Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Kỷ Niệm 50 Năm Mậu Thân – Mậu Thân và chuồng cọp Côn Đảo

Lần đầu tiên thăm lại chiến trường xưa, đoàn Cựu tù quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh bước lên “lầu” chuồng cọp 1, hướng dẫn viên của Đoàn Thanh niên Côn Đảo nói: Đây là nơi giam giữ những tù nhân quậy phá hung dữ và nguy hiểm! Tôi vội bước tới cải chính: Không, đây là nơi kẻ thù đày đọa những tù nhân bất khuất không chịu hô những khẩu hiệu phản động và không chịu chào lá cờ màu vàng 3 sọc đỏ, vâng đúng thế! Từ thời Ngô Đình Diệm, chúng đã nhốt hàng trăm người ở đây, đày đọa cho đến chết chỉ vì không chịu ly khai ra khỏi Đảng, không xé ảnh Bác Hồ, xé cờ đỏ sao vàng và đả đảo lãnh tụ.

Ai cũng biết Côn Đảo rất nổi tiếng từ xa xưa với những đặc sản của rừng, chim yến và những sản vật quý hiếm của chúng, những dược liệu có thể cải tử hoàn sinh cho con người, những báu vật của biển, ngoài cá tôm sò hến còn có cả loài rùa mà người ta quen gọi là con vích. Côn Đảo còn nổi tiếng là nơi đày đọa tù nhân là các chí sĩ yêu nước thời nhà Nguyễn dưới chế độ Thực dân Pháp và sau Cách mạng tháng Tám dưới chế độ Sài Gòn, Côn Đảo còn gọi là Côn Lôn, là Trung tâm cải huấn Côn Sơn, tù nhân thường gọi là “trung tâm cãi hoánh” (Cãi không lại là hoánh), là Địa ngục trần gian có một không hai.

Côn Đảo trong thời chống Mỹ là nơi giam giữ hàng vạn chiến sĩ cách mạng và một số tù thường phạm. Vậy Côn Đảo trong Chiến dịch Mậu Thân như thế nào? Với tư cách là một cựu tù chính trị có hơn ba năm là cư dân “chuồng cọp” trong dịp: Phá xiềng xuân thức cùng sông núi của cả nước, tôi chỉ có thể kể với các bạn không khí Mậu Thân ở chuồng cọp hay nói cách khác chuồng cọp với Mậu Thân.

Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, trước sức đấu tranh quyết liệt của tù chính trị trên toàn Côn Đảo, chúng chủ trương không buộc người tù chính trị ly khai nữa, thay vào đó là: buộc tù nhân học tập các chủ trương chính sách Việt Nam Cộng hòa và chào cờ ba sọc; Lực lượng tù chính trị tiếp tục chống và chúng đưa xuống chuồng cọp trại 1. Từ giữa năm 1965 đến cuối năm 1969, có khoảng 350 người bị nhốt trong 40 xà lim trên tổng số 60 xà lim của chuồng cọp 1. Đây là những người chống tất tần tật, từ khổ sai, học tập, chào cờ đến các việc như lăn tay để lập hồ sơ câu lưu, không chịu quét vôi các buồng giam, không nhận quà của bọn lãnh tụ mỗi khi chúng lên cầm quyền, dù đó là những nhu yếu phẩm hết sức cần thiết cho sinh hoạt của người tù… với câu phương châm: Những gì địch muốn thì ta không muốn. Cũng từ những năm nầy, trên toàn Côn Đảo chúng xây thêm các trại 5, 6, 7, 8.

Hai dãy chuồng cọp có tổng số 120 xà lim, được xây dựng từ thời Pháp dùng để nhốt tù tử hình, cấu trúc và kích thước giống nhau về hình thức bên ngoài nhưng bên trong mỗi xà lim có khác; xà lim chuồng cọp trại 1 mặt đáy có hình một cái chai mà miệng chai là cánh cửa sắt dày hơn 5mm, phần đít chai đối diện với dãy phòng bên kia cách nhau một vách dày 70cm, hai bên hông giáp với 2 phòng tương tự, cách nhau bởi bức tường 50cm. Nghe nói trong thời Pháp thuộc chúng không lắp đặt còng xiềng, đến thời Ngô Đình Diệm chúng thiết kế mỗi phòng một cây sắt đặc phi 27 dùng để xỏ xâu cổ chân người tù xuyên qua một cái quyện sắt, cây sắt được đút vào 2 trụ sắt cách mặt nền xi măng 20 cm, một đầu có lỗ để siết một con bù lon thay cho khóa, đặc điểm con bù lon nầy, nếu muốn vặn cho nó xoay phải có khóa chuyên dụng vì trên đầu con tán có một vòng tròn bao quanh một hình tam giác cân, xoay được hình tam giác ấy là mở được con bù lon, coi như việc còng xiềng vô hiệu.

