Ngoài nước

Kỷ niệm “Chiến tranh Việt Nam” để làm gì?

Bài 3

 

Khi chúng ta bước vào năm thứ ba của chương trình 13 năm Kỷ niệm cuộc Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, theo kế hoạch sẽ kéo dài từ ngày 28-5-2012 đến ngày 11-11-2025, người Mỹ ở khắp nơi đã tham gia vào các sự kiện do tổ chức Cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam tổ chức. Như với bất kỳ chương trình nào được các quan chức mơ ước, rằng mục tiêu là bắt buộc, kẻo các nhà tổ chức và người tham gia thiếu tập trung và tiền của người nộp thuế sẽ bị lãng phí.

Điều tiếp theo là sự phản biện đối với 5 mục tiêu được đề ra để kỷ niệm 50 năm ngày chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, một sự đền đáp trống rỗng đối với một thế hệ bị lãng quên và rất nhiều cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam đã bị ngược đãi, một nỗ lực khập khiễng để cứu vãn danh dự không tồn tại. Năm mục tiêu đó là:

1. Cảm ơn và tôn vinh các cựu chiến binh của Chiến tranh Việt Nam, bao gồm những người bị giam giữ như tù nhân chiến tranh (POW), hoặc được liệt kê là mất tích (MIA), vì sự phục vụ và hy sinh của họ đã thay mặt cho Hoa Kỳ; cảm ơn và tôn vinh gia đình của những cựu chiến binh này.

Cảm ơn và tôn vinh vì họ đã làm gì, cho ai, bằng phương tiện gì và đem lại điều gì? Tôi nhớ lại những lời của Camillo Mac Bica, giáo sư triết học tại Trường Nghệ thuật Hội họa ở New York và là cựu chiến binh ở Việt Nam, người đã viết trong một bài luận năm 2012 rằng: “Tôi không muốn tỏ ra vô lễ hay vô ơn, nhưng nếu một ngày nào đó chúng ta gặp nhau trên đường phố, xin hãy nói “Xin chào”, hoặc “Chúc ngày đẹp trời”, hoặc những điều tốt đẹp như vậy, nhưng xin đừng cảm ơn tôi với tư cách tôi là một Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tôi đưa ra yêu cầu này bởi vì nghề nghiệp của tôi, như bạn đề cập đến, về cơ bản là được đào tạo để trở thành một kẻ giết người, giết trực tiếp hoặc thổi bay họ bằng vũ khí”.

Thay vì tôn vinh để rồi rơi vào vòng xoáy chiến tranh khác, thay vì cảm ơn cho nghề nghiệp của những người lính – tại sao không lên án các nhà lãnh đạo chính trị thời đó đã nói dối công dân của họ và phần còn lại của thế giới, những hành động dẫn đến cái chết và thương tích của hàng triệu người Việt Nam cùng những người khác ở Đông Nam Á, và ai đã khiến cho hàng chục ngàn thanh niên Mỹ phải chết trong vô vọng?

Tại sao không kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ ngày nay đưa ra lời xin lỗi chân thành đến nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người dân Việt Nam, gia đình của những người lính đã hy sinh, xin lỗi các cựu chiến binh Hoa Kỳ và gia đình của họ đã bị mất mát, thiệt hại theo nhiều cách do cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam?

Tại sao không chịu trách nhiệm để thực hiện cam kết đã bị phá vỡ của Tổng thống Nixon, trong một lá thư ngày 1-2-1973 gửi Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phạm Văn Đồng, hứa cung cấp ngân quỹ cho tái thiết sau chiến tranh trong phạm vi 3,25 tỷ USD? Chỉ một phần trong số tiền đó thôi, sẽ đủ để cung cấp điều trị, chăm sóc và hỗ trợ cho tất cả các nạn nhân của chiến tranh, cũng như tạo ra một cơ sở hạ tầng phục vụ con người (ví dụ như hệ thống chăm sóc sức khỏe) mà sự phát triển đã bị chậm lại do thiếu tài nguyên gây ra bởi chiến tranh và do chính sách cấm vận xảo quyệt, gây ra nghèo đói.

