Tản văn

Kỷ Niệm Ngày Phụ Nữ Việt Nam (20-10) – Điều mong mỏi sau nỗi đau quạnh vắng

Từng Nổi Danh Là Một Nữ Du Kích Dũng Cảm, Đảm Đang Công Tác Xã Hội Nhưng Ít Người Biết Rằng Nữ Du Kích Trương Thị Tám (Vợ Liệt Sĩ Đỗ Trọng Hội) Sớm Gánh Chịu Nỗi Đau Mất Chồng Khi Ở Tuổi 36. Năm Ấy, Hình Ảnh Nữ Bí Thư Đảng Ủy Xã Trương Thị Tám Vấn Khăn Tang, Tới Các Gia Đình Động Viên Người Dân Đóng Góp Sức Người, Sức Của Cho Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Trở Thành Hình Ảnh Xúc Động, Lay Động Tâm Can Nhiều Người Dân Trong Xã.

Và, Hơn 10 Năm Qua, Cứ Vào Ngày Rằm Và Mồng 1 Hằng Tháng, Bà Nguyễn Thị Nghì (Vợ Liệt Sĩ Phan Văn Tuyển) Lại Đạp Xe Hơn 40 Cây Số Từ Nơi Ở Của Bà Tại Tp. Hải Dương Về Xã Việt Hòa, Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên Để Hương Khói Cho Người Chồng Liệt Sĩ. Khi Sức Khỏe Giảm Sút, Bà Bắt Xe Ô Tô Khách Để Mỗi Tháng Hai Lần Có Dịp “Tâm Sự” Cùng Chồng…

1. Chúng tôi đến thôn Bắc Châu (xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) hỏi thăm nhà bà Trương Thị Tám, hầu hết người dân trong xã đều biết. Gặp bà Tám, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy bà trẻ hơn nhiều so với tuổi 85, nhất là khi được nghe bà kể lại về một thời trận mạc từng diễn ra cách đây hơn 6 thập kỷ.

Chuyện bắt đầu từ cuối năm 1951, khi cô bé 17 tuổi Trương Thị Tám tình nguyện tham gia kháng chiến, xung phong vào đội du kích của xã. Trải qua các khóa huấn luyện, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Trương Thị Tám sớm trở thành nữ du kích mưu trí, dũng cảm.

Sáng 20-6-1953, trên đê Phương Trù, nữ du kích Trương Thị Tám dẫn một tổ đi đầu, mang theo những gánh rau, chuối vào chợ bán, một tổ khác giả vờ cắt cỏ đi dưới chân đê, phía xa là hai anh bộ đội địa phương được cải trang thành phụ nữ, mang theo hai súng tiểu liên yểm trợ. Khi vừa đến chỗ tốp lính có khẩu súng trung liên, Trương Thị Tám bất ngờ hô to: “Xung phong…”, rồi tuốt ngay đòn gánh phang vào đầu tên giữ khẩu trung liên. Hai chị cùng đi cũng rút đòn gánh đánh địch tới tấp. “Lúc đó, tôi xông vào cướp khẩu trung liên, vật tên này xuống bóp cổ. Hắn chống cự quyết liệt làm cả tôi và hắn lăn xuống dốc đê. Tên địch cắn mạnh vào tay tôi rồi vùng chạy. Mấy tên khác xúm vào cướp được khẩu trung liên, cùng lúc đó, các chị ở tổ cắt cỏ cũng lao lên và hô xung phong, dùng đòn gánh đánh vào bọn lính túi bụi. Hai anh bộ đội từ phía sau đồng loạt nổ súng, bọn địch hoảng hốt hô “Việt Minh đông quá!”, rồi tháo chạy về bốt”. Trận đó, ta tiêu diệt 1 tên địch, làm 2 tên khác bị thương nặng, thu 1 khẩu súng trường, 1 máy điện đàm, 1 hòm đạn. Bốt Phương Trù sau đó bị ta bao vây và 20 ngày sau thì bị tiêu diệt hoàn toàn…” – bà Tám nhớ lại.

Sau này, khi tổng kết chiến tranh, Đại tá Võ An Đông, nguyên Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hưng Yên, đã kể lại: “Hình ảnh các nữ du kích Khoái Châu dùng “đòn gánh đánh Tây” gây tiếng vang lớn, góp phần cổ vũ, động viên phong trào tìm địch mà diệt trong toàn huyện. Chiếc “đòn gánh đánh Tây” không còn là thứ vũ khí thô sơ mà trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng cho khí phách anh hùng, dũng cảm, táo bạo của các nữ du kích Hoàng Ngân”.

Năm 1966, khi về công tác tại Hưng Yên và được nghe kể về thành tích của nữ du kích Trương Thị Tám, nhà thơ Huy Cận đã viết tặng bà Tám bài thơ “Gái Bãi Sậy sông Hồng”: Đơn giản có gì đâu/ Con gái vùng du kích/ Tuổi bẻ gãy sừng trâu/ Đòn gánh dồn đánh địch…/ Kẻ thù dẫu thay vai/ Ta đâu ngừng đánh trận/ Hậu phương cũng pháo đài/ Chị vững vàng đòn gánh…

Ba-Truong-Thi-Tam-on-lai-ky-niem-trong-nhung--nam-tham-gia-hoat-dong-cach-mang-o-vung-dich-hau-Hung-Yen
Bà Trương Thị Tám ôn lại kỷ niệm trong những năm tham gia hoạt động cách mạng ở vùng địch hậu Hưng Yên.

