Tản văn

Ký ức chiến thắng Xuân Lộc 1975

Lại một tháng tư nữa đến rồi. Tôi rút điện thoại, tìm trong danh bạ “Tướng Nam Phong”, bấm gọi. Lúc này đã hơn 9 giờ sáng. Tôi chọn thời điểm này để gọi, vì nghĩ rằng ở thời điểm đó con người ta rất tỉnh táo.

- Cháu chào chú Nam Phong!

Đầu dây bên kia:

- Này ông nghe đi! – Tiếng một người phụ nữ, chắc người nhà của tướng Nam Phong.

- Ai vậy? – Một giọng nói với mức cường độ âm nhỏ hơn nhiều so với 6 năm về trước, khi tôi điện hỏi đường “tới nhà chú chơi” – Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh chỉ huy hướng chủ yếu đánh vào căn cứ Xuân Lộc, hồi 1975. Nhà riêng của ông ở Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

- Cháu là Còm lính sư 304, hồi “hai ngàn mười một” có tới thăm chú đó!

- Ờ ờ… nhớ rồi, giờ mày đang đâu?

- Cháu ở Biên Hòa, chú khỏe không?

- Bác Hồ nói rồi, tuổi tác càng cao, sức khỏe càng yếu, mày không biết hả? – Chú cười.

- Cháu nghĩ riêng chú thì dù tuổi có cao thì vẫn còn rất khỏe mạnh, nếu có “cánh cửa thép” nữa, chú vẫn phá tung ngon lành!

- Thôi, chuyện quá khứ nói lại làm gì, bữa nào lên tao!

Tôi bỗng ngập ngừng. Chiếc điện thoại như muốn tụt khỏi tay. Tôi nhìn trong suy nghĩ về hướng Đông, như còn nghe thấy tiếng súng, bom ùng oàng, chát chúa dưới một góc trời đỏ rực. Một “Thành cổ Quảng Trị thứ hai” trên đất Xuân Lộc, đã đi qua 43 năm trời…

*
Tôi lần lại trong đầu những dòng lịch sử của những năm tháng tiến gần tới ngày giải phóng miền Nam…

Trận đánh trinh sát ở Đường 14 – Phước Long (còn gọi là Chiến dịch Đường 14 – Phước Long) vào tháng 1-1975, Quân giải phóng đã làm chủ chiến trường, chứng tỏ một khả năng giải phóng miền Nam chỉ còn là thời gian, mà là thời gian ngắn. Trung ương Đảng đã quyết định mở cuộc Tổng tấn công quân sự mang tên “Chiến dịch Mùa xuân 1975” vào tận sào huyệt địch. Mở màn là Chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột và Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng trong tháng 3-1975, đẩy quân địch vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”!

Trước những cuộc tấn công như vũ bão của Quân giải phóng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không còn con đường nào khác là phải cầu cứu Hoa Kỳ viện trợ vũ khí. Người Mỹ đã tốn kém quá nhiều tiền của và con người cho một cuộc chiến phi nghĩa, lẽ nào Quốc hội Mỹ lại tiếp tục “ngu” nữa để mà viện trợ cho một đội quân đang rệu rã về tinh thần?!

Các “bộ não quan trọng” của Hoa Kỳ, trong đó có tướng Weyand Tổng tham mưu trưởng Lục quân Mỹ đã phải chụm lại với nhau để tìm một “tâm lý” cho quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trong thế cờ “tiến thoái lưỡng nan”. Nói vậy chứ, dù sao chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, họ đã gắn bó và trung thành với Mỹ cả hai chục năm trời, dù có ác độc tráo trở đến mấy cũng khó mà phủi tay tức thì, bởi như vậy thì còn mặt mũi nào với nhau… Và, Weyand đã có mặt tại Sài Gòn để “trăm nghe không bằng một thấy” tình hình chiến trường miền Nam Việt Nam. Từ đó mà “lập trình” ra phương án phản công đối phương mà họ gọi là Cộng sản hay Hà Nội. Không biết Weyand có cảm nhận được không, rằng: khó có thể tạo ra một nụ cười lạc quan cho chính quyền Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Thiệu đương kim Tổng thống? Tướng Weyand có biết không? Nhớ không? Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 đã được các bên ký kết: “Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…”. Vậy sự có mặt của tướng Weyand ở Nam Việt Nam lúc này cũng chỉ là một vở kịch để an ủi “người anh em” của mình! Nhưng ở đời, có những kẻ không biết mình đang mắc “căn bệnh vĩ cuồng”, luôn cho mình là “thống soái”, cho mình có quyền can thiệp vào nội bộ của các nước khác. Cho nên cái danh từ “Sen đầm Quốc tế” chỉ có ở đế quốc Mỹ. Ảo vọng bấy lâu nay của Hoa Kỳ là chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa riêng biệt của Mỹ.

