màn đêm đen kịt khi chim chóc đã ngủ la đà trên cành cây hay trong tổ ấm, những loài thú hoang đã ngủ vùi trong hang sâu ẩm ướt hay đám lá rừng lạnh lẽo, côn trùng tấu lên khúc nhạc đêm ta vẫn chợt thấy ánh mắt sáng quắc của loài cú vọ và khắc khoải bởi tiếng tắc kè ném lưỡi vào đêm.

Ở rừng tôi có những trải nghiệm không bao giờ quên. Tôi đã thấy rừng can trường chống chọi từng đợt bom B-52 ào ào trút xuống, rừng cháy sém vì bom Na-pan, trụi lá vì chất độc da cam. Và kỳ diệu thay bên những thân cây trụi cành trơ gốc lại bật lên những chồi non xanh biếc và vươn cao lan tỏa một sức sống mãnh liệt. Cả đại ngàn cất lên tiếng nói dõng dạc: “Chúng bay sẽ không bao giờ hủy diệt được rừng, rừng sẽ ngày càng lớn mạnh”. Rừng dang rộng cánh tay, lấy thân mình che chở cho người kháng chiến. Dưới tán rừng là căn cứ của bộ đội, cán bộ. Những mái nhà lợp lá trung quân, bốn bề trống hoác. Trong nhà là võng và giường bằng gỗ hay sạp nứa, cái bàn gỗ mộc để ăn cơm và làm việc. Hầm hào chi chít xung quanh. Thấp thoáng bóng người quần áo bà ba hay quân phục màu xanh – đi dưới tán lá rừng, dọc theo lối mòn. Những buổi sinh hoạt, liên hoan đông vui, những phút trầm tư trên cánh võng nhớ nhà, nhớ người yêu và tiếng khóc nghẹn ngào khi nghe tin đồng đội hy sinh ngoài cửa rừng, những ngày làm rẫy nắng cháy lưng, những buổi len lỏi đi hái lá trung quân đều diễn ra ở đây. Cũng nơi này đã có những cuộc họp từ nhỏ đến lớn, ra đời một quyết sách, chuẩn bị cho một chiến dịch của những người lãnh đạo kiệt xuất nay hầu hết đều đã trở thành người thiên cổ, di tích còn lại những lá thư và văn bản viết bằng tay đã nhòe mực, những tờ giấy pơ-luya chi chít chữ đã ố màu thời gian và những bức tượng đồng trang nghiêm. Thời đói quay đói quắt rừng nuôi ta bằng củ chụp củ mài đỡ cơn đói lòng, bằng rau tàu bay ngọt ngào, bằng bắp chuối rừng có vị chan chát, bằng lá bứa, lá giang có vị chua. Những búp măng non nhọn hoắt, trắng muốt là món ăn thường xuyên của cán bộ chiến sĩ. Trái trường, trái gùi, trái xoài mút, hạt é… làm hương vị cuộc đời thêm tươi. Con cá dưới sông, rau trồng ven suối đã nuôi ta những ngày gian khó. Kẻ thù hung hãn dùng trực thăng đổ quân xuống trảng trống, càn vào cứ hòng tiêu diệt tận gốc Việt Cộng, bên gốc cây rừng, trong hầm hào ta đã đánh bật chúng, khiến chúng thân tàn ma dại, thất thểu rút quân…

Những năm tháng ấy ở một cánh rừng ven sông Đồng Nai tôi đã dạy học ở một mái trường vô cùng độc đáo, chỉ có ở miền Đông Nam bộ: Trường Văn hóa huyện Thống Nhất (nay thuộc huyện Trảng Bom). Học trò có hơn năm chục em, đủ các sắc tộc: người Kinh, người Chơ Ro, người Mạ, người Hoa Nùng. Có em 20 tuổi là du kích xã không hề biết chữ, có em vài ba tuổi mới tập đánh vần. Từ một thầy giáo dạy cấp 3 ở miền Bắc tôi vào đây dạy các em đánh vần, viết chính tả, làm toán. Bom pháo, biệt kích, sốt rét, thiếu đói là mối đe dọa thường xuyên. Thế nhưng thầy trò chúng tôi đã vượt qua tất cả để sống, học tập, rèn luyện. Cũng ở cánh rừng này tôi đã có một cơ hội ngàn năm có một, đó là được tận mắt chứng kiến với nhiều cung bậc cảm xúc về cuộc tiến công bắt đầu từ những khu rừng của đại quân ta trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ ngày 9-4-1975 đến 21-4-1975, sau khi dứt điểm Xuân Lộc ta tiến về Sài Gòn theo hướng Đông và Tây Nam. Cánh quân phía Đông vượt sông Đồng Nai đánh vào chi khu quân sự Trảng Bom, thọc xuống thị xã Biên Hòa, nhằm Sài Gòn thẳng tiến. Người, xe, pháo ầm ầm náo động cả khu rừng dày, những con đường mòn ngày trước chìm lút trong cỏ tranh và cây mắc cỡ, bây giờ mở rộng hàng chục mét cho xe pháo đi qua. Trời sẩm tối có một đơn vị bộ binh nghỉ lại ven bờ sông. Họ tranh thủ đào những cái hố nhỏ để tránh mảnh pháo. Rồi nhào xuống sông tắm liền. Có anh leo lên cành cây sung và lao tùm xuống nước vẫy vùng khoái trá.