Bài thơ và bút tích của nhà thơ Huy Cận hiện vẫn được bà Tám trân trọng lưu giữ, trở thành kỷ vật khó quên về một thời “bẻ gãy sừng trâu” của bà và đồng đội. Do có thành tích xuất sắc trong kháng chiến, bà 3 lần được chọn là nữ du kích đại diện cho lực lượng Nữ du kích Hoàng Ngân tham gia Lễ duyệt binh tại Hà Nội trong các năm 1954-1956 và có 6 lần vinh dự được gặp Bác Hồ.

Từng nổi danh là một nữ du kích dũng cảm, đảm đang công tác xã hội và công việc gia đình, nhưng ít người biết rằng, nữ du kích Trương Thị Tám đã sớm phải gánh chịu nỗi đau quạnh vắng từ khi còn rất trẻ. Cuối năm 1955, cô thôn nữ Trương Thị Tám xây dựng gia đình với chàng trai Đỗ Trọng Hội, người cùng xã, là bộ đội chống Pháp và vừa xuất ngũ sau ngày hòa bình lập lại. Khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, năm 1968, bà Tám động viên chồng mình tái ngũ, lên đường vào Nam chiến đấu.

Bẵng đi mấy năm (1969-1971), bà linh tính chuyện chẳng lành vì không nhận được thư từ, tin tức gì của chồng. Sốt ruột, bà lên cơ quan quân sự huyện, rồi lên tỉnh dò hỏi, mọi người đều bảo không biết. Bà trở về, tiếp tục đảm đang việc nước, việc nhà và không nguôi hy vọng, mong ngóng tin chồng. “Một hôm, tôi tới gặp các anh ở ủy ban xã, bảo: “Thôi, các anh đừng giấu tôi nữa. Tôi đã xác định tư tưởng rồi. Tin tức của chồng tôi cụ thể thế nào, các anh cứ thông báo để tôi được biết” – bà Tám kể lại chuyện xưa mà nước mắt lăn dài.

Cuối cùng, điều chẳng lành mà bà linh tính đã trở thành sự thật. Năm 1972, chính quyền địa phương chính thức thông báo tới gia đình và tổ chức lễ truy điệu cho chồng bà – Liệt sĩ Đỗ Trọng Hội. Bà Tám đau xót nhận giấy báo tử của chồng và được biết người bạn đời của mình đã hy sinh từ năm 1969. Năm ấy, bà Tám gánh chịu nỗi đau mất chồng khi đang ở tuổi 36. Hình ảnh nữ Bí thư Đảng ủy xã Trương Thị Tám vấn khăn tang, tới các gia đình động viên họ đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ trở thành hình ảnh xúc động, lay động tâm can nhiều người dân trong xã…

Nén đau thương, mất mát, bà Tám dồn tất cả tâm trí, sức lực để thay chồng chăm sóc cha mẹ, nuôi dạy 4 người con và tiếp tục tham gia công tác xã hội. Giờ đây, khi đã nghỉ hưu và hằng ngày sum vầy cùng con cháu, bà Tám vẫn canh cánh một nỗi niềm, cũng là tâm nguyện mà hơn 40 năm qua bà và những người con đã nỗ lực thực hiện nhưng chưa thành. Đó là dù mong manh, nhưng bà vẫn luôn mong mỏi có được thông tin về phần mộ của người chồng liệt sĩ, để trong những năm cuối đời, bà sẽ được phần nào vơi bớt nỗi đau quạnh vắng…

2. Từ khi về nghỉ hưu (năm 2003), cứ vào ngày rằm và mồng 1 hằng tháng, bà Nguyễn Thị Nghì (vợ Liệt sĩ Phan Văn Tuyển), lại đạp xe hơn 40 cây số từ nơi ở của bà tại TP. Hải Dương về xã Việt Hòa, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên để hương khói cho người chồng liệt sĩ. Khi sức khỏe giảm sút, bà đón ô tô khách để mỗi tháng hai lần có mặt ở Nghĩa trang Liệt sĩ xã Việt Hòa. Mới đây, chúng tôi được bà kể lại những kỷ niệm với người chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu với không quân Mỹ ngày 5-8-1964.