Về khía cạnh tù binh, điều này gây khó khăn cho tôi rằng làm sao có thể chấp nhận những người như John McCain là anh hùng của nước Mỹ. Họ đã ở sai vị trí và không đúng lúc, nơi họ không có quyền ở đó. Còn anh hùng thực sự, phải là những cựu tù binh đã phản đối chiến tranh như Bob Chenoweth, cựu trung sĩ quân đội Hoa Kỳ bị bắt năm 1968. Chenoweth đã nói điều này, 5 năm sau khi được thả tự do: “Hầu hết các tù nhân đều ăn mừng vào ngày họ được thả. Riêng tôi kỷ niệm ngày tôi bị bắt. Đó là một ngày hạnh phúc đối với tôi, ngày tôi bắt đầu được hiểu về một chủng tộc khác”.

Đối với các MIA còn lại, tất cả có 253 người còn mất tích ở Việt Nam, theo Bộ Tư lệnh JPAC của chương trình POW/MIA, hãy yên nghỉ, và gia đình họ có thể bình an… Ngân sách mỗi năm hơn 100 triệu đô la của JPAC nên được chi tiêu tốt hơn cho cuộc sống, bao gồm cả những người sống sót và nạn nhân của các di sản chiến tranh như Chất độc da cam và bom mìn chưa nổ (UXO).

2. Tôn vinh sự phục vụ của Lực lượng Vũ trang trong Chiến tranh ở Việt Nam và sự đóng góp của các cơ quan Liên bang, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ từng phục vụ hoặc hỗ trợ cho Lực lượng Vũ trang.

Dùng khái niệm “phục vụ” trong bối cảnh Chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là một sự nhạo báng hoàn toàn đối với từ này. Cuốn sách bán chạy nhất của Nick Turse, “Giết bất cứ thứ gì di chuyển: sự thật về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”, trong đó ghi lại một cách tỉ mỉ sự lạm dụng, tra tấn và giết hại thường dân Việt Nam chỉ nhằm mục đích báo cáo, họ tìm cách giết người thật nhiều chỉ để lấy số liệu chứng minh cho “chiến thắng” trong các trận chiến và cả cuộc chiến, cũng là một giải pháp tâm lý để tự an ủi khỏi bế tắc. Sự “phục vụ” thực sự ở đây là thế!

3. Vinh danh những đóng góp trên lĩnh vực dân sự của người dân Hoa Kỳ trong “Chiến tranh Việt Nam”.

Đóng góp của ai? Những người thuộc nhóm ủng hộ Nixon? Những cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã theo dõi những người biểu tình phản chiến? Vậy còn những đóng góp của phong trào phản chiến, những nỗ lực của họ đã thúc đẩy sự kết thúc của cuộc chiến thì sao? Điều gì sẽ dành cho sự can đảm của Tiến sĩ Martin Luther King, người đã dũng cảm phá vỡ sự im lặng và nói điều này trong bài phát biểu phản chiến công khai đầu tiên của mình, tại thành phố New York vào ngày 4-4-1967, đúng một năm trước khi ông bị ám sát: “chắc chắn sự điên rồ này phải chấm dứt… Tôi nói như một đứa con của Chúa và anh em với những người nghèo khổ của Việt Nam. Tôi nói cho những người có đất bị bỏ hoang, nhà cửa bị phá hủy, văn hóa bị lật đổ… Tôi nói như một công dân của thế giới, vì thế giới đang đứng trước con đường mà chúng ta đã đi…”.

Thêm nữa, ai sẽ vinh danh sự liêm chính của những người đã quyết định không nhập ngũ? Và ai sẽ vinh danh những người phản đối có lương tâm như Doug Hostetter, một nhân viên Ủy ban Mennonite ở miền Trung Việt Nam từ 1966-1969 thì sao? Điều gì sẽ dành cho những tác động của những cựu chiến binh chống chiến tranh, bao gồm cả ngoại trưởng hiện tại, John Kerry? Lời khai tháng 4-1971 của John Kerry trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, và những người khác đã làm chứng trong cuộc điều tra tháng 1 – tháng 2/1971, một cuộc điều tra về tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ có được vinh danh?

