Truyện ngắn

Ký ức làng

Anh bạn họa sĩ của tôi tên là Quỳnh, Lê Mạnh Quỳnh. Một người sống có cá tính. Ít nói, một con người sống về nội tâm nhiều hơn. Anh có già nửa đời người làm nghề cầm cọ vẽ. Anh đã có hàng trăm tác phẩm được tham dự triển lãm trong nước. Có những bức được treo trong Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Quốc gia…

Anh sáng tác về đề tài như người lính, về chiến tranh cách mạng… Nhưng nhiều nhất là về quê hương đất nước. Những bức tranh về làng quê của anh thơ mộng, êm đềm đẹp như một bài thơ. Hình ảnh mái đình, cây đa giếng nước, ao làng với một bông súng nở vào buổi sớm tĩnh lặng được anh vẽ tỉ mỉ, trau chuốt đến từng chi tiết nhỏ, bố cục, màu sắc đẹp làm người xem nao lòng. Đặc biệt trong hàng vài chục bức tranh sơn dầu đủ kích cỡ anh vẽ về làng, có một bức được anh vẽ đi vẽ lại nhiều lần đó có hình ảnh bà lão bán nước ở đầu làng dưới gốc một cây đa cao to, tán xum xuê, che rợp mát cả một khoảng trời nơi đầu làng.

Thú thực tôi không phải là họa sĩ nhưng mỗi lần ngắm bức tranh anh vẽ bà cụ với cái quán nước nhỏ dưới gốc đa, bức tranh có tên “Ký ức làng” tôi rất mê và ngắm đi, ngắm lại nhiều lần vẫn không chán. Mỗi lần xem lại khám phá ra những cái mới. Đôi khi chỉ một nếp nhăn ở đuôi mắt của bà cũng nói lên một điều gì sâu thẳm mà người họa sĩ muốn gửi gắm tình cảm của mình vào đó.

Tôi và Lê Mạnh Quỳnh chơi với nhau đã lâu, tâm sự với nhau đủ mọi chuyện, kể cả chuyện riêng tư. Nhưng chỉ riêng chuyện nghề nghiệp của anh là tôi ít khi đề cập đến, bởi tôi và anh có nghề nghiệp khác nhau. Quỳnh là nhà giáo, là họa sĩ, còn tôi viết văn. Chúng tôi tôn trọng nghề nghiệp của nhau, ít khi nói ra với nhau về nghề nghiệp. Bởi mỗi nghề có bí quyết riêng. Nhưng do bệnh nghề nghiệp, một khi có điều gì chưa biết thì phải tìm hiểu, phải hỏi cho ra bằng được mạch nguồn mới chịu. Một buổi chiều cuối thu, trời se lạnh, rảnh rỗi tôi phóng xe sang nhà Mạnh Quỳnh, có ý định mời bạn đi cà phê ngắm cảnh phố phường trong những ngày thu để ôn lại những kỷ niệm cũ của hai đứa ngày còn là lính Trường Sơn vào những chiều thu thường ra ngồi bên bờ suối trò chuyện.

Anh-minh-hoa---Ky-uc-lang

Sang đến nhà thì thấy bạn đang ngồi say sưa vẽ mà vẫn vẽ về bức tranh bà lão với quán nước, cây đa đầu làng.

- Sao? Vẫn vẽ về đề tài này ư? – Tôi hỏi. Mạnh Quỳnh quay ra, gỡ cặp kính trắng to trên gương mặt ra, tay vẫn còn cầm cây cọ đẫm sơn, nói:

- Đêm hôm qua mình nằm mơ thấy bà Hiếu về nói với mình, cháu à, cháu vẽ về bà đẹp quá! Bà chỉ là người bình thường thôi, một bà già làng Quỳnh Đôi như bao bà già trong làng… Nói xong bà đến bên vuốt nhẹ vào mái tóc mình giống như ngày xưa còn là một cậu bé thường được bà cho chiếc kẹo vừng rồi âu yếm vỗ về mỗi khi mình ra quán giúp bà dọn hàng.

