Người tốt - Việc tốt

Kỷ Niệm Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8-3-2017 – Mãi mãi không quên

“Hồ Chí Minh cha chúng ta về một ngày thu muôn ánh sao bay rợp thành đô”. Có lẽ chưa có một lần nào trong đời, chúng tôi được hát vui, hát với tất cả tâm hồn như một ngày tháng tư năm 50 ấy. Chúng tôi được chào đón Bác, Bác đến thăm các đại biểu về dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất.

Những gương mặt xanh vì sốt rét vì những đêm nằm hầm bỗng rạng rỡ hồng hào, những đôi mắt sáng lên, không rời nhìn Bác. Bác đã đến thật rồi kia! Nước da Bác rám hồng, vầng trán cao rộng của Bác còn đọng lấm tấm những giọt mồ hôi. Bác vừa vượt một chặng đường xa khá vất vả đến thăm chúng tôi.

Bác đấy. Bộ quần áo màu nâu chân chất, chòm râu bạc phơ, khuôn mặt hiền từ, luôn nở nụ cười độ lượng trước những câu thăm hỏi, những lời chào của lớp lớp đàn cháu gái.

Những chị cán bộ lãnh đạo tuổi tác, những chị cán bộ gan góc vùng địch hậu, những chị cán bộ vùng rẻo cao, trong giây phút đều quên hết mọi nghi thức và tất cả bỗng hồn nhiên, bỗng như thơ trẻ trước mặt Bác.

Bác cháu quây quần tụ họp dưới bóng xanh mát rượi của rừng nứa. Bác thân thiết hỏi thăm các đại biểu về dự đại hội. Nam bộ, Khu 5, miền xuôi, miền núi, vùng tự do, vùng địch tạm chiếm, chúng tôi có cảm giác Bác đã hiểu tất cả. Tấm lòng những người dân vùng sau lưng địch luôn luôn hướng về kháng chiến, lòng dân vùng rẻo cao, sự hy sinh tận tụy của cán bộ từ cơ sở.

Cảnh sum họp dưới cánh rừng nứa buổi chiều hôm ấy thực sự đầm ấm, đầy tình thương yêu thân thiết của đại gia đình cách mạng. Bác nói chuyện với Đại hội và rồi Bác cho phép các đại biểu được hỏi Bác, về việc gì cũng được, việc công cũng như việc tư.

Ho-chu-tich-rat-quan-tam-den-viec-giai-phong-phu-nua
 Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ. Năm 1956, Người căn dặn các cán bộ phụ nữ toàn miền Bắc “đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hòa bình thế giới”.

Nhiều chị đã mạnh dạn hỏi về những điều các chị chưa hiểu: chuyện công tác, chuyện gia đình. Hội trường nhiều lần vang lên tiếng cười vui vẻ. Câu trả lời của Bác thường giản dị và đôi lúc dí dỏm. Rồi chúng tôi được chụp ảnh chung với Bác.

Những đốm nắng trong cánh rừng nhạt dần. Bác sắp ra về. Lòng dạ chúng tôi nao lên. Bao giờ mới lại được gặp Bác lần thứ hai nữa? Hội trường sâu lắng một giây, giọng Bác ấm áp: “Bác chúc các cô ra về mạnh khỏe. Về địa phương những chị em nào có thành tích, các cô nhớ gửi báo cáo lên cho Bác”.

Những lời dặn của Bác vang vọng mãi trong tôi. Tôi suy nghĩ mãi “Chị em nào có thành tích các cô nhớ gửi báo cáo lên cho Bác”. Chị du kích đội Trưng Trắc, bà mẹ Nam phần Bắc Ninh, tôi được gặp những ngày theo bộ đội vào vùng sau lưng địch… “Vâng thưa Bác, cháu sẽ cố gắng”.

Những buổi tối mùa hạ, dưới ánh đèn nhựa trám, tôi cố gắng viết về những trận đánh giặc bằng đòn gánh, bằng mưu trí của những cô gái từng trồng dâu nuôi tằm ở một làng ven sông Đuống. Tôi viết về lòng yêu nước, thương bộ đội của bà mẹ từng chỉ quen nghề quay tơ, dệt cửi. Mừng ngày sinh nhật Bác 60 tuổi, tôi gửi thư chúc thọ Bác và mạnh dạn gửi lên Bác những trang viết đầu tiên. Tôi có ngờ đâu Bác cũng đọc những mẩu chuyện nhỏ ấy.

