Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Kỷ Niệm 1 Năm Ngày Mất Nhà Văn Lê Văn Thảo (21-10-2016 – 21-10-2017) – Chỉ có ước vọng đi và viết

1.
Năm 1962, khi đang học Đại học Toán tại Sài Gòn, nhà văn Lê Văn Thảo đã thoát ly vào chiến khu Nam bộ. Sau hai tập ký “Ngoài mặt trận” và “Từ thế cao”, ông chính thức bước vào làng văn bằng tập truyện ngắn “Đêm Tháp Mười” xuất bản năm 1972.

Truyện ngắn “Đêm Tháp Mười” được Lê Văn Thảo viết tháng 8-1969. Giữa mênh mông đồng nước, câu chuyện giữa một cán bộ bị lạc trên đường đi công tác và hai vợ chồng người nông dân bị gù lưng, đã phác họa cả không gian quân và dân vùng hiu quạnh lau lách chống lại sự tàn ác của kẻ thù xâm lược. Người chồng còn nhiệm vụ phải vận chuyển vũ khí bí mật, nên người vợ phải lấy xuồng đưa người cán bộ đến nơi cần đến giữa đêm khuya. Cái cốt lõi là đứa con bé bỏng của hai vợ chồng họ, biết phải nhờ ai trông giữ? Ý chí cách mạng và tấm lòng hào hiệp đã khiến họ nảy sinh sáng kiến, cột chân đứa con vào cây cột để nó chỉ bò chơi quanh quẩn góc nhà. Không thể nói khác hơn, hình ảnh đứa bé ấy và tiếng hát của người nông dân bị gù lưng “à ơi, ba cột chân con vô cây cột, ba cột chân con vào cây cột” làm thức dậy cả một không gian gieo neo ân tình của “Đêm Tháp Mười”.

Nhà văn Lê Văn Thảo nhập cuộc văn chương khá muộn màng, nhưng ông trở thành trường hợp đặc biệt: càng về già thì sự nghiệp sáng tác càng chín muồi! Truyện ngắn “Đêm Tháp Mười” có thể xem như một cột mốc khởi hành của nhà văn Lê Văn Thảo, đó là tác phẩm có cấu trúc khá đơn giản và có chi tiết rất đắc địa. Nhược điểm ấy sau này đã được ông tìm cách hạn chế triệt để, và ưu điểm ấy sau này đã được ông phát huy tích cực. Và bút pháp của Lê Văn Thảo từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đến hết thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, xứng đáng được xưng tụng như một trưởng lão trong lĩnh vực truyện ngắn.

Cũng như rất nhiều nhà văn đi kháng chiến, sau ngày đất nước thống nhất, Lê Văn Thảo có chừng 10 năm loay hoay tìm phương pháp sáng tác mới. Thời thanh bình, không có giới tuyến nữa, cuộc sống đa chiều đa dạng hơn, rối rắm phức tạp hơn. Cuộc chiến chuyển sang từng gia đình, từng con người. Cuộc chiến diễn ra bên trong mỗi con người. Nhà văn phải thay đổi quan niệm cầm bút, như mệnh lệnh của xã hội, cũng là mệnh lệnh của trái tim mình. Thế nhưng, thay đổi cách nào không đơn giản. Chẳng biết nên xác định Lê Văn Thảo may mắn hay không may mắn, vì cùng thế hệ với ông, nếu Nguyễn Minh Châu biến chuyển rất nhanh, thì vài nhà văn khác buông bút hẳn.

Thật ra, khoảng một thập niên sau cột mốc 1975, nhà văn Lê Văn Thảo cũng có vài cuốn sách như “Bên lở bên bồi”, “Cửa sổ màu xanh”, “Buổi chiều và sáng hôm sau”, “Ngôi nhà có hàng rào song sắt”… nhưng không mấy thành công. Chính nhà văn Lê Văn Thảo cũng nhận ra những tác phẩm có mặt cũng được mà không có mặt cũng không ảnh hưởng gì đến dòng chảy văn chương hiện đại, nên sau này ông không nhắc đến trong lý lịch nghề nghiệp bản thân.