- Với bà lão này hẳn ông có nhiều kỷ niệm lắm nhỉ. Mình thấy ông vẽ có đến cả chục bức tranh về bà và cái quán nước, cây đa đầu làng rồi. Thôi hôm nay ông dành thời gian kể cho mình nghe về người đàn bà này được không? Biết đâu mình lại viết được một truyện ngắn về nhân vật của ông?

Mạnh Quỳnh đứng dậy, xúc bình nấu nước sôi pha một bình trà đặc, loại trà Thái chính hiệu thơm phức. Hai người bạn chí cốt ngồi trò chuyện trong sáng thu gió heo may thổi nhè nhẹ làm đu đưa khóm trúc trước sân nhà. Quỳnh nâng ly trà bốc hơi nghi ngút nhắp một hớp, đặt ly nước xuống bàn, giọng nhỏ, trầm ấm kể:

- Bà có cái tên “Hiếu”, dân làng Quỳnh Đôi thường gọi bà là “Bà Hiếu Nghĩa”. Bởi bà sống có hiếu nghĩa với làng.

Bà Hiếu mở cái quán nước nhỏ ở đầu làng tự khi nào mình chẳng rõ. Khi mình lên bốn, năm tuổi đã thấy có cái quán của bà rồi. Bọn trẻ trong làng chiều đến thường tụ tập ra cái quán của bà Hiếu mua kẹo vừng, chơi ô ăn quan dưới bóng đa rợp mát. Bà Hiếu rất yêu quý tụi trẻ trong làng. Bà thường cho kẹo, những cái kẹo vừng của bà vừa ngọt, vừa bùi. Bỏ vào miệng ăn thơm phức. Những buổi trưa đi học về, bụng đói được ăn một củ khoai, vài cái kẹo vừng của bà Hiếu người tỉnh hẳn. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:

“Cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm…”

Vào những đêm trăng thanh, gió mát lũ trẻ trong làng nhất là tụi con gái hay ra quán bà Hiếu nghe bà kể chuyện cổ tích. Bà có giọng kể rất hay, trầm ấm, dịu dàng. Bà thường kể chuyện: “Tấm Cám”, “Thạch Sanh – Lý Thông”; chuyện về 9 năm kháng chiến ở Việt Bắc… Bà chẳng những kể chuyện mà còn hát, hát rất hay. Nghe nói ngày là bộ đội ở chiến khu bà vừa làm y tá và là đội xung kích văn hóa văn nghệ của đơn vị. Bài bà hay hát là bài dân ca “Mời trầu”:

Ăn một miếng trầu
Lại đây ăn một miếng trầu
Không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng
Trầu này, trầu nghĩa trầu tình
Ăn vào cho đỏ môi mình, môi ta
Miếng trầu là miếng trầu vàng!”

Mãi cho đến bây giờ, đã mấy chục năm qua đi mà mình vẫn còn nhớ như in cái giọng hát ngọt ngào đằm thắm của bà Hiếu.

Bà Hiếu khác với các bà già trong làng. Bà không đội khăn mỏ quạ, không ăn trầu. Tóc bà bới sau đầu, đôi mắt lá răm, hàm răng trắng, hiện rõ một gương mặt thánh thiện, giàu biểu cảm…

Quỳnh đang say sưa kể thì chuông điện thoại reo. Quỳnh ngừng kể, nghe máy. Tiếng loa máy điện thoại để ở chế độ âm thanh lớn, người ngoài nghe khá rõ. Từ đầu máy bên kia nói: “Mạnh Quỳnh à? Tháng tới làng làm giỗ bà Hiếu, ông về được không? Năm nay làng làm giỗ lớn, giỗ lần thứ hai mươi của bà. Nghe nói có cả huyện, tỉnh về dự và trao tặng danh hiệu Làng văn hóa cho làng ta. Ông về được không?”. Quỳnh hồ hởi trả lời: “Có, có chứ. Mình về. Mình nhất định sẽ thu xếp công việc để về dâng hương cho cụ!”. Điện xong, Quỳnh quay vào kể tiếp:

- Mấy chục năm nay, năm nào tôi cũng dự giỗ bà Hiếu. Trừ những năm tôi đi công tác xa quê không về được. Bà Hiếu thiêng lắm ông ạ. Bà phù hộ cho dân làng Quỳnh Đôi nhiều năm nay nhà nào làm ăn cũng phát đạt, nhà ngói mọc lên đỏ rực; con cái đi học hành đỗ đạt, làm ăn xa khấm khá.