Tiếng cười nói xôn xao cả dòng sông. Họ kỳ cọ cho nhau, đùa nghịch té nước bắn tung tóe. Mười hai ngày vùi đất nằm cát, di chuyển liên miên, bom đạn mù mịt khét lẹt ở Xuân Lộc nay thỏa thuê vẫy vùng…

Tôi lần đến bên một khóm tre. Tốp chiến sĩ xúm quanh chiếc cà-men nâu, muỗng khua lanh canh. Họ mời tôi uống rượu nếp và cho biết là “Rượu nếp đồng bào cho tụi em đó”.

Mùi rượu nếp vừa chua chua, vừa ngòn ngọt phảng phất bay trong rừng tre. Cái hương vị thật say người! Lại có tiếng đàn ghi-ta vang vọng đâu đây và giọng hát: “Từ đồng bằng, từ bưng biền, từ rừng sâu, từ núi cao…”. Tôi bị tiếng đàn giọng hát níu kéo. Hỏi ra mới biết đàn mang theo từ hậu phương xa xôi, chứ không phải chiến lợi phẩm. Các anh ơi, không được tận mắt chứng kiến trận đánh hào hùng của các anh ở Xuân Lộc nhưng bắt gặp những hồn nhiên, sôi nổi, hào hoa của người lính dọc đường tiến quân thì tôi biết ngày chiến thắng đã sát gần, chỉ trong ngày một ngày hai. Tôi lần trở về cứ khi trăng non đã treo lơ lửng trên đỉnh đầu. Nằm treo mình trên võng mà cứ thầm tiếc: giá như ngày ấy mình trúng tuyển bộ đội thì đang cùng các anh tiến về Sài Gòn. Lại tự an ủi: số phận đã đặt mình làm một thầy giáo dạy học ven sông Đồng Nai, cũng được chứng kiến đôi chút chiến dịch lịch sử này để mai sau còn có cái mà nói với học trò và con cháu. Trái tim tôi thổn thức theo nhịp tiến quân rồi thiếp đi lúc nào không biết…

*

Tôi đã rời xa rừng 41 năm, kể từ 4-1975. Sống trong lòng thành phố Biên Hòa với đầy đủ tiện nghi mà cứ quay quắt nhớ rừng. Có những đêm tôi mơ thấy đang treo mình toòng teng trên võng dưới mái nhà lợp lá trung quân, ngoài trời sấm chớp rền vang, mưa rơi tầm tã. Đôi khi đi trên phố, nhìn thấy một sắc tím hoa bằng lăng lại thảng thốt nhớ rừng. Có những buổi ngồi uống cà phê ven sông lại như thấy hiển hiện bầy khỉ đu chuyền nhún nhẩy đầu ngọn tre xanh. Bắt gặp một làn sương mỏng manh quấn quýt quanh gốc cây, một vạt nắng xuyên qua kẽ lá, những hạt sương long lanh trên đầu ngọn cỏ vỡ òa theo bước người đi, chao ôi lại thổn thức nhớ cảnh rừng. Rừng ơi! Xin cảm tạ rừng đã chở che, đùm bọc bao đồng chí, đồng đội và thầy trò chúng tôi trong những năm tháng gian lao để có được ngày hôm nay.

Là một tín đồ của rừng tôi mong đến một ngày người đẹp ngủ trong rừng là Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai sẽ được đánh thức, trở thành điểm du lịch chào mời mọi người. Và tôi sẽ theo một tua du lịch hòa trong dòng người bốn phương đến để tận hưởng không khí trong trẻo, mát lành của rừng, chiêm ngưỡng cái huyền bí, hùng vĩ, thân thuộc và tươi đẹp của nơi này. Chao ôi, viết đến đây bỗng thấy thèm được treo võng giữa rừng nằm nghe tiếng mễn tác và tiếng suối rì rầm như ru ta vào giấc ngủ đêm. Tỉnh dậy, ra một quán nhỏ giữa rừng làm tách cà phê sữa, điểm tâm tô phở bò còn nóng hổi rồi leo lên xe đi thăm các danh lam thắng cảnh. Bữa ăn trưa có canh rau tàu bay ngọt ngào, cá lăng bắt từ lòng hồ Trị An nướng muối ớt đậm đà, uống ly rượu mật nhân nồng nàn, nghe văng vẳng tiếng đờn ca tài tử như tiếng lòng ai đó. Buổi chiều đi dạo trong rừng đón những tia nắng lọc qua kẽ lá, lắng nghe tiếng chim hót trên cành cây cao. Ôi, có hạnh phúc nào hơn! Tôi mơ… sớm đến ngày ấy.

Bùi Quang Tú
(TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 413

Ý Kiến bạn đọc