Nha-van-Le-Van-Thao

Truyện ngắn “Làng lở” viết tháng 3-1991 đánh dấu sự thay đổi từ sâu thẳm ý thức sáng tạo của Lê Văn Thảo. Trong đó có hình ảnh người lính già trở lại tìm ngôi nhà đã che giấu mình lúc khói lửa nhưng không gặp cảnh cũ tình xưa, mà chỉ thấy dân làng bị đất lở mất hết chốn dung thân phải lục tục kéo nhau về miệt thứ. Họ từ giã xứ ầm ào nước chảy để tới chỗ đồng khô cỏ cháy với tinh thần lạc quan “số trời đã định, không ở được chỗ này thì đi chỗ khác. Đâu cũng đất nước mình, chẳng ai để mình chết đói đâu”.

Cuộc di cư trong “Làng lở” dù hơi đáng tiếc vì gói ghém theo khuôn khổ truyện ngắn hạn hẹp mà không triển khai thành một tiểu thuyết vạm vỡ, nhưng đó cũng chính là cuộc di cư trong văn chương Lê Văn Thảo. Ông tự minh định không tiếp tục lên gân lên cốt để viết mãi về cái kỳ vĩ gánh vác, về cái oanh liệt đau đớn. Ông quay sang viết về những mảnh đời nho nhỏ, viết về những mệnh kiếp long đong. Từ sau truyện ngắn “Làng lở”, tác phẩm Lê Văn Thảo không nhằm thúc giục hành động hay nhằm chỉnh huấn tư duy nữa. Văn chương đối với ông gần gũi hơn mà cũng thăm thẳm hơn, chỉ là những tiếng gọi lương tri âm thầm và bền bỉ.

Đã tìm được con đường riêng cho bản thân, Lê Văn Thảo không màng đến tính thời thượng hay tính xu hướng. Ông huy động mọi cảm quan của mình để thao thiết dõi theo những số phận lặng lẽ. Lần lượt các tác phẩm: “Ông cá hô”, “Một ngày và một đời”, “Con đường xuyên rừng”, “Lên núi thả mây”… chứng minh được bản lĩnh viết của một nhà văn có tầm cỡ ở phương Nam.

Lê Văn Thảo đánh thức lòng tin yêu cuộc sống khi phát hiện những con người lầm lũi và thanh cao. Nhân vật của Lê Văn Thảo hầu hết đều cơ hàn, đều thua thiệt, nhưng họ kiên trì gìn giữ cái thiện. Họ không ngừng đối đầu với cái ác, càng bị đọa đày họ càng đẹp đẽ, càng bị vô vọng họ càng vững chãi, càng bị cay nghiệt họ càng bao dung.

Trong truyện ngắn “Tìm chồng cho má”, đứa con gái thơ dại nhận ra người mẹ chịu tang đức lang quân đoản phúc nên quen bận quần áo màu đen mà trông mỗi ngày mỗi già nua héo hắt, và cô bé quyết tâm kiếm cho người mẹ một chỗ nương tựa…

Trong truyện ngắn “Đứa con trở về”, người cha già bôn ba cả đời chắt chiu băng rừng lội suối lần theo dấu vết đứa con hư hỏng hết làm trộm cướp đến buôn thần bán thánh, mà tận phút giây thoi thóp như ngọn đèn sắp tắt vẫn băn khoăn không biết khi bán được vườn ớt có chút tiền thì mình còn đủ sức đi thăm đứa con đang gá nghĩa với bà góa đầu xóm không…

Trong truyện ngắn “Con mèo”, một người cha cứ day dứt vì không thích nuôi mèo nên đã lén đem ném hai chú mèo con vào bóng đêm, để rồi khi đứa con trai gạn hỏi bất chợt lại thấy ân hận do thái độ ruồng rẫy sinh linh xung quanh mình…

2.
Nhà văn Lê Văn Thảo là một mẫu người Nam bộ điển hình, vừa thuần phác, đôn hậu vừa quyết liệt, sâu sắc. Nhà văn Lê Văn Thảo tự bạch “thấy mình vẫn có máu nhà quê, gốc nông dân từ nhiều kiếp trước, sợ chốn cao sang, giới quan chức quyền quý”. Dù đã có gần 10 năm làm Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh kiêm Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhưng Lê Văn Thảo không màng mấy lưu tâm đến địa vị hoặc danh phận. Cả đời ông chỉ có một ước vọng: Đi và viết!