Năm 1967, chúng nhượng bộ cuộc đấu tranh dai dẳng của cư dân chuồng cọp, đồng ý đưa một số anh em lên trại 4, sống cuộc sống tự quản, không phải học tập hay chào cờ gì cả. Ta chấp nhận hằng ngày để một số anh em khỏe mạnh khoảng 30 người đi đốn củi, cứ 4 người đốn 1 mét khối, thời gian rỗi trồng rau cải thiện đời sống, săn bắt cá và thú rừng về tẩm bổ cho những anh chị em ốm đau kiệt sức. Những anh em còn lại dưới chuồng cọp chúng cho là lãnh đạo cầm đầu, sau một thời gian trắc nghiệm sàng lọc, cũng được cải thiện bữa ăn và cho mở cửa xà lim mỗi ngày 1 tiếng đồng hồ. Những người được lên trại 4 tự do qua lại các phòng, học tập vui chơi văn nghệ thoải mái, các phòng có ban đại diện của mình tự bầu ra. Đây là giai đoạn đấu tranh thắng lợi to lớn chưa từng có trong nhà giam Côn Đảo, kể từ khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ cho đến lúc này, nhiều anh em phấn khởi nói đùa: “Đã ra tới vùng Giải phóng rồi”. Thoải mái lại sinh bệnh chủ quan khinh địch, nhiều anh em trẻ phát ngôn khiêu khích trong khi chúng cố tình lợi dụng cuộc sống thoải mái làm lung lay ý chí chiến đấu của ta bằng nhiều phương cách như: Buộc chúng ta trước khi ra vào trại phải giở nón đứng nghiêm, với yêu cầu để kiểm tra an ninh nhưng thật ra đó là hình thức chào lá cờ ba sọc treo thường xuyên trên nóc cổng. Lãnh đạo trại chủ trương không xếp hàng, không giở nón nhưng cũng có những người cho rằng giở nón đâu phải là chào cờ, chỉ một động tác nhỏ như vậy của kẻ thù đã làm phân hóa nội bộ ta, phải đấu tranh củng cố, cho thấy kẻ địch nham hiểm biết nhường nào!

Anh-minh-hoa---Mau-Than-va-chuong-cop-Con-Dao
Một ngăn chuồng cọp trong trại tù ở Côn Đảo. Mô hình minh họa – Ảnh: bookin.vn

Tháng 10-1967, sau khi nhận thấy chiêu sử dụng cuộc sống thoải mái trong nhà giam như kể ở trên để lung lạc ý chí chiến đấu của chúng ta không kết quả mà lực lượng của chúng ta càng đoàn kết và mạnh hơn lên, địch tổ chức một cuộc đàn áp, đưa toàn bộ anh em từ trại 4 trở về chuồng cọp. Từ 5 giờ sáng ngày 10-10 năm ấy, tất cả các cửa sổ các phòng giam của trại 4 bị bọn trật tự dùng đệm bịt kín hết, các loại bột DDT (thuốc diệt muỗi) trộn với vôi bột gói thành từng gói đã tập kết đầy đủ. Sáu giờ sáng, khoảng một trung đội trật tự, toàn là những tên tù thường phạm, trang bị ma trắc, chân mang giày bố, ập vào các phòng, chủ yếu là phòng số 10, nơi tập trung phần lớn là những thanh niên khỏe mạnh, đội quân đốn củi hằng ngày đấu tranh trực diện với bọn chỉ huy trại, lính áp tải và trật tự ác ôn, chúng luôn nhận được những câu nói sốc đầy thách thức của đội xung kích trẻ và chúng cũng mường tượng ra rằng: Phòng số 10 là nơi các đồng chí lãnh đạo trại sinh hoạt và đề ra phương hướng nhiệm vụ đấu tranh, chúng tập trung lực lượng đánh vào “chỉ huy sở” với những đòn bất ngờ, táo bạo và dã man nhất, chúng ném mấy chục gói bột DDT vào các phòng kể cả phòng bệnh xá, bị nhiều nhất là phòng số 10, các bịch bột vỡ ra bay tung tóe trong phòng, nồng nặc mùi vôi và thuốc xịt muỗi.

Dự đoán tình hình từ vài tháng trước, lãnh đạo trại đã phân công anh em sẵn sàng vào vị trí chiến đấu, bảo vệ những đồng chí già yếu bệnh tật, dùng khăn nhúng nước làm khẩu trang chống bụi độc, đồng thời không cho địch xé lẻ anh em để đàn áp và đưa trở lại chuồng cọp.