So-495--Ky-uc-chien-thang-Xuan-Loc-1975
Tiếp quản Tiểu khu Long Khánh.

Sau khi thị sát tình hình chiến trường miền Nam Việt Nam, Weyand liền tức khắc cho lập phòng tuyến Xuân Lộc, cách Sài Gòn 80 cây số về hướng Đông. Phòng tuyến này được mệnh danh bằng một cái tên mang đầy hàm ý thách thức: “Cánh cửa thép” – “Cánh cửa thép” để bảo vệ thủ đô Sài Gòn. Đề tài xây dựng cánh cửa thép Xuân Lộc của Weyand đã khích lệ chuẩn tướng Lê Minh Đảo – Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh Việt Nam Cộng hòa, tuyên bố: “Sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết!”. Ông Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục mở miệng xin quan thầy Mỹ cứu viện để giữ vững căn cứ Xuân Lộc. Bởi đây là vị trí hiểm yếu, nếu mất Xuân Lộc thì, chao ôi, khi đó sẽ chẳng khác nào như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi năm xưa đã viết: “Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”. Và khi đó, tất nhiên cờ vàng ba sọc trên nóc Dinh Độc Lập sẽ được thay thế bằng lá cờ giải phóng! Mà, ông Nguyễn Văn Thiệu đâu có vừa, trong lúc này ông phải huy động mọi nguồn lực của chất xám để “ép” Mỹ giúp mình. Và, tất nhiên ông đâu phải trẻ con mà chỉ cần tới những lời động viên ngon ngọt theo cái kiểu, đại loại “Ngài cứ cố gắng yên tâm”. Ông cần là cần ngay vũ khí hạng nặng giết người hàng loạt, trong đó dứt khoát phải là B52, một loại pháo đài bay chiến lược rất hiệu nghiệm trong việc tiêu diệt đối phương. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi như thế thì bằng đánh đố Mỹ, bởi loại vũ khí này đã bị Hiệp định Paris cấm, mà Mỹ cũng đã ký cam kết rồi! Tuy nhiên, Mỹ cũng lại một lần nữa cố gắng bằng cách thay B52 bằng một loại bom ngạt đang tồn kho. Tổng thống Thiệu đã “khích tướng” Lê Minh Đảo: “Tổ quốc tin tưởng vào sự chỉ huy tài tình của Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh!”. Tướng Đảo vẫn chỉ có một phát biểu thay cho câu trả lời: “Sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết!”.

*
Năm 2010, tôi gặp trung tướng Lê Nam Phong ở Hội trường Thống Nhất, TP. Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Sư đoàn 304 (1950 – 2010). Trung tướng Nam Phong có hứa sẽ tiếp tôi tại nhà riêng của ông để “cậu muốn hỏi gì thì hỏi, chứ ở Hội nghị này nói sao hết”. Tôi vui như mở cờ trong bụng và chỉ kịp chụp với ông một bức hình làm kỷ niệm. Tuy nhiên, phải tới năm 2011 tôi mới có dịp “mục sở thị” nhà riêng của ông – vị tướng chỉ huy mũi chủ yếu tiêu diệt căn cứ Xuân Lộc của Việt Nam Cộng hòa, làm bàn đạp cho quân ta tiến công giải phóng Sài Gòn.

Tướng Lê Nam Phong tiếp tôi trong ngôi nhà của ông, một lầu, một trệt, trước là nhà của sĩ quan Việt Nam Cộng hòa để lại. Nhà có lan can rộng, thấp thoáng bóng mát của cây xanh, ta có thể ngắm được mây trời để khơi dậy tâm hồn.

Vị tướng ngồi đối diện tôi trông mộc mạc như một lão dân cày, chẳng giống vị chỉ huy ngày nào nhận cờ “Quyết chiến quyết thắng” từ tay tướng Hoàng Cầm, mà một lần tôi nhìn thấy trên truyền hình. Tuy nhiên, ông có đôi mắt “nhìn cháy kẻ thù” – một đôi mắt được tôi luyện trong lửa đạn, không dễ gì sắt thép và bạo lực có thể làm cho khuất phục! Rồi như hiểu được công việc sẽ diễn ra, tướng Phong lấy ra một bộ SƠ ĐỒ CÁC CHIẾN DỊCH trải ra giữa bàn. “Nói có sách mách có chứng”, ông bảo vậy. Thái độ của ông đã thể hiện một sự tôn trọng lời hứa và sự thật. Mục đích chủ yếu của tôi là tìm hiểu thêm về Chiến dịch Xuân Lộc, do chính ông trực tiếp tham gia mặt trận.

