Tản văn

Ký ức ngày thống nhất

 

Đầu năm 1975, tôi đang học tại Khoa Lưu học sinh trường Đại học Ngoại ngữ, Thanh Xuân – Hà Nội để chuẩn bị đi nước ngoài. Học sinh miền Nam, cán bộ miền Nam học ở đây đều nghĩ rằng “Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam còn lâu dài, học xong trở về thì chiến tranh chưa chắc đã chấm dứt”. Nhưng đùng một cái, từ tháng 2, quân ta liên tục tấn công và liên tiếp giành chiến thắng ở Phước Long; giải phóng thành phố Buôn Ma Thuột và địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên; Chiến thắng Tiên Phước, giải phóng Tam Kỳ và thành phố Đà Nẵng; giải phóng hoàn toàn các tỉnh Trung Trung bộ; chiến thắng Xuân Lộc, giải phóng thành phố Sài Gòn và toàn bộ đất nước. Non sông thu về một mối.

Là người Việt Nam, là người kháng chiến ai mà không chờ mong ngày chiến thắng cuối cùng, ai không trông mong đất nước hòa bình, thống nhất. Đó là đỉnh điểm hạnh phúc, đỉnh điểm vinh quang của những người kháng chiến, của toàn dân tộc. Nhưng, không ngờ chiến tranh dài dằng dặc lại kết thúc quá nhanh, vui sướng trào nước mắt.

Ngày 30/4 năm ấy, cả Hà Nội vang dậy tiếng hò reo, đêm ngày 1/5 rực rỡ pháo hoa trên mặt hồ Hoàn Kiếm. Và, có lẽ cả trăm năm, trên đất Việt, trên thủ đô nghìn tuổi này mới có cái không khí rạo rực hạnh phúc đến cháy bỏng lòng người như vậy.

Chúng tôi, những người miền Nam trên đất Bắc, sau thời khắc reo hò đến vỡ lồng ngực vì hạnh phúc, vì niềm kiêu hãnh vinh quang, vì thiêng liêng lý tưởng… là sự lo lắng, tìm cách, toan tính: “Làm thế nào để về quê hương cho thật nhanh, gặp mẹ, gặp em, gặp vợ con…”. Riêng tôi đã xa mẹ, xa tất cả người thân, xa cái làng Tỉnh Thủy đã 11 năm. Trong 11 năm ấy quê hương tôi ngập tràn khói lửa. Chiến tranh biết ai còn ai mất, mẹ tôi có còn sống được qua cuộc chiến này không?

Đất nước đã thống nhất, những người sắp đi học xa như chúng tôi, từ nay đến tháng 7, không về được thăm gia đình thì phải chịu sự xa cách 6 năm nữa. Tất cả chúng tôi, sinh viên người miền Nam đều chạy lên lãnh đạo Khoa và Ban Giám hiệu xin các thầy cho về phép thăm quê hương sau cả chục năm xa cách. Trưởng Khoa là thầy Nam người Huế, phó Khoa là thầy Kim người Quảng Nam, hai thầy đều khuyên giải chúng tôi:

- Các em cố gắng chịu đựng đến đầu tháng 7, niên khóa kết thúc các em tranh thủ về trong đó, giữa tháng 7 trở ra lên đường đi học. Xa cách cả chục năm mình còn chịu được, thầy cũng nôn nóng về quê lắm đây…

Trong 2 tháng đó chúng tôi vừa học vừa ngóng về miền Nam. Thế rồi việc gì đến cũng đến. Khóa học vừa kết thúc, tôi chạy về trường Đại học Bách khoa. Ở đó có Hoa – người yêu của tôi đang theo học dự bị. Thật là phước nhà, cùng học một khóa với Hoa có chị Định người đồng hương Quế Sơn. Chị có ông cậu ruột làm Trưởng ga Hàng Cỏ. Thông cảm cho hoàn cảnh của tôi, ông hứa: Chú sẽ dành cho cháu một vé tàu đi Vinh vào 5 giờ chiều nay.

So-543--Dau-hang---Nguyen-Thanh-Chau---Anh-1
Đầu hàng – sơn dầu – Nguyễn Thanh Châu.

Lúc này tại ga Hàng Cỏ, bến xe Kim Liên, người miền Nam ở tứ xứ trên đất Bắc kéo nhau về nằm chờ cả tháng trời tìm phương tiện về quê. Nào là người đi tập kết, nào là thương binh thời chống Mỹ, nào là học sinh miền Nam, nào là những người có bà con “tản cư” vào Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tất cả đều đổ về miền Nam với nguyện vọng gặp người thân sau nhiều năm xa cách vì đất nước phân chia. Họ treo võng, trải chiếu, ăn cơm bụi nằm chờ mua cho được tấm vé về Nam. Lúc này người trở lại miền Nam đông vô kể. Nhưng đất nước sau chiến tranh, phương tiện giao thông rất ít, không đáp ứng nổi. Dòng người vào Nam phải lớp lớp chờ đợi. Tôi thì như người chết đuối vớ được cọc. Từ khu tập thể Kim Liên, tôi và Hoa chạy bộ đến ga Hàng Cỏ để đưa miếng giấy viết tay của chú trưởng ga. Được ngay một tấm vé, tôi mừng đến trào nước mắt, nhảy cẫng lên như một đứa trẻ.