Phòng số 10, đội hình xếp thành 3 lớp, các anh em yếu sức và các đồng chí lãnh đạo ngồi lớp sau cùng sát vách tường, thanh niên khỏe mạnh ngồi hàng trước, trung niên ngồi hàng giữa, tất cả câu tay nhau. Lớp sau ôm lưng lớp trước, miệng hô: Đả đảo đàn áp! Đả đảo đàn áp! Vang động toàn Côn Đảo. Các trại khác ủng hộ bằng cách hô đả đảo hoặc lãn công không đi làm như thường ngày.

Trong lịch sử đấu tranh ở nhà tù Côn Đảo, lãnh đạo không chủ trương đánh trả như ở nhà giam Phú Quốc, mặc dù ý kiến nầy cũng được bàn tới nhưng cuối cùng không được thực hiện, lớp thanh niên trẻ ở phòng số 10 lúc ấy rất hăng hái chỉ chờ có lệnh là ra tay, nhưng đành bó tay để chúng tha hồ đánh đập, đấm đá, anh em chỉ biết hô đả đảo và chịu trận. Kết thúc cuộc đàn áp, toàn bộ những anh em Trại 4 bị đánh bầm giập, có người hộc máu chết ngất, chúng hoàn thành mục tiêu là: đưa  những con người mà chúng không thể chuyển hóa theo ý của chúng trở lại chuồng cọp, còn chúng ta phải trả một cái giá là hai đồng đội mãi mãi không về.

Thông thường những tin thời sự chuyển đến chuồng cọp qua các anh em làm tạp dịch bên ngoài và qua một vài người trật tự mà chúng ta cảm hóa được, nhưng các nguồn tin luôn mất thời gian tính. Tuy nhiên qua các biểu hiện của bọn Giám thị, Trật tự, trước đó lãnh đạo cũng có những nhận định chung như: Bên ngoài chắc đánh lớn, có lẽ là rộng khắp. Chúng nó cho tăng cường tuần tra canh gác, số Trật tự tăng đáng kể, còn dùng sắt phi 27 bắc ngang qua các cánh cửa xà lim, móc thêm 2 ổ khóa Mỹ to tướng, dù đã có 2 ổ khóa hằng ngày.

Từ sau đợt đàn áp tháng 10-1967 như đã nói ở trên, phần lớn anh em bị còng chân suốt ngày đêm. Chúng nhốt tối đa 6 người một phòng, 3 người nằm thẳng trên bệ, 3 người còn lại phải lòn cái chân bị còng qua cây sắt, quay đầu ngược lại với 3 người kia nhưng phải treo cái chân lên vì cái sàn sâu hơn nửa mét, khoảng vài giờ phải đổi cho nhau vì chân tê không chịu nổi. Đến đợt nầy, trước thềm xuân Mậu Thân, địch dồn người 2 phòng thành một, chật cứng như nêm, có một cách để có thể chịu đựng được lâu dài trong chuồng cọp là phải mở được còng chân.

Như nói ở trên, thái độ lo lắng và siết chặt các biện pháp an ninh của bọn địch đưa đến cho lãnh đạo khu chuồng cọp nhận định: Bên ngoài có chuyển biến lớn có lợi cho Cách mạng, dù chưa biết việc gì đã xảy ra, cũng không rõ tên chiến dịch là gì, trên cơ sở Nghị quyết 15 của Trung ương đã được quán triệt một cách không đầy đủ trước đó, lãnh đạo chuồng cọp đề ra phương châm “Mở cuộc đấu tranh để hưởng ứng với bên ngoài, khi thời cơ đến sẵn sàng hành động”.

Đồng chí Trương Trọng Cảnh, quê ở Quảng Nam, một trong những đồng chí lãnh đạo tích cực và năng nổ nhất của chuồng cọp, bị chúng bắt giam riêng và còng chân nhiều ngày, anh đưa ra yêu sách đòi mở còng và trả về phòng cũ. Chúng không giải quyết, anh tuyệt thực và tuyệt ẩm, đến ngày thứ 6 anh sắp chết. Trực sinh bên ngoài tiếp tế cho anh thuốc B1 và vitamin C nhưng anh không dùng, cả chuồng cọp tiếp lửa bằng cách hô la, chúng bắt một số anh em ra đánh đập và rải vôi, bột DDT như thường lệ. Sang ngày thứ 7, chúng khiêng anh Cảnh trả về xà lim cũ cùng với anh em – kết thúc cuộc tuyệt thực thắng lợi như mong đợi.