- Cụ Hiếu phải là người đặc biệt, có công đức lớn lắm mới được làng Quỳnh Đôi tôn thờ như vậy? – Tôi ngắt lời Mạnh Quỳnh. Mạnh Quỳnh mồi thuốc, kéo một hơi dài, thở một làn khói trắng bay vòng vèo trước mặt, tiếp tục câu chuyện:

- Tôi được nghe ông bà nội cùng cha mẹ tôi kể lại: Bà Hiếu là con gái độc nhất của cụ đồ Lê Hữu Đức, một nhà nho yêu nước. Sống dưới thời thực dân phong kiến cụ từ chối ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, sống ẩn dật trong làng làm nghề dạy học. Với những trò nghèo cụ dạy mà không thu học phí, nhiều trò cụ còn tài trợ cho giấy bút…

Bà Hiếu, con gái của cụ là một cô gái xinh đẹp vào bậc nhất nhì trong làng. Thông minh, học giỏi. Ở tuổi mười sáu, mười bảy có nhiều chàng trai trong làng ngấp nghé ngỏ lời xin cưới làm vợ nhưng bà Hiếu không ưng ai cả. Năm vừa tròn 18 tuổi, bà Hiếu đi tham gia kháng chiến. Ban đầu tham gia du kích xã, sau vào quân chủ lực lên chiến khu Việt Bắc. Đồng đội của bà Hiếu kể: “Lê Thị Hiếu là một nữ chiến sĩ đẹp người, đẹp nết, được đơn vị cử đi học y tá. Có trình độ văn hóa, Hiếu học hành tiếp thu nhanh. Học xong về đơn vị công tác. Hiếu không quản ngại hy sinh gian khổ, tình nguyện xuống đơn vị chiến đấu. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1946, Hiếu đã kịp thời cứu chữa cho rất nhiều thương binh, được anh em trong đơn vị yêu quý. Ngoài điều trị cho thương bệnh binh, Hiếu còn hát hò động viên thương bệnh binh để quên đi đau đớn. Anh chị em bộ đội thường ví Hiếu là chim sơn ca của núi rừng Tây Bắc. Y tá Lê Thị Hiếu đã được cấp trên nhiều lần khen ngợi.

Sau hòa bình, bà chuyển ngành ra làm việc ở Bệnh viện Thái Nguyên, sau đó ít năm về nghỉ hưu ở quê. Lúc này bà đã nhiều tuổi, không lấy chồng. Bố mẹ đã qua đời, nhà cửa bị thực dân Pháp đốt trong một trận bọn chúng càn vào làng cuối năm 1949.

Bố mẹ không còn, nhà cửa cháy, anh chị em không có, bà Hiếu xin với làng cho dựng một cái quán nhỏ ở đầu làng, dưới bóng cây đa cổ thụ. Cây đa này là chính ông nội của bà trồng.

Hàng ngày bà Hiếu bán trà, thuốc nước kiếm đồng ra đồng vào. Lúc rảnh bà vào làng chơi với mấy chị em bạn gái trong làng. Những ai có khó khăn bà giúp đỡ. Bà đã có công đỡ cho cả vài chục ca đẻ khó trong làng. Nhiều gia đình đã cho con nhận bà làm mẹ đỡ đầu. Bà còn là trung tâm hòa giải mọi mối bất hòa trong làng. Được bà con trong làng nể trọng. Những năm máy bay Mỹ đánh phá ra Hà Nội, Hà Tây, cái quán nhỏ của bà là nơi nghỉ ngơi của các chú bộ đội phòng không đóng ở trong làng. Cây đa là đài quan sát của bộ đội. Trên đó đặt một chiếc máy quan trắc để theo dõi máy bay địch mỗi khi chúng xâm nhập vùng trời quê hương.