Lên tàu vào Vinh đã 10 giờ đêm, chúng tôi đợi đến trưa hôm sau mới được chuyển qua xe khách chạy vào Vĩnh Linh. Đường Khu IV lúc này rất xấu, xe chạy chậm, đợi phà sông Gianh, Cẩm Lệ hết cả tiếng đồng hồ, vào tới Vĩnh Linh đã hơn 10 giờ đêm. Đi, đợi gần 2 ngày, người mệt lả, vừa xuống xe tôi đề nghị ngay:

- Mấy chú, mấy anh, chị ơi! Từ chỗ này đến cầu Bến Hải chỉ có hơn chục cây số thôi, mình ráng đi bộ, qua bên kia cầu, đến đất miền Nam mới nghỉ lại. Tôi vừa nói vừa đi, cùng mấy người nữa đã trên 40 tuổi. Một số người đã trên 50, vì yếu sức nên lừng khừng, thấy chúng tôi quyết tâm cũng nhổ chân chạy theo.

Đến Bến Hải, không nghỉ ở bờ Bắc, qua bờ Nam chúng tôi ngồi bệt ngay trên lề đường, chờ xe trong Huế ra. Không ngờ, ngồi mới vài phút thì đã có năm, bảy chiếc xe chạy tới. Mấy người lái xe lam thì nói tiếng Huế, tiếng Quảng Trị, một người lái xe màu xanh mang nhãn hiệu Phi Long thì nói tiếng Quảng Nam. Tôi biết ngay, đây là xe về Đà Nẵng, cùng với mấy người quê Quảng Ngãi, Bình Định… nhào ngay lên chiếc xe đó. Xe chạy suốt đêm về tới Đà Nẵng, mặt trời đã lên vài sào. Tôi phải xuống ngã ba Huế, đón xe về Tam Kỳ theo sự chỉ dẫn ân cần của người lái xe. Vừa bước xuống xe, tôi nghe tiếng mời gọi giọng Quảng Nam đặc sệt như tiếng mẹ tôi:

- Con ơi! Vào đây ăn tô mì…

Tôi xúc động đến trào nước mắt… Ăn xong, tất nhiên phải trả tiền, đây là quán mì mà. Chỉ là người chủ quán ăn qua đường thôi, nhưng hình ảnh, tiếng gọi của bà luôn đọng lại tâm hồn tôi. Vì đây là phút giây đầu tiên, người Quảng đầu tiên tôi gặp khi đặt chân trở lại đất mẹ Quảng Nam – Đà Nẵng sau bao năm xa cách.

Chiếc xe Tiến Lực chở tôi về Tam Kỳ. Đến ngã ba Nam Ngãi, tôi xuống xe. Một sự may mắn hết sức bất ngờ, tôi gặp ngay chị ruột là phóng viên báo Quảng Nam, vì cơ quan chị đóng ở Đài Truyền thanh Quảng Tín cũ, gần đó. Khi đó tôi mới biết mẹ tôi còn sống. Dưới quê Kỳ Anh, bọn tề ngụy o ép quá, mẹ phải chạy lên tá túc ở Tam Kỳ. Chị em tôi dắt nhau ra chợ Kỳ Hương, rồi về nhà gặp mẹ. Ba mẹ con ôm nhau khóc nức nở. Khi tôi ra đi là một đứa bé 14 tuổi bây giờ đã là thanh niên 24 tuổi. Mẹ tôi còn trẻ, mới 37 tuổi bây giờ đã gần 50. Trong nước mắt ngày gặp mặt, cả nhà bùi ngùi nhớ đến em tôi đã hy sinh tại Phương Đông, Trà My lúc mới 15 tuổi. Ngày gặp mặt này cũng không có cha tôi. Cha tôi đã chết ở miền Bắc từ rất lâu. Cái ngày gặp mặt ấy của gia đình tôi buồn vui lẫn lộn, tiếng khóc nhiều hơn là hàn huyên.