Phần lớn anh em bị đày đọa trong chuồng cọp đã trải qua nhiều cái Tết, nhưng chỉ Tết Đinh Mùi tại Trại 4 mới là hoành tráng và tuyệt vời nhất, về vật chất ăn theo chế độ 1 dollard trên 1 ngày cho một người tù, mỗi bữa ăn cứ 3 người một con vịt và nhiều thịt rau khác. Về tinh thần được tự do hát ca văn nghệ và diễn kịch, các phòng qua lại chúc mừng nhau như ở ngoài đời. Thoải mái được một thời gian, đến tháng 10-1967, địch đàn áp đưa trở lại chuồng cọp như đã nói ở phần trên, sức khỏe và các vết thương chưa hoàn toàn bình phục phải chuẩn bị vào trận đánh mới: Tết Mậu Thân với niềm tin sâu sắc, ngày thắng lợi không còn xa.

Trong khi địch ra sức củng cố an ninh, gia cố các cửa phòng bằng những cây sắt dài, khóa dính 3 cửa phòng thành một cụm, dồn anh em một số phòng chúng cho là lãnh đạo vào nhau lên đến 12 người một xà lim, di chuyển cô lập một số anh em qua chuồng cọp 2. Những anh em trong cuộc hô la phản đối dữ dội, chúng đánh đập anh em dã man hết chỗ nói. Rất bất ngờ chúng tôi nghe được âm thanh hô la hưởng ứng của phụ nữ từ phía Trại 4, nơi chúng tôi vừa rời khỏi từ hơn 3 tháng trước, thì ra chúng đã chuyển một số nữ tù từ các trại Thủ Đức, Tân Hiệp, Chí Hòa về đây, lực lượng nữ tù nầy cũng chống tất tần tật từ đất liền ra Côn Đảo. Chúng tôi có thêm lực lượng nầy thì khí thế lên cao hơn và không đơn độc như trước nữa, trên tinh thần phấn khởi ấy, anh em hô la mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, tiếng la lan rộng các trại khác. Những anh em đang làm khổ sai lãn công, ngừng việc, tất cả tạo thành làn sóng liên hoàn không hẹn trước mà nhịp nhàng như một bản giao hưởng lên đến cao trào.

Lại thêm một lần đàn áp với các thứ vũ khí như thường lệ: Vôi bột, thuốc DDT, nước bẩn đường mương, chày vồ, ma trắc và các thế võ hiểm độc, cũng với các chiêu: Lôi một số anh em chúng từng ngán sợ sức chịu đựng và sự phản ứng của họ như Phan Công Phú, Trương Trọng Cảnh, Trần Ngọc Tự, Nguyễn Khả… Đặc biệt chúng hết sức chú trọng các anh là người Quảng Nam, chúng luôn dành cho họ những ngón đòn hiểm hóc đến khi các anh xuội lơ mới dừng lại.

Chiều 30 Tết Mậu Thân, chúng tôi đòi gặp trung sĩ Một, Trưởng trại đưa các yêu sách: Đòi mở còng tay, mở còng chân, trả những người vừa bị chuyển qua chuồng cọp II về chuồng cọp 1, tăng khẩu phần ăn trong 3 ngày Tết. Thái độ của tên trưởng trại nhã nhặn khác thường, tên Thung trưởng ban an ninh cũng bớt thói hung hăng như thường nhật, bọn chúng đồng ý giải quyết các yêu sách của chúng ta, anh em có được 3 ngày xuân thoải mái một chút.

Ngay trong đêm giao thừa, anh em thay nhau hát những bài ca Cách mạng vang dội cả chuồng cọp, văng vẳng bên kia tường, tiếng hát của các chị rộn ràng ngân cao như muốn vỡ tung Trại 4. Chúng tôi càng phấn khởi quên đau, quên mệt nhọc, hát như tiếp nối không khí hào hùng của chị Sáu năm xưa, hát đến khi khan cả cổ mới thôi.

Chưa hết mùng 3 Tết Mậu Thân, bọn chúng còng anh em trở lại, chúng ta phản đối, chúng đàn áp. Mặc cho bọn chỉ huy hò hét, lũ trật tự ác ôn thường ngày là những hung thần, nay lại rụt rè do dự, tay cầm roi quất vào những tấm thân gầy guộc khô héo đã từ lâu mà chúng lại run run:

Nghe tay roi vọt run run quất
Mà mắt thất thần giấu hãi kinh.

Sau trận đàn áp, một vài tên đưa tin cho anh em biết cuộc Tổng công kích của ta ở bên ngoài như một cách chuộc lỗi lầm:

Súng Tổng tiến công nổ thật giòn
Theo dòng mật báo đến nhà giam
Phá xiềng Xuân thức cùng sông núi
chuồng cọp trung thành với nước non.

Chiến khu Đ, 21-8-2017

Quảng Huệ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 468

Ý Kiến bạn đọc