Ngoài nước

Kỷ Niệm 42 Năm Ngày Giải Phóng Miền Nam Thống Nhất Đất Nước (30/4/1975 – 30/4/2017) – Tác phẩm điện ảnh làm thay đổi quan điểm của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam

Truyện phim Platoon (Trung đội) bắt đầu như một điều được “đẻ” ra: một người lính với bộ mặt con nít, Chris Taylor (Charlie Sheen – con trai của Martin Sheen, người thủ vai chính trong Ngày tận thế – đóng) bị “đổ” xuống từ bụng chiếc máy bay vận tải quân sự khổng lồ giữa ánh sáng mê muội của Việt Nam. Có 4 cuộc hành quân “thanh trừng và tìm diệt” – nguy hiểm chết người chờ đợi nó; hay “4 cuộc khám phá của những kẻ đi tìm kho báu” – như giới sĩ quan hiếu thắng thường rêu rao một cách lừa mị. Trong phiên tuần đầu tiên, Chris bị tê liệt vì sợ hãi, nhất là khi nhìn thấy một người Mỹ trẻ tuổi chết như thế nào; lần thứ hai, cả trung đội đi càn vào một ngôi làng (có thể là Mỹ Lai – nơi đã xảy ra sự hủy diệt mà lịch sử lên án). Trước lúc màn đêm buông xuống, sau khi tin rằng không một người dân làng nào chạy thoát, trung sĩ Barnes (Tom Berenger đóng) đã ra lệnh… đốt cả làng. Trường hợp thứ ba trong khi đang đánh nhau, Barnes đã giết trung sĩ Elies (Willem Dafoe đóng) – kẻ đã cản trở nó trước tội lỗi muốn giết người hàng loạt; ở lần cuối cùng, Chris đã biến thành “con người – cỗ máy”, thành tên giết người. Nó không chịu nổi mọi sinh vật sống – kể cả bản thân. Cuối cùng thì giết viên chỉ huy Barnes (để trả thù cho Elies chăng?!)…

Dao-dien-O
Đạo diễn O.Stone trong một lần tái ngộ chiến trường xưa.

Đấy lại một cơn ác mộng cũ của người Mỹ nói chung, không chỉ đạo diễn kiêm cựu binh Oliver Stone, không chỉ những kẻ đã tham chiến – trong 2,7 triệu lượt lính Mỹ – có thể chạy trốn thực tại được. Đấy là chính người Mỹ trong cuộc chiến đã qua, cách đây 4 thập niên đã đưa đất nước đến sự phân rã mất lòng tin. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ lần đầu tiên bất thình lình trở thành một dân tộc – chia làm hai: giữa tả và hữu, giữa đen và trắng, giữa những người cha và những người mẹ, giữa các bậc phụ huynh và những đứa con… Cuộc tranh chấp xé nước Mỹ ra từng mảnh. Dân Mỹ trở thành từng nhóm chống lại nhau, và tất cả đều thua thiệt. Tác phẩm điện ảnh Trung đội đã biểu lộ bối cảnh trên đến tận cùng, đưa sự mất lòng tin của người Mỹ đi xa hàng vạn dặm – trong những khu rừng rậm nhiệt đới. Tại đấy, những quân nhân Mỹ – được phái tới nhằm tiến hành cuộc chiến tranh bẩn thỉu – không thể đánh lại được với địch thủ, mà trở thành những kẻ giết hại lẫn nhau. Theo phim của O.Stone, thì lính Mỹ ở Việt Nam cũng tạo ra một thực tế “chúa tể” giống như ở nhà: với chủng tộc, với giai cấp và tôn giáo kình địch. Họ không có khả năng nhận thấy đâu là “mục đích cao thượng” và tìm ra con đường dễ thắng trong rừng rậm – đầy những cạm bẫy chết người. Họ, hay ít ra một vài người trong số họ, đã quay súng lại đồng đội của mình. Trong phim những người Việt Nam chỉ là những hình bóng vô định, xuất hiện “làm nền” cho tấn thảm kịch chém giết lẫn nhau giữa những người Mỹ. Stone làm đề tài này theo một kịch bản lịch sử truyền thống: giữa một người tốt (Elies), một kẻ xấu (Barnes) và một người bình thường (chàng Chris trẻ tuổi – thơ mộng mà Oliver mô tả lại về mình) – đứng giữa hai trường phái bởi các ý tưởng cùng nhận thức về cuộc sống. Phục kích sau phục kích, bắn nhau lại bắn nhau… các cảnh phim đã dựng lại cũng một câu hỏi đáng thương về lợi ích của những người lính Mỹ: “Phải chăng tôi là kẻ đã giết anh em tôi?”. Câu trả lời thật là đau đớn: “Đúng!”.