Lê Văn Thảo đi khắp nơi, không phải để tìm món ngon vật lạ mà tìm hương nồng thế sự. Ông thích đến những nơi hẻo lánh để cảm thông với những con người lấm láp và trong sáng. Còn khi không ngao du các tỉnh, thì ở Sài Gòn ông vẫn có thói quen “tôi hay đến những xóm lao động, ngồi ở những quán cóc, nghiệm ra rằng chính ở đó nghe được những lời hay, biết được những điều thú vị”. Lê Văn Thảo đi để trải nghiệm và trở về bàn viết để trút tâm tư của mình xuống trang giấy.

Đọc tác phẩm Lê Văn Thảo, không thể trích ra một đoạn văn mẫu để tán tụng, để trầm trồ. Nếu nhìn trên lớp vỏ chữ nghĩa, rất dễ nao núng kết luận ông không có văn. Thế nhưng, bình tâm đánh giá lại, thì chất giọng đặc trưng Nam bộ của Lê Văn Thảo vẫn tạo ra một thứ văn chương có sức lôi cuốn. Vậy, văn của Lê Văn Thảo nằm ở đâu? Văn của Lê Văn Thảo không nằm ở ngôn từ, không nằm ở lý lẽ, và cũng không nằm ở triết thuyết. Văn của Lê Văn Thảo lặn vào tình tiết, lặn vào nhân vật, lặn vào câu chuyện để rồi khi hữu duyên gặp sự tương tác từ phía độc giả thì lập tức hiển lộ những giá trị thẩm mỹ có sức lay động và ám ảnh. Cho nên, Lê Văn Thảo chinh phục nhiều thế hệ bạn đọc bằng lối kể tự nhiên và nhẹ nhàng. Hầu như không thấy sự gắng gượng hay dàn dựng nào trong tác phẩm của ông. Ông cứ viết tuần tự và mạch lạc như chìm nổi cuộc đời vốn thế, như buồn vui con người vốn thế.

Không khó để nhận ra tác phẩm Lê Văn Thảo tồn tại hai đặc điểm: Thứ nhất, chấm phẩy không theo cấu trúc ngữ pháp mà theo nhịp điệu văn phong, khi trễ nải, khi dồn dập. Thứ hai, tên truyện khá thật thà, chả mấy khi tương xứng với nội dung, giống như cô gái đẹp phải mặc cái áo thô, những ai dị ứng với trang phục mộc mạc thì mất cơ hội chiêm ngưỡng dung nhan đằm thắm kia!

Đọc văn Lê Văn Thảo, bên cạnh ngôn ngữ gần gũi đời thường, không thể không ngạc nhiên về khả năng khai thác chi tiết. Ngay cả những tiểu thuyết của Lê Văn Thảo như “Một ngày và một đời”, “Con đường xuyên rừng”, “Cơn giông” hoặc “Sóng nước Vàm Nao” đều rất thuyết phục ở chi tiết. Đặc biệt là chi tiết về những con người ngỡ chừng thấp hèn nhưng đầy ấm áp và tin yêu! Những thực tế khách quan tràn vào trang viết của Lê Văn Thảo theo đúng như ông quan niệm: “Điều quan trọng nhất của nhà văn theo tôi là tính chân thực. Một chút phô trương, giả dối, làm dáng trong văn chương là hỏng. Nhà văn có tài là người biết bỏ cái gì, chứ không phải viết cái gì. Nhà văn đâu chỉ nên miêu tả một cách khách quan, lạnh lùng về nhân vật và diễn biến sự việc. Nhà văn phải biết lắng cảm xúc, có sự gạn lọc, không đứng ngoài và đứng trên sự thật”.

3.
Thong thả những lời kể chậm rãi một cách tỉnh táo, Lê Văn Thảo truyền sang cho độc giả những xao xuyến khôn nguôi về lẽ phải, về tình thương, về nhân phẩm. Hầu như đã rong ruổi khắp Đồng bằng sông Cửu Long để khám phá, để trải nghiệm, để gắn bó, để sáng tác. Thế nhưng, có hai vùng đất mà Lê Văn Thảo thông thuộc nhất, và hễ chạm vào thì có thể viết nồng nhiệt nhất là An Giang và Cà Mau.