Cấp trên đã tin tưởng tướng Phong và giao cho ông chỉ huy một hướng quan trọng, làm ông ăn không ngon, ngủ không yên trong thế trận mà Quân giải phóng phải điều động hàng ngàn quân, cùng với vũ khí, xe tăng tới mặt trận không phải dễ dàng. Phòng tuyến Xuân Lộc của địch được thiết lập với biết bao vũ khí hiện đại và một đội quân thiện chiến sẵn sàng “phát hỏa” đối phương. Chủ lực của phòng tuyến này là Sư đoàn 18 bộ binh thuộc Quân đoàn 3, với một tư lệnh tài giỏi, tự tin, từng kinh qua nhiều trận đánh. “Cánh cửa thép Xuân Lộc” được ví như một bức chắn thép khổng lồ không một đối phương nào có thể phá được.

Tướng Lê Nam Phong kể lại: “Phía Quân giải phóng gặp phải muôn vàn khó khăn. Khó khăn về đường sá đi lại, quân số bị tổn thất và mệt mỏi từ các chiến dịch trước đó. Tuy nhiên, với bản lĩnh của người lính Cụ Hồ là khi đã cầm súng thì chỉ được quyền nghĩ về chiến thắng”. Đôi mắt vị tướng mở toang khi hình dung ra nơi chiến trường ác liệt ngày nào: “Một trận mưa pháo chưa từng thấy vào hồi 5 giờ 40 phút ngày 9-4 của Quân giải phóng dồn dập phóng vào các mục tiêu của địch trong thị xã Long Khánh. Cả một không gian mịt mùng khói lửa, cả một vùng đất rung chuyển. Bộ binh ta bắt đầu tiến công theo các hướng đã được phân công trước đó. Mũi chủ yếu dùng 8 xe tăng dẫn đầu, nhưng bị quân địch phản công quyết liệt… nhiều chiến sĩ hy sinh. Tổn thất ban đầu, ta đã không ngờ được, do đánh giá sai về địch!”. Nói tới đây vị tướng im lặng. Ông như thách đố tôi một điều gì? Ông đứng dậy đi ra lan can, bỏ mặc tôi. Ông phóng tầm mắt về phía chân trời phía Đông… Tôi tới bên ông lập bập: “Cảm động quá chú hả”. Chẳng biết ông nghĩ gì về câu nói của tôi, rồi ông vào nhà ngồi vào vị trí cũ để tiếp tục câu chuyện bằng Sơ đồ các chiến dịch.

Trung tướng Nam Phong chỉ vào sơ đồ kể tiếp: Sáng ngày 10-4, các mục tiêu của địch trong thị xã Long Khánh liên tục bị pháo binh Quân giải phóng dội vào, bộ binh cũng tấn công thẳng vào căn cứ Sư đoàn 18 nhưng… vẫn không đạt được điều mong muốn. Quyết không lùi bước, sang ngày thứ ba, 11-4, quân ta lại tiếp tục pháo kích rồi lại tấn công. Lúc này thì ta mới biết rõ hơn lực lượng địch mạnh đến nhường nào. Địch tăng cường hỏa lực và không quân yểm trợ, làm cho tình hình trở nên hết sức căng thẳng và ác liệt. Sau 3 ngày chiến sự xảy ra, lực lượng của hai bên tổn thất không kiểm soát nổi, ta vẫn chưa thể thọc được vào trung tâm đầu não của đối phương. Ta phải tạm ngưng tấn công để thiết lập một chiến lược mới. Trong con mắt của địch thì Việt cộng đã phải “lùi bước”.