Bà Hiếu, chỉ là một người bán quán nhỏ ở đầu làng, nhưng mọi chuyện ở trong làng bà biết hết. Hơn 300 ngôi nhà trong làng bà biết rõ từng nhà, hiểu từng hoàn cảnh, biết mặt từng người. Trong làng có chuyện gì lớn bé bà biết cả. Khách xa đến làng, cần hỏi vào nhà ai bà chỉ, thậm chí bà còn dẫn khách vào tận ngõ. Bà ngồi đó chứng kiến hết thảy mọi vui buồn trong làng. Bà giống như một cuốn sử sống của làng Quỳnh Đôi. Bà là bà, là chị, là cô, là người thân của cả làng. Người làng Quỳnh Đôi đi xa mỗi bận nhớ về làng, trước tiên nhớ về cha mẹ họ hàng, sau nhắc đến bà Hiếu, quán nước đầu làng. Ai cũng nói bà là linh hồn của làng.

Năm 1990, bà Hiếu qua đời sau một cơn bạo bệnh. Khi bà qua đời cả làng tiếc thương. Không có gia đình họ hàng ruột thịt nhưng bà được cả làng đội tang. Đám tang tổ chức linh đình, kéo dài suốt 2 đêm 3 ngày. Bạn bè, trẻ con trong làng khóc than thảm thiết.

Sau đám tang, dân làng đã đóng góp công góp của xây dựng một ngôi đền thờ bà ngay dưới chân cây đa cổ thụ. Hàng tuần, hàng tháng đều có người đến dâng hoa, thắp đèn nhang. Hàng năm vào ngày giỗ cả làng góp gạo, tiền làm giỗ. Năm nào làm giỗ cũng lớn, các con cháu xa gần đều về ăn giỗ. Những ngày đó trai gái trong làng lại tụ tập hát múa những bài dân ca quê nhà mà lúc sinh thời bà Hiếu thường hát và dạy cho trẻ em trong làng như: “Bèo dạt mây trôi”, “Mời trầu”, “Hát đối”, “Hát giao duyên”… Ngày giỗ của bà Hiếu thực sự là một ngày hội văn hóa của làng Quỳnh Đôi.

*
Sau cả buổi ngồi nghe Mạnh Quỳnh kể về bà cụ Hiếu, người bán quán dưới gốc đa cổ thụ đầu làng Quỳnh Đôi tôi như sống lại bao ký ức về truyền thống văn hóa của một làng quê Bắc bộ. Nơi còn lưu giữ nhiều ký ức về quê hương sâu lắng!

Nghe xong câu chuyện tôi mới vỡ nhẽ vì sao ông họa sĩ Lê Mạnh Quỳnh, người bạn thân của tôi vẽ đi vẽ lại nhiều lần về một bức tranh có tên “Ký ức làng” và tôi thực sự yêu mến bức tranh này hơn cả trong số hàng trăm bức tranh của bạn.

Nhân đây người viết cũng xin mạn đàm đôi điều về Văn hóa làng. Cái từ làng đã ăn sâu trong tiềm thức người Việt từ ngàn đời. Làng là một nét đẹp văn hóa đầy tính nhân văn. Khoảng chục năm nay có nhiều địa phương đã bỏ cái từ làng, thay vào đó là đội, mỗi làng chia ra từ hai đến 3 đội. Mỗi đội có hai ông, đội trưởng và đội phó. Như vậy về quản lý hành chính thêm phức tạp, cồng kềnh. Trước đây trong một làng chỉ cần một ông trưởng làng (thôn) là đủ. Ông trưởng làng cai quản, chăm lo mọi công việc trong làng, từ việc lớn đến việc nhỏ.

Cần phải giữ cái từ làng, đây là bản sắc văn hóa của ông cha từ ngàn xưa để lại, nó đã trở thành máu thịt của người Việt. Cái từ làng thật trìu mến thân thương đã đi vào trong thơ ca, nhạc họa:

“Họ gánh theo tên xã, tên làng
trong mỗi chuyến di dân”
(Nguyễn Khoa Điềm)

Nha Trang, tháng 5-2017

Xuân Tuynh
(TP. Nha Trang, Khánh Hòa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452