Với An Giang, khu vực tứ giác Long Xuyên và khu vực Thất Sơn (Bảy Núi) trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của Lê Văn Thảo, mà tiêu biểu phải kể đến “Sóng nước Vàm Nao”. Với Cà Mau, nơi phù sa lấn biển đến đâu thì người dân trú ngụ đến đó, mang theo cả tiếng chó sủa canh vắng lẫn tiếng gà gáy bình minh, Lê Văn Thảo đã miêu tả trong nhiều truyện ngắn và dừng lại rất lâu ở tiểu thuyết “Cơn giông”.

Nhà văn Lê Văn Thảo thổ lộ: “Thế hệ tôi ngay từ khi dấn thân vào con đường cách mạng đã học được bài học đầu tiên – quần chúng lao động nghèo khổ không chỉ là cội nguồn của sức mạnh, của sức chịu đựng, hy sinh, mà còn là gốc rễ của đạo đức”. Vì vậy, trong cả hai tác phẩm đầy đặn nhắc trên đều có những nhân vật lủi thủi bên lề cuộc sống nhưng hào hiệp và trượng nghĩa làm sáng cả trang văn, như ông già vô danh trong “Sóng nước Vàm Nao” hoặc ông già trăm tuổi trong “Cơn giông”!

Khoảng 20 năm cuối đời, văn chương Lê Văn Thảo thực sự thăng hoa. Liên tục nhiều tập truyện ngắn và tiểu thuyết ra đời. Phải chăng, nhà văn Lê Văn Thảo sống đủ rồi mới viết hay, như cách sẻ chia khiêm tốn của ông “bản tính chậm lụt, chuyện trước mắt không mấy khi kịp hiểu ra, thường viết về những kỷ niệm, những hồi ức xưa cũ”? Đấy là cách nói nhún nhường thôi, bởi lẽ những con người hiện đại giữa chen lấn sầm uất cũng được Lê Văn Thảo đem vào truyện ngắn rất lôi cuốn. Sự chậm rãi trải nghiệm và sự lặng lẽ quan sát của Lê Văn Thảo, đã giúp tác phẩm của ông, kể cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn, đều rất đắc địa ở những chi tiết. Với bộn bề đô thị, nhà văn Lê Văn Thảo vẫn có cách nhìn nhận, cách khái quát, cách khám phá những vấn đề thời sự một cách tinh tế. Truyện ngắn “Người viết thư thuê” có thể xem như một ví dụ tin cậy!

Chuyện người làm nghề viết thư thuê hơn nửa thế kỷ ở Bưu điện Sài Gòn tên là Dương Văn Ngộ, hầu như ai cũng biết. Không chỉ báo chí đề cập nhiều lần, mà Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam còn xác lập kỷ lục cho ông Dương Văn Ngộ là “người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam”. Lẽ thường, cái gì đã xuất hiện đầy kín trên truyền thông thì rất khó đi vào văn chương. Bởi vì, chỉ cần tác giả non tay thì tác phẩm văn chương sẽ trở thành một thứ minh họa non nớt và ngớ ngẩn. Và ở chính cái lằn ranh chông chênh ấy, Lê Văn Thảo đã khẳng định được tài năng của một nhà văn chuyên nghiệp!

Truyện ngắn “Người viết thư thuê” được Lê Văn Thảo hoàn thành tháng 5-2009. Lấy nguyên mẫu ông Dương Văn Ngộ, nhân vật của Lê Văn Thảo không có tên, và mở đầu cũng không khác gì những điều đã phản ánh trên báo chí “Bưu điện coi ông như người nhà, xếp cho ông góc riêng cuối dãy ghế khách hàng, họp cuối năm liên hoan lễ tết đều mời dự. Một phần do ơn nghĩa, một phần khác cũng do xét đến công lao của ông. Ông viết một bức thư, bưu điện có thêm con tem gửi đi”.

Những gì ông Dương Văn Ngộ đã kể trên báo chí, đều được nhà văn Lê Văn Thảo đưa vào truyện ngắn “Người viết thư thuê” có tính chắc lọc hơn và có tính hài hước hơn, nhằm phác họa cá tính nhân vật. Như tình huống cười ra nước mắt: “Một đám con trai con gái tuổi choai choai đến nhờ ông viết thư, hết đứa này đến đứa khác, cùng nội dung na ná như nhau. Thư thăm hỏi người thân đi xa, trong rừng trên biển, ngoài hải đảo xa xôi. Thư gửi người nước ngoài bên Pháp, bên Mỹ. Ông biết chuyện gì rồi. Bọn học trò làm biếng, nhờ ông viết thư thay cho bài tập. Ông lấy tiền không thiếu đứa nào, đến ngày hẹn phát mỗi đứa một phong bì dán kín dặn về nhà hẳn mở. Thư viết: “Gửi mấy đứa học trò làm biếng! Bài tập phải tự mình làm, ông không còn sống lâu sau này viết thư cho mấy đứa nữa đâu”.