Trước khi gặp trung tướng Nam Phong, tôi có về Long Khánh gặp cựu chiến binh Đào Bá Lượng đội trưởng đội biệt động, người đã tham gia Chiến dịch Xuân Lộc. Chính anh đã dẫn đường cho xe tăng từ Bàu Sầm, cách sở chỉ huy địch chừng 3, 4 cây số để đánh vào trung tâm sư đoàn 18 ngụy. Khi xe tăng ngang qua Bộ tổng hành dinh để cắm cờ thì bất ngờ dính đạn chống tăng của địch làm chiếc xe quay ngoắt sang một bên. Xe tăng bị đứt xích, thế mà anh Lượng và đồng đội đã kịp thời nối lại để tiếp tục chiến đấu, một tình huống không dễ gì tin nổi. Có lẽ tất cả những ai từng tham gia Chiến dịch Xuân Lộc cũng có cùng một nỗi niềm mừng vui, tự hào xen lẫn sự thương đau…

Sau “tạm thua”, Bộ Tư lệnh Miền và Quân đoàn 4 đã tức tốc tổ chức nghiên cứu quyết định chuyển phương hướng tác chiến, từ tiến công thẳng vào thị xã chuyển sang bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch. Phương án này đã đánh “trúng tim” tướng Phong, ông bảo: “Tôi như người chết đuối vớ được cọc, vì phương án này trùng hợp với suy nghĩ của tôi là hợp lý khả thi. Muốn bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch thì trước hết phải cô lập Xuân Lộc với các sân bay như Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc tới ứng cứu. Đồng thời bộ binh ta mở những trận tập kích quyết liệt vào đội hình địch, liên tiếp trong các ngày 16, 17 và 20, giải phóng hoàn toàn chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, đẩy địch vào thế hoảng loạn! Ngày 20-4, Sư đoàn 7 đánh chiếm Nam Tân Phong, chặn đường số 2, cùng các đơn vị khác truy kích địch. Địch bị đẩy vào bước đường cùng nên chúng đã cho máy bay thả xuống chiến trường Xuân Lộc hai quả bom ngạt CBU! Quân ta tổn thất nhiều lắm, nhưng đúng ngày 21-4, Cánh cửa thép Xuân Lộc đã bị Quân giải phóng phá tan tành!”.

Đặc biệt, tôi không thấy tướng Phong cười. Vẻ mặt ông hằn rõ sự ưu tư. Ông như nuối tiếc điều gì ở chiến trường Xuân Lộc đã đi qua hơn 1/3 thế kỷ. Chiến thắng Xuân Lộc đã làm nên bàn đạp để quân ta tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn, nhưng ta đã phải đánh đổi bằng một sự đổ máu quá lớn! Một trong những nguyên nhân tổn thất là do ta đã đánh giá lực lượng địch với sai số không nhỏ, kịch bản tác chiến trong thế trận tập trung quân đoàn có nhiều binh chủng chưa khoa học!

Tôi không muốn vị tướng nghĩ về sự mất mát lớn lao nữa, vì dù sao nó đã xảy ra rồi, chiến thắng nào chẳng có mất mát hy sinh. Nhưng có một chi tiết cũng thật thú vị, đó là lần đụng độ với tướng Lê Minh Đảo qua làn sóng vô tuyến điện. Tướng Đảo hỏi tướng Phong, có phải chỉ huy của Việt cộng không? Ông trả lời, chỉ huy là tướng Hoàng Cầm, còn tao là Lê Nam Phong, Tư lệnh Sư đoàn 7. Tướng Đảo liền hét lên: “Việt Nam Cộng hòa sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết!”. Tướng Nam Phong liền nổi giận đùng đùng: “Chúng tao sẽ diệt bọn mày chết tại đây!”. Bữa chửi nhau đó suýt ông bị cấp trên kỷ luật! Tướng Nam Phong nổi tiếng là nóng tính, nên đồng đội còn gọi ông là tướng “Nam lửa”. Trong suy nghĩ của ông, chuẩn tướng Lê Minh Đảo là một tướng trẻ hiếu chiến, có tài nhưng cuối cùng đã phải bỏ của chạy lấy người, rồi cũng được chính quyền Sài Gòn lúc đó đang bên bờ vực thẳm vinh thăng lên thiếu tướng. Tôi hỏi:

- Giả sử giờ gặp lại tướng Lê Minh Đảo thì trung tướng nghĩ sao?

- Thì bắt tay nhau chứ có gì, quá khứ khép lại. Đường lối phát triển ngoại giao của Đảng ta như vậy.

Sau chiến thắng Xuân Lộc, tướng Nam Phong tiếp tục cầm quân giải phóng Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, rồi nhanh chóng hòa cùng các cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn. Rất tiếc là đơn vị của ông tới muộn không cắm được cờ trên Dinh Độc Lập. Ông bảo đồng đội, không cắm được cờ trên cao thì mình cắm cờ dưới thấp!