Sau chỉ một hôm tôi về quê – Tỉnh Thủy, Kỳ Anh. Hình ảnh quê hương trước mắt tôi là một cồn cát trắng trống trơn. Mấy cây bàn ở bến đò giếng Bộng cũng bị bom pháo phạt sát đất. Dân làng còn ở nguyên chỗ khu dồn, chưa kịp chuyển về nơi vườn cũ. Có muốn về cũng không được, vì chưa rà mìn do địch gài để bảo vệ đồn bốt của chúng khắp các vườn nhà, không cẩn thận vướng nổ chết ngay. Chiến tranh lửa đạn bời bời mà còn sống sót, bây giờ vướng mìn chết trong hòa bình, ngay trên nền nhà mình thì oan uổng quá. Nghĩ vậy mà chưa ai dám về ở lại vườn nhà cũ. Tôi về ở nhà ông bà ngoại. Chiến tranh ác liệt trong 10 năm qua đã làm cho ông bà của tôi già đi nhanh quá. Bà ôm tôi khóc và hỏi thăm các cậu tôi đi tập kết, đang ở Bắc chưa về thăm bà được…

Nghe tin tôi về, bạn bè cùng tuổi chạy tới. Chúng tôi mừng cho nhau. Sau cuộc chiến trường kỳ mà chúng tôi còn sống, số lớn lắm. Những người thoát ly cùng lứa với tôi; những người thoát ly sau vài năm, bạn bè học cùng lớp với tôi không còn mấy người. Đi thoát ly hy sinh. Ở nhà vào du kích cũng ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương. Làng Tỉnh Thủy còn lại nhiều người lớp đàn em hơn tôi một tý. Khi quê tôi giải phóng (từ 1964 đến 1968), họ chưa đủ lớn để tham gia giải phóng quân. Nhưng hiện giờ, người nào cũng bị mất nửa bàn chân, cụt mấy ngón tay, có người cụt tới ống quyển. Bởi họ là lính ngụy. Nhưng tất cả họ đều ôm tôi, trào nước mắt. Bạn Ánh, bạn Sâm kể cho tôi nghe:

- Khi anh thoát ly lên núi, quê mình chúng chiếm đóng lại. Bọn biệt lập ác lắm, chúng muốn bắn ai thì bắn, đánh ai thì đánh. Bọn tôi lúc ấy đã 16, 17 tuổi chúng bắt vào nghĩa quân, bắt chúng tôi đánh đập bà con mình. Sau Xuân Mậu Thân, cách mạng mất đất, cả vùng Đông bị chúng tái chiếm. Không chạy đâu được, bọn tôi phải sống trong cảnh “cá chậu chim lồng”. Bị bọn chúng o ép quá, bọn tôi rủ nhau lén vào ven đồn gỡ mìn Zip, cẩn thận giấu trong người vài quả rồi đăng ký đi lính. Ra trận, khi bỏ chạy thì đặt mìn dưới mấy ngón chân, đạp nổ, đứt bàn chân, tự băng bó rồi ráng bò đi. Bọn chúng cho trực thăng chở về, đưa vào nhà thương, trở thành phế binh của quân đội Sài Gòn. Trở về quê, bọn biệt lập ngán đám phế binh này, đâu dám rờ đến nữa…

Nghe mấy người bạn kể chuyện, tôi càng thấm thía về uẩn khúc chiến tranh. Và, thầm nghĩ: May mà tất cả chỉ bị thương thôi, chứ lúc đó không thoát khỏi, chết tại trận thì bây giờ ai mà thanh minh nổi những cái chết như vậy cho bạn của tôi.

Sau khi tâm sự với bạn bè còn sống, tôi đến từng nhà thắp hương cho bạn bè đã hy sinh trong cuộc chiến. Làng tôi có rất nhiều gia đình có đôi ba người thoát ly lên núi và vĩnh viễn nằm ở đó, không một người trở lại sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Tôi đến nhà là cha mẹ họ ôm chầm lấy tôi mà khóc. Tôi cũng nghẹn ngào, không dám thốt lên một lời động viên mà phải nuốt nỗi đau vào lòng…

Rời Tỉnh Thủy, lên Tam Kỳ tôi nghe mẹ nhắc tới Chương – một người bạn học cùng lớp, người ở giếng Bốn Trụ, gần chợ Vạn cũ. Năm 1965, sau khi tôi thoát ly thì Chương cũng vào chùa Tịnh Độ tu hành. Khi mẹ tôi lên tá túc ở Tam Kỳ, Chương thường xuyên đến nhà thăm mẹ. Lập tức tôi đến chùa gặp bạn. Hai chúng tôi – một chú tiểu, một quân giải phóng khoác tay nhau đi trên quốc lộ I từ chùa Tịnh Độ về nhà mẹ tôi ở chợ Kỳ Hương (thuộc phường Tân Thạnh hiện nay). Mẹ tôi mừng cho tôi gặp bạn học cũ, nấu nướng vài món chay cho chúng tôi cùng nhau ngồi ăn và tâm sự chuyện đời, chuyện của cuộc chiến…

Rời Tam Kỳ lên đường ra lại Hà Nội, tôi trăn trở nhiều về quê hương sau cuộc chiến. Đại cuộc của dân tộc thì rất vinh quang, rất hạnh phúc nhưng từng số phận con người còn nhiều điều đau lắm. Chiến tranh mà – các bạn tôi ơi!

Phạm Thông
(Tam Kỳ – Quảng Nam)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 543

Ý Kiến bạn đọc