Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Kỷ niệm Nam Phong tạp chí và ca ngợi Phạm Quỳnh nhằm mục đích gì ?

Tình cờ lên mạng đọc báo Tuổi Trẻ online đề ngày 1-7-2017, sau đó đọc báo in của Tuổi Trẻ số ra ngày 2-7-2017 đều có bài viết:“Sáng ngày 1-7 tại mộ phần của cụ Phạm Quỳnh (phường Trường An, TP. Huế) diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm ngày Nam Phong tạp chí – một trong những ấn phẩm báo chí viết chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam – xuất bản số đầu tiên (1-7-1917 – 1-7-2017). Trong không khí trang nghiêm, những nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa và cả những người dân sống gần khu vực mộ phần của cụ Phạm Quỳnh – đều nghiêng mình tưởng nhớ đến nhà chí sĩ Phạm Quỳnh – người có công tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để thay thế tiếng Hán và tiếng Pháp vào đầu thế kỷ XX”.

Sự thật có đúng như báo Tuổi Trẻ in và báo Tuổi Trẻ điện tử khẳng định Nam Phong tạp chí là “một trong những ấn phẩm báo chí viết chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam” không?

Theo như lâu nay ta biết, báo chí viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là tờ Gia Định báo (cũng là báo của thực dân Pháp), phát hành ngày 15-4-1865. Và rõ ràng, là hơn nửa thế kỷ sau (52 năm) Nam Phong tạp chí mới ra đời. Và nó ra đời nhằm mục đích gì, xin tham khảo các tài liệu sau:

Sử sách của chế độ cũ viết về Nam Phong tạp chí như thế này: “Trước những phong trào chính trị đang bộc phát mãnh liệt do các nhà ái quốc như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu cầm đầu (!), chính quyền thực dân đâm ra hốt hoảng. Để đối phó lại những tư tưởng tranh đấu, cách mạng của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã xướng và hiện đang có một ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng nhất là giới thanh niên nam nữ trí thức, Louis Marty – Giám đốc chính trị Phủ Toàn quyền Pháp lúc bấy giờ đề nghị dùng cơ quan ngôn luận để thực hành phương pháp “Dĩ độc trị độc”. Vào tháng 7-1917, tờ tạp chí “Nam Phong” ra đời và được giao phó cho ông Phạm Quỳnh, một người thông hiểu Hán văn, Quốc văn và Pháp văn…

Nam-Phong-tap-chi

Đã được chỉ định theo huấn lệnh của thực dân, Nam Phong phải tán dương và ca tụng chính sách cai trị của thực dân ở Đông Dương trong những công việc cải cách về hành chính, kinh tế, thương mại, canh nông. Hô hào chủ trương Pháp – Việt đề huề, ca tụng nước Đại Pháp trường tồn vĩnh viễn và các quan cai trị Pháp tại Việt Nam. Không những ca tụng chính quyền thực dân, Nam Phong còn ca tụng cả chính quyền phong kiến của Khải Định với những bề tôi trung thành. Đó là những lề lối tuyên truyền để gián tiếp chống lại những lời lẽ lên án gắt gao chính quyền thực dân của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từ hải ngoại gửi về trong nước. Để chống lại phong trào duy tân do Đông Kinh nghĩa thục đề xướng vẫn còn âm vang trong tâm não của dân tộc Việt Nam, tờ Nam Phong lại đưa ra những tư tưởng lạc hậu, tuy đôi khi cũng có những tư tưởng tiến bộ nhưng đó chỉ là thứ “tiến bộ cầm chân”. Hành động như vậy chính quyền thực dân mong ru ngủ thanh niên nam nữ Việt Nam. Về chính trị đã thế, trên phương diện văn chương, Nam Phong lại cổ xúy phong trào lãng mạn, đưa ra những cuộc tình duyên ngang trái, tỉ tê rên xiết với những mối tình dang dở bi thương như tác phẩm “Tuyết Hồng Lệ Sử” của Từ Trẩm Á, với mục đích làm cho tâm hồn thanh niên ta suy nhược, thích thương vay khóc mướn, không còn mong gì tranh đấu cho cuộc cách mạng đòi lại chủ quyền của đất nước nữa.

Còn “Đề cương Lịch sử Việt Nam toàn tập” – Chủ biên GS. Trương Hữu Quýnh – GS. Đinh Xuân Lâm – PGS. Lê Mậu Hãn, NXB Giáo dục, trang 661 ghi rõ: “… Năm 1917, Đông Dương tạp chí đình bản, thay vào đó là tạp chí Nam Phong, với cây bút chính là Phạm Quỳnh – cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính trị của thực dân Pháp ở Việt Nam. Núp dưới chiêu bài “yêu nước” phụng sự “Tổ quốc”, tờ báo đã mê hoặc được một số người còn bế tắc hay mơ hồ về con đường đi, dẫn đến hoặc là cộng tác chặt chẽ với Pháp, hoặc quay lưng lại thực trạng mất nước và ách thống trị tàn bạo đẫm máu của đế quốc Pháp. Với tạp chí Nam Phong đã hình thành một hệ thống tư tưởng nô dịch, văn hóa duy tâm phản động, chống chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa cộng sản trên các lĩnh vực chính trị, triết học, văn học, sử học…”.