Bà Nghì cho biết, do điều kiện công tác thời chiến, nên khi ấy bà không rõ chồng mình làm nhiệm vụ gì. Sau ngày chồng hy sinh, khi đến đơn vị đóng tại Quảng Ninh, bà mới được biết rõ hơn về công việc, nhiệm vụ của chồng. Khi xem lại những kỷ vật của Liệt sĩ Phan Văn Tuyển, chúng tôi thấy trong Giấy báo thành tích của đơn vị đề cập khá cụ thể về hành động anh dũng trong chiến đấu của Trung sĩ Phan Văn Tuyển. Giấy báo thành tích do Chính trị viên Đơn vị 4.100 Hoàng Sùng ký ngày 6-8-1964, một ngày sau khi Trung sĩ Phan Văn Tuyển hy sinh, ghi rõ: “Khi máy bay địch đến tập kích, đồng chí Phan Văn Tuyển chiến đấu rất dũng cảm, lúc thì lái tàu tránh đạn, lúc thì cầm súng bắn máy bay địch khi chúng bổ nhào xuống tàu, đồng chí đã chiến đấu đến khi bị trọng thương và trút hơi thở cuối cùng”.

Trong số những thành tích, khen thưởng do đơn vị gửi về, Trung sĩ Phan Văn Tuyển, Tiểu đội trưởng ngành lái, thuộc Khu Tuần phòng 1 (Bộ Tư lệnh Hải quân) luôn được cấp trên đánh giá là một quân nhân ưu tú, trong đó có 5 năm liền là chiến sĩ giỏi, 2 năm (1962-1963) được cấp trên tặng bằng khen, 3 năm liền là đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ vượt mức kế hoạch.

Chúng tôi đã tìm gặp các cựu chiến binh (CCB): Vương Văn Bậc (phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh), Nguyễn Văn Soát (xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), Hoàng Văn Quang (xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) – những chiến sĩ hải quân cùng đơn vị với Liệt sĩ Phan Văn Tuyển và được nghe họ kể về hành động hy sinh dũng cảm của Trung sĩ Phan Văn Tuyển. Ông Vương Văn Bậc, người có mặt trên tàu 146 đúng ngày Phan Văn Tuyển hy sinh, kể: “Khi nhận lệnh làm nhiệm vụ ở tàu 146, Phan Văn Tuyển đã cùng đồng đội chiến đấu với không quân Mỹ ngày 5-8-1964 tại vùng biển thị xã Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh. Hôm đó, anh Tuyển vừa lái tàu tránh hỏa lực địch, vừa dũng cảm bắn trả địch khi máy bay Mỹ bổ nhào xuống tàu”.

Nâng niu những tấm huân chương, những bằng khen, giấy khen của chồng, bà Nghì xúc động kể: “Sau ngày chồng tôi hy sinh, tôi nhớ có anh Đàm, mang quân hàm Trung úy, được đơn vị cử về báo cáo thành tích chiến đấu anh dũng của Liệt sĩ Tuyển. Anh Đàm kể rằng, khi bị trọng thương ở bụng, hở một phần ruột ra ngoài, anh Tuyển vẫn gắng chịu đau, dùng kim băng cài phần da bụng lại để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu cho tới lúc hy sinh vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 5-8-1964”. Những đồng đội của Liệt sĩ Tuyển cũng cho biết, ngay sau ngày anh hy sinh, cả đơn vị và địa phương đều tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền về tấm gương hy sinh anh dũng của Liệt sĩ tới cán bộ, chiến sĩ hải quân và đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh Hưng Yên học tập, noi theo.

Các đồng đội của đồng chí Tuyển cũng cho biết, do có hành động dũng cảm trong chiến đấu, nên tháng 12-1964, Liệt sĩ Phan Văn Tuyển được Chủ tịch Hồ Chí Minh truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được đơn vị đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. “Sau này, phần vì chuyển công tác, phần vì nhiệm vụ chiến đấu nên chúng tôi không biết thêm thông tin về việc truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Liệt sĩ Phan Văn Tuyển” – CCB Nguyễn Văn Soát kể.

Giờ đây, dù đã ở tuổi “thất thập”, nhưng hằng tháng bà Nghì vẫn đều đặn về hương khói và “tâm sự” cùng chồng. Những trang thư, những dòng nhật ký và biết bao câu chuyện mà đồng đội kể về chồng được bà trân trọng lưu giữ trong “bảo tàng ký ức” của riêng mình. Trong số đó, bà không sao quên được lá thư cuối cùng chồng gửi về; đề ngày 26-7-1964. Trong thư, anh Tuyển tâm sự: “Công việc của anh nay đây mai đó, không mấy khi ở đâu cố định. Nếu tình hình dịu đi thì tháng 9 tới anh sẽ được về với em…”.

Mỗi khi rảnh rỗi, trong căn nhà quạnh vắng, bà Nghì lại lật mở những kỷ vật của chồng và hồi tưởng lại về một thời lửa đạn. Điều bà vẫn thường mong mỏi, đó là được gặp lại các đồng đội cũ của chồng, bởi bà muốn được nghe chuyện, được chắp nối thông tin về người chồng liệt sĩ, để “bảo tàng ký ức” của riêng bà thêm phong phú, cũng là để gia đình, dòng tộc và quê hương Việt Hòa thêm tự hào về một người con đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh trong trận đầu đánh thắng của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bùi Minh Tuệ
(Báo Quân đội nhân dân, Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 472

Ý Kiến bạn đọc