4. Khẳng định những tiến bộ trong công nghệ, khoa học và y học liên quan đến nghiên cứu quân sự được thực hiện trong “Chiến tranh Việt Nam”.

Đó là những tiến bộ gì mà loài người được hưởng? Có những nghiên cứu nào về ảnh hưởng sức khỏe ngắn hạn và dài hạn của phơi nhiễm chất độc màu da cam? Làm thế nào để cứu những người lính bị thương nặng, những người sẽ phải chết trên chiến trường để chuẩn bị cho những bất ổn trong tương lai, cũng dựa trên những lời dối trá (ví dụ như ở Iraq, Libya)? Có phải Việt Nam đã bị biến thành một phòng thí nghiệm cho việc sử dụng bom, đạn chùm, mìn và lựu đạn, các kỹ thuật tra tấn mới?

Mục tiêu này gợi nhớ đến những “tiến bộ” trong công nghệ, khoa học và y học liên quan đến nghiên cứu quân sự, được thực hiện bởi Đệ tam Quốc xã. Nó minh họa rằng tinh thần “cái gì có thể tiến hành – hãy tiến hành” nổi tiếng của Mỹ ở mức độ đồi trụy, man rợ nhất của nó – dò dẫm tìm một lớp lót bạc trong bóng tối của đạo đức.

5. Ghi nhận những đóng góp và sự hy sinh của các đồng minh Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.

Những đóng góp và hy sinh của các chư hầu Mỹ – tất cả đều là vô ích với những chi phí đau lòng, chủ yếu là người Việt Nam phải chịu đựng, và cả một thế hệ cựu chiến binh nước ngoài, Hoa Kỳ và gia đình của họ, những người đã phải trả giá bằng sự tan vỡ và, trong nhiều trường hợp, cuộc sống bị kết thúc sớm, bao gồm các tác động đa thế hệ của chất độc da cam, PTSD (hội chứng khủng hoảng tâm lý sau chấn thương), ly dị, lạm dụng ma túy, bị giam giữ, vô gia cư, tự tử.

Thêm nữa, những tội ác chiến tranh gây ra ở Việt Nam của các lực lượng đồng minh Hoa Kỳ, đặc biệt là quân đội của người Úc và Hàn Quốc thì sao?

Vượt qua quá khứ

Tin tốt là trong khi hầu hết nước Mỹ tiếp tục đam mê với cuộc diễu hành tưởng niệm quốc gia này, mà chối bỏ quá khứ đẫm máu của nó và ngăn chặn ký ức của con người – thì đất nước hình chữ S nhỏ bé mà ở đó Quân đội Hoa Kỳ đã gây ra rất nhiều cái chết và sự hủy diệt lại đang nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn nhất của thế giới đang phát triển, Việt Nam đã trở thành một người chơi lớn ở Đông Nam Á và là đối tác có giá trị của Hoa Kỳ, bất chấp mọi dự đoán tiêu cực về nó trước các hành động thù địch, bao gồm lệnh cấm vận kinh tế tàn khốc hàng đầu của Hoa Kỳ, mới chỉ kết thúc trong tháng này của 24 năm trước (7/1995). Việt Nam đã thắng thế, trên tư thế bất khuất của nó: Việt Nam thuộc về người Việt Nam!

Khi được hỏi liệu cô có cảm thấy căm thù Mỹ không, một người phụ nữ sống sót sau vụ ném bom Giáng sinh năm 1972 ở Hà Nội đã trả lời: “Nếu là bạn thì bạn nghĩ sao? Bạn sẽ không bao giờ có thể quên những gì đã xảy ra, nhưng bạn sẽ không thể tiến về phía trước nếu bạn luôn luôn nhìn về phía sau. Chúng tôi là nạn nhân. Còn người Mỹ và các nhà lãnh đạo chính trị của họ cần phải nhìn lại phía sau, trước khi họ có thể tiến lên”.

Mark Ashwill
(Nhà giáo dục người Mỹ)
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 565

Ý Kiến bạn đọc