Rõ ràng, sử sách của chế độ ta hay sử sách của chế độ cũ: tạp chí Nam Phong do thực dân Pháp đẻ ra, nuôi dưỡng và vì thực dân Pháp mà sản xuất – là công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ tội ác của thực dân Pháp dùng để siết chặt vào cổ dân tộc ta xích xiềng nô lệ nhằm duy trì sự thống trị mãi mãi của chế độ: “Đông Dương thuộc Pháp”.

Chưa hết, bài báo trên Tuổi Trẻ còn có đoạn tôn vinh Phạm Quỳnh như một chí sĩ yêu nước, một nhân vật mà khi thực dân Pháp dựng lên chính phủ bù nhìn Nam triều, Bảo Đại về nước làm… “vua” thuê cho Pháp, Phạm Quỳnh được giao chức Thượng thư Bộ Lại và là Viện trưởng Viện cơ mật của Nam triều.

“Mới đây, trên tạp chí Hồn Việt số 79, tháng 3-2014 có bài của tác giả Đặng Minh Phương có đoạn: “Trong thời gian làm trụ cột của triều đình Huế, ông có một việc làm được nhiều người nói đến đó là việc ông sang Pháp “đòi” hay “xin” Pháp thực hiện Hòa ước năm 1884 (hòa ước mà triều đình Huế ký chịu đầu hàng Pháp). Về việc này, báo Ngày Nay ở Hà Nội ngày 28-9-1939 viết: “Trong bảy năm ông làm trụ cột trong triều đình Huế, lương cao bổng hậu, ông đã không làm được một mảy may cho dân cho nước. Và mới đây công việc của ông định làm là sang Pháp xin trở lại Hòa ước 1884 sáp nhập Bắc kỳ vào Trung kỳ dưới một triều đình Huế, thật là một việc thất sách và vụng về hết chỗ nói… tất cả cuộc thử nghiệm của tướng công thật là hư vô. Trong bảy năm ông chỉ là cái bù nhìn đáng thương. Cho nên vì tướng công chúng tôi kêu lên. Về đi thôi, từ chức đi thôi ông Phạm Quỳnh”. Và ở một đoạn khác, tác giả đã trích dẫn một câu của bác sĩ Trần Đình Nam (Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ Trần Trọng Kim) nhận xét về một số việc làm của Phạm Quỳnh: “Đó là việc làm của một người phản quốc”. Cụ nói tiếp: “Từ đó tôi thật sự thất vọng và khinh Phạm Quỳnh”(Trích theo Nguyễn Văn Trung trong “Trường hợp Phạm Quỳnh”, tủ sách Tìm về dân tộc – Nam Sơn, Sài Gòn 1975). Bài báo của tác giả Đặng Minh Phương còn có hai chi tiết quan trọng sau đây:

Bảo Đại, ông vua cuối cùng triều Nguyễn trong hồi ký cũng đã viết về Phạm Quỳnh: “… Tôi đóng vai trò bình phong, làm phỗng đá, để cho các quan lại cai trị của họ (Pháp) tha hồ làm mưa làm gió. Họ cũng đặt ở các địa vị then chốt những bọn tay sai dễ bảo, bọn trung thành tuyệt đối. Họ đặt cạnh tôi Phạm Quỳnh là họ được bảo đảm rồi!”.

Ngay trong thời điểm Cách mạng tháng Tám nổ ra, tướng De Gaulle đã cho 6 sĩ quan do tên quan tư Castella chỉ huy nhảy dù xuống Hiền Sĩ cách Huế 25 km về phía bắc với bản mật lệnh: “Quan tư Castella có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh… với các lực lượng Pháp hải ngoại và các lực lượng Pháp nội địa để chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền bảo hộ ở miền Trung Việt Nam”.

Và khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, theo Daniel Grandclément: “… Trong khi một số quan lại cũ hội họp biểu lộ lòng trung thành với chế độ mới thì một số phần tử chống đối hoặc gây trở ngại cho chính quyền mới đều bị thẳng tay trừng trị. Không ai biết rõ con số là bao nhiêu. Trong tháng 11, các báo ở Huế đưa tin vắn tắt Phạm Quỳnh, nguyên Thượng thư Bộ Lại, đứng đầu Viện cơ mật của triều đình Huế và Ngô Đình Khôi, nguyên Thượng thư, cùng với con trai là Ngô Đình Huân đã bị tòa án cách mạng xử tử trong thời gian thiết quân luật. Báo còn đưa tin: Sáng ngày 10-12-1945, Tòa án quân sự Thuận Hóa (tức TP. Huế) đã mở phiên tòa xử Nguyễn Tiến Lãng, trước đây là thư ký riêng của bà Nam Phương, cũng là con rể của Phạm Quỳnh, tuyên phạt 8 năm tù, tịch thu 2/3 gia sản”… (Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam của Daniel Grandclément – Người dịch: Nguyễn Văn Sự, NXB Phụ Nữ, trang 248).

Luật gia, nhà báo Hoàng Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 458

Ý Kiến bạn đọc