Một buổi sáng tháng 6, tôi vừa đi công tác về, các đồng chí trong cơ quan nhìn tôi, ánh mắt vui hẳn lên. Các chị, các bạn cùng tuổi đều vỗ vai tôi, bảo: “Cô được Bác gửi thư cho đây này. Sướng nhớ!”.

Mừng vô hạn, tôi vội đón lấy thư mở ra xem. Thư của Bác, do Bác tự tay đánh máy chỉ ngắn gọn mấy dòng, nhưng tôi đọc đi đọc lại mãi không chán.

“Gửi Bích Thuận,

Cháu đã chép và viết vài mẩu chuyện. Mấy trang chắc cháu không biết và không viết con số vào mỗi trang. Đó là một khuyết điểm sơ suất.

Trong các phụ nữ chỉ có cháu và cô Minh viết. Cháu viết nhiều hơn. Tất cả là 26 trang.

Vậy Bác gửi thưởng cháu một cái huy chương và khuyên cháu cố gắng tiến bộ mãi.

Hôn cháu

Bác

10-6-1950”

Ôi! Chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thể được phút hạnh phúc và vinh dự quá lớn lao ấy. Nhưng tôi cũng ân hận đã quên một việc nhỏ là không đánh số vào mỗi trang. Tấm hình của Bác trong suốt những năm kháng chiến luôn luôn động viên tôi. Không, không chỉ có tấm hình mà khuôn mặt hiền từ của Bác từ những ngày tháng 8-1945 đã in sâu vào tim óc tôi. Nhớ biết bao nhiêu bầu trời mùa thu trong trẻo năm ấy, Hà Nội tưng bừng cờ và hoa, đón ngày Tết Độc Lập đầu tiên ở vườn hoa Ba Đình.

Ho-chu-tich-voi-phu-nu-cac-dan-toc
Hồ Chủ tịch với phụ nữ các dân tộc.

Nhớ biết bao nhiêu ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước ta. Ngày ấy, chúng tôi ngồi trên chiếc xe đi tuyên truyền cổ động cho cuộc bầu cử. Khi chúng tôi vừa nhắc đến tên Bác, xe cũng vừa đến dinh Bắc bộ. Một cánh cửa sổ hé mở và khuôn mặt Bác hiện ra, hiền từ âu yếm, Bác cười. Chúng tôi sung sướng quá. Hình ảnh của Bác, nụ cười của Bác mãi mãi cho đến nay có bao giờ chúng tôi quên được.

Mùa hè năm 1951, tôi đi theo một đơn vị quân y phục vụ chiến dịch Hà – Nam – Ninh. Tôi đi với các đoàn dân công, đi tới các đội điều trị. Và tôi viết về các chị dân công làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương, về các bà mẹ hết lòng phục vụ thương binh.

Từ cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến thần thánh, do Bác cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo, đã nảy sinh biết bao người phụ nữ mới. Những người phụ nữ trung thành và tận tụy. Tôi phải viết về họ. Và một lần nữa, tôi gửi lên Bác những mẩu chuyện tôi ghi chép trong chiến dịch.

Một buổi sáng mùa đông, một món quà bất ngờ nữa đến với tôi. Bác cho gọi tôi đến. Bác cẩn thận dặn đồng chí Thắng trong đơn vị bảo vệ Bác, nhắc tôi ăn sáng và nắm thêm một nắm cơm ăn dọc đường, nhưng vì quá mừng tôi chỉ ăn qua quít rồi vội theo anh đi ngay.

Bầu trời xanh của núi rừng Việt Bắc mở rộng trước mắt tôi. Ánh sáng mùa đông hôm ấy sao ấm thế, cánh rừng đẹp thế, dòng suối trong thế. Chân tôi đi, đi mãi mà không mỏi. Hết cánh rừng này đến cánh rừng khác, hết dốc cao này đến dốc cao khác. Chúng tôi đi một mạch không nghỉ, không ăn, không uống và đến chiều thì tới nơi Bác ở.