Nếu liệt kê vui buồn của người viết thư thuê thì truyện ngắn sẽ tương tự một bút ký lan man. Nhà văn Lê Văn Thảo đã cài cắm vào “Người viết thư thuê” một câu chuyện day dứt để chuyển mọi thông tin báo chí sang tín hiệu văn chương. Đó là câu chuyện cô bé bán vé số mang mấy đồng tiền lẻ đến nhờ ông viết một lá thư trình bày nỗi oan ức. Cô bé từng giúp việc cho một gia đình giàu có với nhiệm vụ chăm sóc đứa con cưng của chủ nhà. Ngày thôi nôi, bỗng dưng bị mất sợi dây chuyền vàng được đeo trên cổ thằng nhỏ. Có ai đụng vào thằng nhỏ đâu, chỉ mình cô bé ẵm bồng và tắm rửa cho nó. Cô bé tìm kiếm từ góc sân ngoài vườn cho đến gầm bàn trong nhà, vẫn không thấy sợi dây chuyền vàng. Chủ nhà lắm của, không hề hạch tội, nhưng cô bé áy náy lắm. Cô bé là trẻ mồ côi được trung tâm an sinh xã hội giới thiệu vào đây giúp việc. Cô bé mặc cảm với cái định kiến “người giàu không ăn cắp, người nghèo mới ăn cắp”. Vì vậy, cô bé bỏ đi, chấp nhận ngủ công viên và lang thang cùng đám bụi mưu sinh qua ngày.

Tình cờ một ngày cô bé phát hiện dưới đáy va li của mình có sợi dây chuyền vàng, do thằng nhỏ con chủ nhà cảm thấy vướng víu nên tháo ra khỏi cổ mà vứt bừa đi. Cô bé muốn chủ nhà năm xưa tỏ tường mọi việc và trả lại sợi dây chuyền vàng. Cô bé đề nghị ông viết thư thuê nói rõ ngọn ngành và mang dùm sợi dây chuyền vàng đến tận tay người sở hữu. Bao nhiêu tiền công, cô bé cũng trả, nếu số bạc lẻ trên tay vẫn chưa đủ thì “sẽ dành dụm gửi thêm, hoặc kiếm cách khác”.

Ông viết thư thuê đã thực hiện giao dịch bằng tinh thần nghiêm túc. Kết quả, khi ông đưa lá thư và sợi dây chuyền vàng thì bị chủ nhà lớn tiếng la lối: “Ông phải biết mình viết gì. Nói con nhỏ ngồi nhìn đống vàng chất lên mình đứa bé mà lòng tan nát. Nói nó biết phận mình, người nghèo ăn cắp người giàu không ăn cắp. Nói con nhỏ thề không bước chân trở lại nhà này nữa. Còn thiếu chữ nào làm cho nhà này tan nát không?”. Ông viết thư thuê bẽ bàng rời khỏi cơn giận dữ kia. Ông cố tránh nghỉ việc ở bưu điện cả tuần để tránh mặt họ, và ông cũng không có cách nào gặp lại cô bé tội nghiệp. Bởi lẽ, ít lâu sau ông cay đắng biết số tiền mà cô bé hứa “kiếm cách khác” chính là tham gia một băng cướp nhí và bị bắt. Cái ảnh cô bé cùng 7 đồng phạm in trên báo, đã ám ảnh ông viết thư thuê!

