Tản văn

Ký ức tuổi thơ

Lâu lắm rồi tôi mới trở về thăm quê ngoại. Cảnh vật khác xưa nhiều vì nhà cửa khang trang mọc thêm.

Tôi đẩy cánh cửa khép hờ. Nhà thờ ngoại vắng tanh, lạnh ngắt, bụi bám dày. Quét dọn một hồi thấy tủi, nước mắt chứa chan…

Trong làn khói hương mờ tôi như thấy bóng ông ngoại vẫn lúi húi ở góc sân, chặt củi nè (cành tre nhỏ) để dành cho mùa đông đến. Bóng bà ngoại thấp thoáng bên giàn đậu ván, hái những trái già, mang phơi khô để dành ngày rằm nấu chè, hông xôi.

Huế năm 1965. Gia đình chuyển vào Đà Nẵng. Tôi ở lại Huế với ông bà ngoại không chút do dự. Không hiểu tại sao một con bé mới 4 tuổi lại chấp nhận một quyết định lạ lùng như thế của người lớn. Tại tôi thích ở lại hủ hỉ sớm hôm cùng ngoại, hay tại tính tôi thích tự do, không muốn bị kiểm soát bởi kỷ luật của gia đình, hay có lẽ số tôi không được ở chung với ba mẹ nhiều thì phải.

Nhà ngoại sống nghề ruộng vườn. Tôi tự do như chim, hoang dã như thú, phơi nắng đen như quạ nhưng chẳng bao giờ bị ông ngoại la về chuyện học hành. Ông thường tủm tỉm cười hài lòng khi hằng tháng tôi đều đem bảng danh dự về cho ông ngắm. Anh chị tôi thì lại hăm he đòi chuyển tôi vào Đà Nẵng để rèn giũa theo kỷ luật của gia đình. Tôi sợ quá nên chuyện học hành chẳng dám lơi.

Ngoại thương tôi lắm. Những đêm hè ngoại quạt tay cho tôi ngủ. Quạt được làm từ mo cau lấy từ chiếc bẹ trắng phau ôm lấy buồng cau mới trổ. Sau khoảng hai tuần, chiếc mo tự rụng xuống, bà đem cắt tròn thành hình chiếc quạt, rồi ép dưới chiếu độ một tuần cho phẳng, khi lấy ra dùng cả tháng trời vẫn còn ngan ngát hương hoa, mát như gió nồm tháng hạ. Bên chiếc chỏng tre, cầm chiếc quạt phe phẩy, ông bà thường kể đủ thứ chuyện cho tôi nghe. Từ chuyện đời ông cố, thời bà còn con gái, lấy chồng, sinh mẹ và các cậu, dì đến chuyện đời nhân nghĩa, trả vay. In mãi trong tâm trí tôi là những lời răn dạy về đạo làm người, cách đối nhân xử thế qua những câu chuyện đời rất thật dưới lũy tre làng.

So-498--Anh-minh-hoa---Ky-uc-tuoi-tho---Anh-1

Lớn lên một chút tôi thường giúp những chuyện vặt trong nhà và vườn cây ăn trái. Vườn cây trồng đủ thứ, mỗi mùa một thức, thu hoạch quanh năm. Tôi leo cây nhanh như sóc. Thoăn thoắt trèo lên tới buồng cau, đọt ổi, hái quả để ngoại mang ra chợ bán. Cực nhất là phải gánh bộ nông sản lên chợ xa. Tôi và bà ngoại mỗi người một gánh. Ông ngoại đẽo cho tôi cái đòn gánh ngắn và đan hai chiếc rổ nhỏ, gánh những thứ nhẹ nhàng, chạy lon ton trong chiếc nón lá 15 vành xinh xắn. Tôi mê nhất những buổi trưa hè nằm trong vườn cam cậu trồng trước khi nhập ngũ, nhâm nhi trái chín, thích thú lén đọc những lá thư tình vàng ố, ướt át như mưa Huế được giấu kín trong thùng đạn của cậu.

Mùa đông Huế lạnh lẽo với những cơn mưa dằng dai hàng tháng trời rất đáng sợ, bắt đầu từ tháng 10 âm lịch kéo dài cho đến tháng 2 năm sau. Củi tre, gốc cây khô, những bao than và cả hai đụn rơm to tướng đã được chúng tôi chuẩn bị sẵn từ giữa mùa thu. Khi những cơn mưa chiều bắt đầu nặng hạt, nước đọng từng vũng lớn trên quãng đường đến trường thì cũng là lúc áo len và chăn ấm cất giữ trong rương sáu bảy tháng trước được đem ra giặt lại, phơi trên chiếc sào tre, khi lấy ra mặc vẫn còn đượm thơm mùi nắng. Những ai đã từng trải qua những đêm đông ở Huế mới cảm nhận được hết sự não nề của những cơn mưa triền miên không dứt, sự nhẫn tâm của gió bão và niềm bi ai của người dân khi những dòng nước từ đầu nguồn hung hãn tràn về.