Tim tôi đập mạnh. Nhà Bác đây rồi. Thoạt tiên là một gian nhà bếp sáng sủa, sạch sẽ, lên một khúc nữa là gian nhà vừa là nơi Bác ăn cơm và cũng là phòng nghỉ của đơn vị bảo vệ, cạnh đó là nhà khách.

Tôi nôn nóng được tới chào Bác. Bác đang làm việc. Mười ngón tay của Bác đập giòn giã trên bàn máy chữ. Một mảng nắng chiều mùa đông hắt lên vầng trán cao rộng của Bác, lên bộ quần áo nâu giản dị Bác đang mặc.

Tôi chạy vội lại bàn làm việc của Bác, tôi chào Bác, hai mi mắt cứ nóng ran cả lên, Bác cười, hỏi tôi đi đường có nhớ mang cơm nắm đi ăn không, đi đường xa có mệt không? Tôi đáp: “Thưa Bác, được đến Bác, cháu mừng quá, nên không mệt, không đói ạ”. Một tình cảm ấm áp trìu mến tràn vào trong tôi sau những năm tháng xa gia đình.

Tôi nhìn ngắm mãi ngôi nhà Bác ở, một nếp nhà thực giản dị. Giường Bác nằm nghỉ, cái bàn bên cửa sổ nơi Bác làm việc, mọi vật đều trật tự ngăn nắp. Tôi nhìn và tôi thấy hầu như không có gì xa lạ giữa giữa ngôi nhà của một vị Chủ tịch nước và nhà của các cơ quan.

Bác hỏi tôi chuyện gia đình, chuyện công tác. Bác hỏi thăm một số chị em trong cơ quan, đời sống của chúng tôi. Tôi nói với Bác những ngày chúng tôi đi chiến dịch, chuyện các bà mẹ, các chị em phục vụ chiến trường, các chiến sĩ bị thương. Bác nghe và đột nhiên Bác cười bảo: “Cô viết còn nhạt lắm”. Bác gọi các anh ở văn phòng lên, bảo xếp chỗ nghỉ cho tôi.

Hôm sau, Bác giao cho tôi một việc: đọc những số báo Bác đưa cho: Nhân đạo, Vì một nền hòa bình lâu dài, lấy ở trong đó ra những mẩu chuyện, những tin tức mình đang cần; ví dụ: mẩu chuyện phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam, tố cáo chế độ tư bản đế quốc…

Bác lại hỏi tôi về những bài viết của C. B. đăng trong báo Nhân dân. Tôi thưa với Bác về cách viết bài của C. B. Bác gật đầu, bảo: “Bây giờ cô cũng viết như thế cho Bác xem”.

Buổi sáng tôi đọc báo đến khoảng 10 giờ thì Bác gọi đi ăn cơm. Chiều và tối, cũng đọc báo, đọc những mẩu chuyện đánh máy bằng tiếng Pháp Bác đưa cho, toàn là chuyện đánh Pháp cả. Tôi nhớ nhất là chuyện Chị Ba vườn chuối. Chị Ba đã chặt hết cây chuối trong vườn nhà giúp bộ đội vượt sông. Giặc Pháp đến tra hỏi chị, chị một mực không khai và chị đã anh dũng hy sinh ngay trong vườn chuối nhà chị. 

Trong thời gian 3 ngày, tôi lượm lặt tin tức và viết được 5 bài báo ngắn nộp Bác…

Tôi nhớ mãi một buổi tối mùa đông, trời rét buốt, chúng tôi ngồi trong nhà vẫn rét, chợt thấy một ánh đèn pin lóe lên từ bên kia suối. Không phải ai khác nữa: “Bác đến! Bác đến thật rồi!”. Chúng tôi reo ầm lên, chạy ùa ra đón Bác, vây quanh Bác. Một số các anh bên cơ quan Nông hội nghe tiếng reo “Bác đến” cũng chạy sang. Một anh thưa với Bác là Bác không sang cơ quan Nông hội. Bác quan tâm tới cơ quan Phụ nữ nhiều hơn. Bác nói luôn: “Các chú không được ganh tị với các cô ấy. Dưới chế độ cũ, các cô ấy đã chịu thiệt thòi nhiều rồi, bây giờ Đảng và Chính phủ, và Bác phải quan tâm đến các cô ấy!”. Câu này tôi nhớ mãi.