Lê Văn Thảo quan niệm: “Điều quan trọng nhất của nhà văn theo tôi là tính chân thực. Một chút phô trương, giả dối, làm dáng trong văn chương là hỏng. Nhà văn có tài là người biết bỏ cái gì, chứ không phải viết cái gì. Nhà văn đâu chỉ nên miêu tả một cách khách quan, lạnh lùng về nhân vật và diễn biến sự việc. Nhà văn phải biết lắng cảm xúc, có sự gạn lọc, không đứng ngoài và đứng trên sự thật”. Với truyện ngắn “Người viết thư thuê”, sự thật mà Lê Văn Thảo không phải cuộc đời của ông Dương Văn Ngộ, mà là cái định kiến “người giàu không ăn cắp, người nghèo mới ăn cắp”. Cô bé giúp việc từ bản chất lương thiện đã bị xô đẩy vào vũng lầy tăm tối. Dư âm truyện ngắn là câu hỏi ai có lỗi? Khi chúng ta đều thấy không ai có lỗi cả, thì đấy là lời cảnh tỉnh nhất cho nhân phẩm con người đang bị đe dọa bởi những điều thị phi trớ trêu!

Truyện ngắn “Người viết thư thuê” ít nhiều cho thấy nhà văn Lê Văn Thảo không chỉ có thế mạnh với những hồi ức chiến tranh bom đạn hoặc dĩ vãng ngậm ngùi. Nhà văn Lê Văn Thảo luôn thao thức với cuộc sống xung quanh mỗi ngày.

4.
Nhà văn Lê Văn Thảo có một gia thế không tầm thường. Cha của ông là chí sĩ Dương Văn Diêu, còn bác của ông là đại tướng Dương Văn Minh trên chính trường miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Khi nhà văn Lê Văn Thảo đang học đại học năm thứ ba tại Sài Gòn thì người cha lo sợ con trai mình sẽ làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng hòa nên cho gọi ông và em trai (đạo diễn Lê Văn Duy) vào chiến khu. Một quãng đời trai trẻ của Lê Văn Thảo quăng quật và thấu hiểu lớp học sinh đô thị nao núng và bế tắc khi chưa nổ ra phong trào Đồng khởi. Cuốn tiểu thuyết gần đây của ông có tên gọi “Những năm tháng nhọc nhằn” viết về giai đoạn 1958-1959 ấy, được Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ ấn hành nhân dịp ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012. Nhà văn Lê Văn Thảo nói về “Những năm tháng nhọc nhằn” như một niềm tự sự: “Sau kháng chiến chống Pháp, chiến thắng Điện Biên lừng lẫy, không một ngày hòa bình, miền Nam rơi ngay vào những ngày tháng đen tối. Cán bộ, bộ đội, gọi tắt là Việt Minh, phần đi tập kết ra Bắc, phần ở lại hầu hết bị bắt giam. Thế hệ tiếp theo, thế hệ chúng tôi, học sinh trong các trường học, nông dân trong các ruộng lúa, lớn lên từ tuổi thiếu niên qua tuổi thanh niên, tự dưng có một khoảng trống trước mặt, bối rối trong việc lựa chọn con đường đi, cầm súng bên này hoặc bên kia. Không có con đường thứ ba…”.

Trực tiếp tham gia cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, nhà văn Lê Văn Thảo có những quan sát riêng và trải nghiệm riêng, mà sau này ông đưa vào truyện ngắn “Người Sài Gòn” chất chứa nhiều tâm tư. Truyện ngắn “Người Sài Gòn” xây dựng hình ảnh một người phụ nữ thành phố trên ba thời điểm: trận Mậu Thân 1968, 10 năm sau giải phóng và 10 năm sau nữa. Một cô gái bình thản nấu nướng và ung dung trò chuyện trong những ngày ầm ào binh lửa, là một vẻ đẹp khó hiểu. Cũng con người ấy, khi hòa bình bị bủa vây bởi những thêu dệt. Và cũng con người ấy, sau một quãng thời gian lại xuất hiện với sự tàn úa và phôi pha. Người phụ nữ thành phố vượt qua khắc nghiệt thời gian chỉ để theo đuổi một mối tình. Có thể là khờ dại, có thể là bẽ bàng, nhưng tâm tính bất biến cũng chính là sự kiên trì của cái thiện, như lời khẩn cầu của người đàn ông từng tương tư người đàn bà kia với tác giả “thôi thì chuyện đời hay dở ông cứ viết, may ra đứa con gái nuôi đọc được trở về với mẹ nó. Còn như cô ấy, hay ông với tôi, chúng ta hay dở gì cũng đã qua một thời rồi”.

Lê Thiếu Nhơn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 472

Ý Kiến bạn đọc