Tôi vô tư đi qua biết bao mùa mưa nắng của thời thơ ấu, cùng hai người thân yêu già cỗi dần theo năm tháng, một khu vườn đầy hoa trái, chim muông và đám bạn thân thời tiểu học, gắn bó với nhau qua bao kỷ niệm vui buồn. Cuộc sống cứ êm đềm trôi cho đến một ngày chạp mộ của họ ngoại nhà tôi.

Cuối tháng chạp là dịp tảo mộ của mỗi dòng họ hằng năm. Năm đó chạp mộ họ ngoại tôi làm cỗ lớn, mổ bò và heo, nhà nhà cấm lửa. Nam phụ lão ấu đều đến dự ở nhà thờ họ. Đây là lúc đám con nít chúng tôi có dịp xênh xang áo đẹp, cùng nhau tụ họp vui như Tết, được đãi đằng, ngồi vào mâm cỗ như người lớn.

Sáng hôm đó trời trong. Nhà thờ họ xôn xao chiêng trống. Ông ngoại chỉnh tề áo dài the khăn đóng, oai nghiêm ngồi mâm trên cùng các bô lão. Bà ngoại áo dài tóc vấn khăn nhung đen, ngồi mâm dưới chuyện trò râm ran cùng các mệ khác, miệng nhai trầu đỏ thắm. Các o dì lo bếp núc cùng gia đình đầu xâu (mõ làng). Lũ con nít chúng tôi ngồi dưới nhà tăng, rôm rả kháo nhau liệu cái bong bóng bò có thể thổi lên to phình như bong bóng cao su ngoài chợ. Ngoài mâm cỗ như người lớn ra, chúng tôi khoái chí được gặm những khúc xương dính đầy thịt béo ngọt, tay chân mặt mũi đứa nào đứa nấy dính đầy mỡ, láng lườm.

Cỗ đang vui thì súng nổ vang trời. Ai đó đóng vội cổng nhà thờ họ, lùa đám con nít vào nhà kho kín không một khe hở, khóa chặt cửa. Mấy đứa nhỏ khóc um trời. Tôi không sợ tiếng súng mà chỉ hoang mang nhìn bóng tối vây quanh, tự hỏi có khi nào mình bị nhốt ở đây mãi mãi?!

Tiếng súng càng ngày càng nghe gần hơn. Từ khe cửa vọng vào tiếng bà ngoại vừa khóc vừa kêu tên tôi, tiếng khóa lách cách và người lớn lo lắng, hối hả nhận lại con cháu. Thì ra có người sợ chúng tôi chạy lung tung trong lúc đang giao tranh nên đã nhốt chúng tôi lại. 

Bà ngoại cõng tôi chạy thoát khỏi nhà thờ họ theo đường tắt. Đạn vẫn còn réo bên tai nhưng thưa dần. Tôi sợ hãi nhìn thấy vết máu chảy dài theo hướng bàu Dừa, một cánh đồng dày đặc cỏ năn. Có lẽ ai đó bị trúng đạn và đã tìm đường thoát. Tôi ôm chặt cổ ngoại, áp tai vào lưng và lắng nghe tiếng thở hổn hển của người theo từng bước chân. Búi tóc dài của ngoại xổ ra, trắng xóa. Đoạn đường tắt chỉ hơn 200 mét mà tưởng như dài đăng đẳng. Tôi choài chân, oằn mình tụt xuống đất, chạy băng băng. Lúc đó bà mới nhớ ra rằng cháu bà chạy còn nhanh hơn sóc!

Thế rồi chiến tranh lan tràn. Trong giấc ngủ hằng đêm tôi vẫn thường bị giật mình khi nghe tiếng đại bác nổ. Từ sân nhà ngoại, tôi có thể thấy những đám cháy đỏ rực trên những ngọn núi cao, và những ngọn đồi trọc như chưa từng được biết đến màu xanh của lá. Chiến tranh càng ngày càng ác liệt. Tôi được đưa vào Đà Nẵng, về lại với ba mẹ. Tôi rớt nước mắt khi không có ông bà ngoại đi cùng. Bà phải dỗ dành tôi là ông bà bận trông nhà, tìm được người giúp rồi sẽ đi sau. Thật ra thì người già làm sao mà bỏ được ruộng vườn, mồ mả ông bà. Ký ức về chiến tranh trong tôi là sự chia lìa mãi mãi với những gì thân thương nhất.

Thế rồi tôi cứ đi, đi hoài, đi mãi, không một lần về. Giữa những bộn bề của riêng tư và đất nước, tôi quên bẵng đi đã có thời mình hạnh phúc nhất cuộc đời bên hai người già cỗi thân yêu và cuộc sống êm đềm bên vườn cây trĩu quả. Đến khi tôi về thì bóng người đã hòa vào bóng núi. Vườn xưa không còn. Nỗi ân hận khôn nguôi cứ bám theo tôi mãi đến tận bây giờ…

Nguyễn Thị Thu
(Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 498

Ý Kiến bạn đọc