Đến cơ quan, trước hết Bác xuống nhà bếp, Bác đi một lượt qua các phòng xem “các cô đã quân sự hóa” đầy đủ chưa? Bác tới uống nước ở phòng chị Hoàng Thị Ái, Bác hỏi thăm sức khỏe các chị em. Bác hỏi cơ quan mới di chuyển tới đây, đã tăng gia chưa, có đủ rau ăn không, có muốn ăn rau cải soong Bác sẽ gửi cho một ít hạt. Bác ra về lúc đêm đã khuya. Sương muối lộp độp rơi trên các cành lá. Trước cửa cơ quan là một con suối lớn, nước ào ào chảy xiết. Cũng như các anh đi theo bảo vệ Bác, Bác xắn quần lội qua. Chúng tôi thương Bác quá. Những đêm giá rét ấy, Bác Hồ vẫn đi công tác.

Giữa rừng núi Việt Bắc, sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi luôn được Bác động viên. Một lần, cơ quan phải di chuyển, Bác đã gọi dây nói tới đồng chí Hoàng Quốc Việt hỏi: “Nhà của cơ quan Phụ nữ đã làm tới đâu rồi?”. Cơ quan đến nơi ở mới, chưa có rau ăn thì nhận được một sọt rau muống Bác gửi đến cho. Rau này do chính Bác và các anh trong đơn vị bảo vệ trồng. Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, Bác gửi cho một hộp kẹo chiến lợi phẩm.

Và mỗi lần Tết đến, chúng tôi lại càng nghĩ tới Bác, thương Bác. Những chị khéo tay được giao làm mấy món ăn giản dị mà Bác thích. Nhận được quà, Bác gửi đến một mẩu giấy nhỏ:

Cám ơn các cháu, các cô
Mứt khoai, dưa món, Bác Hồ khen ngon.

Bác hiền từ và thân ái biết bao. Bác bao giờ cũng là Bác của toàn dân. Đã nhiều lần, tự đáy lòng, tôi phải thốt lên như vậy. Đối với Bác không có khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước và một nhân viên đánh máy, một người nấu ăn. Bác thương yêu và trân trọng việc làm của mỗi người, sự đóng góp dù nhỏ bé của mỗi người.

Những bài viết của tôi năm ấy được Bác gửi lại. Mỗi bài đều có đính theo bản góp ý chung cho cả bài, lại góp từng câu, từng ý, câu này viết chưa ổn, nên viết như thế này, và vì sao phải viết như thế. Đến nay tôi vẫn còn nâng niu, gìn giữ.

Mỗi lần tới thăm Đại hội các nhà báo, Bác đều gọi các cháu gái viết báo lên ngồi hàng ghế đầu. Bác kể chuyện những năm làm báo cho chúng tôi nghe.

Bác thường căn dặn chúng tôi phải viết “cho hay, cho chân thực, cho sinh động, cho hùng hồn” về những con người mới của thời đại ta, chế độ ta. Chúng tôi chưa làm được như điều Bác mong muốn.

Riêng đối với những người viết văn nữ chúng tôi, công việc còn gặp biết bao nhiêu khó khăn. Nhưng mỗi lần thất bại, mỗi khi gặp khó khăn, tôi không nản. Tôi thiết tha muốn thể hiện những người phụ nữ của thời đại Hồ Chí Minh, những người phụ nữ đẹp như hoa nở mùa xuân, ngày xưa kiên cường chống Pháp và bây giờ đang dũng cảm chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Và những năm tháng Việt Bắc, những năm tuổi trẻ đi kháng chiến hạnh phúc nhất của cuộc đời chúng tôi, tôi vẫn nhớ rõ rệt như mới ngày hôm qua vậy.

Tình thương của Bác vẫn dẫn dắt chúng tôi vượt qua bao trở ngại, mãi mãi tôi không bao giờ quên được.

1974

Nhà văn Bích Thuận
(Từ sách Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 440

Ý Kiến bạn đọc