Trong suốt cuộc đời chinh chiến, trận đánh Xuân Lộc để lại trong tâm tư vị tướng già dấu ấn vô cùng sâu nặng, đan xen nhiều nỗi lòng da diết! Có lúc ông đã rơi nước mắt vì cảm xúc chiến thắng, nhưng có lúc lại rơi nước mắt vì nỗi thương đau! Trung tướng Nam Phong rưng rưng: “Long Khánh – Xuân Lộc – Đồng Nai là mảnh đất che chở cho tôi và đồng đội hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó!

Trường Sĩ quan Lục quân 2 (nay là trường ĐH Nguyễn Huệ) đóng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nơi tôi làm Hiệu trưởng từ năm 1987 đến khi về nghỉ hưu năm 2000, biết bao kỷ niệm sâu đậm với đồng chí đồng bào trong chiến tranh cũng như trong hòa bình”.

Tôi đã từng về thăm Long Khánh, từng tới viếng tượng đài Chiến thắng Long Khánh nằm ở khu giao tiếp giữa quốc lộ 1 và đại lộ Hùng Vương. Tượng đài bên công viên cây xanh, tạo ra một cảnh quan đẹp tuyệt vời. Tôi ngắm nghía từng con chữ nổi trên tượng đài và hình tượng đôi nam nữ – chiến sĩ giải phóng quân hiên ngang tư thế tiến công, mà lòng đầy xao xuyến tự hào. Chợt nhớ tới câu nhận xét của Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam: “Chiến dịch Xuân Lộc là chiến dịch đẫm máu nhất trong toàn bộ các chiến dịch Mùa Xuân 1975”.

Long Khánh đổi mới từng ngày. Những con đường thênh thang rộng mở. Người xe qua lại tấp nập, các khu công nghiệp đã bắt đầu khởi sắc, tạo nên bức tranh đa sắc màu đẹp mắt. Long Khánh là một trong những vùng kinh tế chiến lược của tỉnh Đồng Nai, vì nó là đầu mối giao thông với các tỉnh miền Trung và cao nguyên. Nơi đây đất đai màu mỡ, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn trái, cây có giá trị kinh tế cao trong xuất khẩu. Chính quyền nơi đây đang có những kế hoạch khả thi để đưa kinh tế phát triển xứng tầm thời đại. Hình ảnh Long Khánh thật nên thơ và lãng mạn trong mắt mọi người. Dân cư nơi đây có đủ 3 miền. Họ làm rẫy, cấy lúa, trồng nấm, chăn nuôi… Nhưng có lẽ thế mạnh của Long Khánh là phát triển cây cao su và cây ăn trái. Tôi đã từng đi trong rừng cao su bạt ngàn, in vào trong mắt là hình ảnh những người công nhân yêu nghề như yêu chính bản thân mình. Nhiều gia đình giàu lên trông thấy. Nhớ lại thời mất nước, người lao phu đã phải “Bán thân đổi lấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” (Tố Hữu). Người dân Long Khánh giờ đã biết phát huy tinh thần cách mạng để xây dựng cuộc sống ấm no hơn. Những dân tộc anh em như Kinh, Nùng, Hoa, Chơ-ro, Châu Mạ… đã biết đoàn kết bên nhau để xây dựng cuộc sống mới. Long Khánh cũng nổi tiếng về trồng cây ăn trái xuất khẩu. Cây trái được nhân rộng, lai tạo thêm giống mới chất lượng cao, đưa sản phẩm đi khắp mọi miền đất nước và ra tận nước ngoài.

Về Long Khánh hôm nay mênh mang gió lộng, lòng bỗng bâng khuâng nhớ về những người đã hy sinh cho mảnh đất này. Các anh, các chị đã làm nên những chiến công vang dội một thời để có cuộc sống hạnh phúc cho thế hệ hôm nay. Thật khó nói hết nên lời. Tôi lại nhớ đến câu nhận xét của tướng Nam Phong: “Ta đã phải đổ xuống chiến trường Xuân Lộc biết bao máu xương để tạo thành bàn đạp tiến quân vào giải phóng Sài Gòn”.

Một niềm tự hào chiến thắng trong xây dựng đất nước hôm nay nữa là, ngày 24-1-2015, Thủ tướng Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao Bằng công nhận danh hiệu “Huyện nông thôn mới” đầu tiên trên cả nước cho huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh. Đó là một trong những lời tri ân sâu sắc nhất của mảnh đất này đối với những con người đã hy sinh để làm nên chiến thắng…

Tôi sẽ về thăm lại tướng Lê Nam Phong trong một ngày gần nhất…

Biên Hòa, tháng 4-2018

Đào Sỹ Quang
(Nguyên lính Sư đoàn 304)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 495

Ý Kiến bạn đọc