Một cuốn phim nặng nề về một cuộc chiến tranh du kích, được quay với kinh phí giản dị, không có sự tham dự của một ngôi sao màn bạc nào. Bộ phim, mà hầu hết các hãng phim Mỹ đều từ chối sự tài trợ, làm sao có thể đi tới “cuối đường hầm” bằng thành công đoạt giải Con gấu Bạc của Liên hoan phim Berlin – 1987 và tham gia tranh giải thưởng lớn Oscar? Câu trả lời cũng vẫn vậy: “Đúng!”. Chỉ vừa mới trình chiếu dạo giữa tháng 12-1986, phim đã được công chúng ngưỡng mộ ngay. Ta thử xem một người Mỹ đã từng ở Việt Nam nghĩ gì khi xem phim. David Halberstam, cựu phóng viên chiến trường của tờ The New York Times nói: “Trung đội là một phim tả thực đầu tiên về cuộc chiến Việt Nam, cũng là một trong những phim lớn nhất về đề tài chiến tranh được quay từ trước đến nay. Những phim khác của Hollywood về Việt Nam chỉ là sự lấp liếm lịch sử. Ngoài những điều rất đúng về lịch sử và chính trị, Trung đội còn chỉ rõ một điều mà những nhà hoạch định chiến lược cho cuộc chiến này không bao giờ hiểu nổi, rằng rừng rậm đã làm khác đi những gì vốn được mệnh danh là “sự ưu việt của nền kỹ thuật Mỹ”. Tôi tin rằng, sau rốt mọi người sẽ nghĩ về cuộc chiến Việt Nam đúng với những điều mà Trung đội đã trình bày! Nhưng không chỉ Sylvester Stallone với nhân vật “người hùng cơ bắp” Rambo, cũng như Oliver Stone qua “cỗ máy bắn giết” Chris có thể tấp tểnh, rằng chỉ họ mới có “thiên phú” kể lại cuộc chiến Việt Nam trên màn ảnh. Một cuộc chiến với 2,7 triệu lượt binh sĩ tham dự, dĩ nhiên mỗi cựu binh có cái nhìn riêng về chiến tranh và cũng sẽ có cái nhìn riêng về Trung đội. Rất nhiều người hổ thẹn bởi cái ý nghĩ cho là người Mỹ đã chống lại người Mỹ; nhiều người khác lại nhận thức rằng lính Mỹ là những tên nghiện xì ke, còn các sĩ quan là bọn khủng hoảng tinh thần và hết sức đểu cáng…”. Còn đây là ý kiến của John Willer, cựu chiến binh 72 tuổi, đương kim chủ tịch Trung tâm học hỏi các cựu binh từ Việt Nam về, một tổ chức mang dáng dấp hội đoàn toàn quốc: “Tất nhiên, rằng đã có những người lính “chơi” ma túy, tất nhiên là đã có những sĩ quan bất tài vô tích sự… Mục đích của Stone nhằm loại bỏ phần đã nhiễm trùng của vết thương, Trung đội xứng đáng nói lời nói của giới cựu chiến binh. Trước khi phim xuất hiện, chúng tôi chỉ là những bằng chứng sống khiến nhiều kẻ vốn hoảng loạn muốn tránh thật xa. Trung đội đã làm chúng tôi có dịp trở lại “bằng xương bằng thịt” như mọi người Mỹ bình thường”.

Ý kiến của các giới khác nhau hiển nhiên là đối chọi nhau. Những kẻ mê Rambo thích phim vì độ rung của súng tự động và cảnh bạo lực thể hiện trên màn ảnh rộng. Phái tả cũ cho phim chỉ là cuộc tường trình về nỗi sợ hãi cố hữu từ một cuộc chiến vô nghĩa. Phái hữu thủ cựu thấy trong phim hình ảnh của người lính chiến đấu vì nước Mỹ trên tất cả các mặt trận của thế giới tự do (!). Giới trí thức thì vỗ tay hoan hô Trung đội, bởi qua ngôn ngữ điện ảnh mạnh mẽ đã lột tả những chủ đề lớn về tình bằng hữu và sự phản bội. Còn bọn choai choai – mà bất cứ phim nào cũng xem (thậm chí nhớ về Việt Nam như là một tác phẩm trên truyền hình), có thể hiểu được cha anh chúng đã tới tận đâu trong hơn 4 thập niên trước và tại sao lại trở về nhà tàn tạ tới mức “không thể nhận ra được”; đôi khi còn trở về trong những cái túi nhựa chuyên dụng đựng xác phi nội tạng nữa.

Ở Hollywood, và không chỉ riêng ở đó, nhiều giới từ chối nhìn nhận Việt Nam như là một cuộc chiến tranh khác; còn những khuôn mẫu cũ thì không thể chấp nhận một cuộc chiến du kích “phi quy ước”. Công chúng khán giả muốn thấy một cái nhìn dạng mới và Trung đội đã thỏa mãn được điều này. Mặc dù là một sáng tạo mang tính đoạn tuyệt với kiểu cũ, phim của O.Stone vẫn đủ thủ pháp theo truyền thống, để không mất đi mối tương quan đại chúng với khán giả yêu điện ảnh. Một số kẻ lại cho phim thuộc loại đề tài sặc mùi phân biệt chủng tộc, khi mà những người lính da đen giống như thuộc “kế hoạch B”, còn những lính da trắng luôn sống “có tình cảm” (!). Những người Việt Nam là những kẻ thù vô hình, không nằm trong hệ thống cấu trúc Trung đội giống như nhiều phim khác. Sự giết hại hàng triệu người Việt Nam ngay trên quê hương họ chỉ có ý nghĩa “hạng hai” so với sự đánh mất phẩm giá đối với nước Mỹ, sự mất niềm tin của cả thế giới – ngay cả với một vài nước đồng minh. Nỗi đau thương của người Việt Nam được nhìn nhận theo cách: “đòn giáng xuống” không phải rơi vào điều – mà họ bị tàn sát, mà là người Mỹ đã tụt xuống một nấc thang giá trị rất thấp – song song với sự giết hại họ.

Tất nhiên Trung đội không có thể nói hết được tất cả mọi điều, mà những phim khác có khả năng về Việt Nam đã nói trong thời gian qua. Nhưng chỉ nội điều này cũng đã đủ: rằng Oliver Stone đã đưa ra được một “nét run rẩy” của tấn hài kịch thực tế, một điều – không chỉ là tác phẩm điện ảnh, mà cả bối cảnh – hiện tượng chung. Với Stone cần phải mất nhiều năm thích hợp sau khi từ mặt trận trở về, mới viết xong kịch bản vào năm 1976, cũng như mất thêm 10 năm nữa mới dựng được thành phim. Sau chiến tranh anh tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật điện ảnh, “Trong đầu tôi luôn có Việt Nam, ngay cả khi đang viết kịch bản cho các phim Con tàu tốc hành lúc nửa đêm, Năm Rồng, hay El Salvador… Kịch bản Trung đội hồi năm 1976 hầu hết giống như phim đã dựng – nhà đạo diễn gạo cội thổ lộ – Chỉ có điều trong suốt 10 năm không có xưởng phim nào muốn bảo trợ nó. Họ nói rằng bởi nó nặng nề quá, dữ dằn quá…”.

Bây giờ, khi mà Trung đội đã có tiếng, khi mà các đạo diễn huyền thoại như Steven Spielberg, Brian De Palma, hoặc Woody Allen đều khen ngợi O.Stone, Hollywood lại muốn bằng cách nào đấy để Trung đội chuyển thành sản phẩm của mình, nhằm mang lại thêm danh tiếng cho “kinh đô điện ảnh”. Nhưng O.Stone chắc chỉ cười mỉa với mong muốn “đỡ đầu” như vậy. Thậm chí đầu năm 1986, Hollywood từng một mực cự tuyệt không thể “nuốt” được kịch bản này, dù rằng kinh phí dàn dựng chỉ đáng giá chưa đầy phân nửa ít hơn so với các sản phẩm tương tự. Phim không tìm được nhà tài trợ ở Hollywood, bằng kinh phí của các nhà làm phim Anh – chính những người đã tài trợ cho phim El Salvador, Trung đội đã lên tới tột đỉnh vinh quang với phần thưởng Oscar – 1987, cũng như lọt vào danh sách bình chọn 100 phim hay nhất trong vòng một thế kỷ qua của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS). “Một bộ phim làm choáng nước Mỹ!”, hay “Tác phẩm điện ảnh làm thay đổi quan niệm của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam” như giới chuyên môn am hiểu ở Hollywood từng nhận định.

Trần Quang Long
(Theo Le Monde diplomatique)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc