Truyện ngắn

Kỳ hận Cầu Hoà

Tiếng máy nổ giòn của chiếc đò dọc mang tên Hải Lợi chở đầy bọn lính Lang sa rời vàm Hàn, ngược dòng nước ròng sông Bến Tre, chạy về tỉnh lỵ Bến Tre để báo cáo và ăn mừng chiến tích sau một ngày càn quét và thảm sát theo chính sách “tam quang” – giết sạch, đốt sạch, phá sạch – mà chúng thực hiện từ sáng sớm tinh mơ cho tận xế chiều đối với người dân xóm Cầu Hòa thuộc làng Mỹ Lung! Bọn không còn tính người thẳng tay xả súng, đâm lê, tưới xăng đốt nhà… Cái xóm có trên 50 nóc gia và hơn 200 con người, giờ đây chỉ còn là đống tro tàn và xác người chồng chất!

Gió chướng thổi mạnh làm bùng lên trong đống tro, của những ngôi nhà làm toàn tre gai chưa kịp cháy hết gây ra tiếng nổ lốp bốp. Bụi tro, khói cuộn theo gió bay lên không trung làm cho xóm Cầu Hòa như chìm trong màn sương muối.

Nắng chiều tắt dần, xóm Cầu Hòa lác đác có bóng người. Những thanh niên, trai tráng – người thân của những người xấu số – chạy trốn bọn Lang sa vào ban sáng lần lượt quay về. Họ đứng chết lặng bên ngôi nhà thân yêu đã thành tro bụi, họ đổ sụp bên xác người thân uất hận trong tiếng khóc. Những cái xác ngổn ngang do bị đạn xiên, lê đâm, lửa thiêu đen xì… Họ không nhận dạng được ai là cha, bác, chú; ai là mẹ, chị, em! Tất cả đều tơi bời, biến dạng!!!

Hai Của – Ủy viên Quân sự làng Mỹ Lung – cũng đứng chết lặng, dưới chân anh là Ký Liên – thư ký riêng của Hai Của – đang sụp lạy và xin tha tội chết. Hai Của rút từ thắt lưng ra khẩu ru-lô nòng dài, bẻ chày giã về phía sau, định một phát kết liễu cuộc đời tên dại gái. Nhưng kịp nghĩ lại: “Thêm một mạng người cũng không giải quyết được gì, mà cũng chưa đủ chứng cứ buộc tội Ký Liên”; trả chày giã khẩu súng về chốt an toàn, giọng khàn đục rít qua kẽ răng Hai Của ra lịnh:

- Phụ lo chôn cất người xấu số, mọi chuyện sẽ định đoạt sau.

Trăng thượng tầng tháng Chạp đã nhô lên khỏi những đọt dừa lão còn sót lại, có lẽ bọn Lang sa cho rằng những cây dừa nầy không còn nhựa sống để ra hoa kết trái hầu nuôi sống Việt Minh và bọn người dám chống đối lại Mẫu quốc đại Pháp nên không tàn phá hết. Ánh sáng của những ngọn đèn cầy trắng, những nén nhang lập loè theo làn gió chướng trước những ngôi mộ chôn tập thể, vì không đủ hàng, rương, đệm, chiếu… để khâm liệm và cũng không đủ đất để chôn riêng mỗi người một núm mộ. Mùi tử khí bắt đầu xông lên nồng nặc, đó là những mảng thịt người văng tứ tung – dù người thân của những người xấu số đã cố công tìm nhưng không thể nào thu gom hết, kế đến là xác súc vật, dù từ chiều – khi xóm Cầu Hòa không có bóng người – cho đến sẩm tối, cai tổng Cương đã cho lính và bọn tráng đinh vào xẻ thịt trâu, bò, heo, còn chó thì để nguyên con, quẳng lên hàng chục chiếc xe bò và hơn chục xe ngựa luân chuyển hơn chục bận đem về cho các tay “đồ tể” ở chợ Hàng Sao làm sạch, đem phân phát khắp hết gia đình Hương chức, Hội tề, lính tráng và những ai ủng hộ chúng. Do quá nhiều, chúng gom không xuể nên còn lại khá nhiều. Lũ chó từ các xóm lân cận đánh hơi tử khí; từng bầy, từng bầy kéo đến, thi nhau giành giựt. Một cuộc chiến lại xảy ra! Nhưng lần nầy là cuộc chiến của bầy chó có tương quan lực lượng thắng thua tùy theo sức mạnh cơ bắp, bầy đàn. Khác hoàn toàn ở “cuộc chiến” ban sáng mà kẻ gây chiến cũng là bọn Lang sa, chiến thắng cũng Lang sa, không có đối trọng, vì đối trọng của chúng toàn là ông, bà già, phụ nữ và trẻ nít trong tay không một tấc sắt!

Bầy chó đã chia xong lãnh địa và gậm được phần xương, thịt mà chúng cho là ngon nhất, nhanh chân lẩn vào các lùm bụi rậm để tận hưởng, trả lại sự im ắng đáng sợ, chỉ còn văng vẳng tiếng khóc! Ở góc bên nầy một trung niên mặt mày, quần áo còn lấm lem bùn đất, quỳ trước núm mộ mà dưới “ba tấc đất” ấy là cha mẹ, vợ con và các em, cả thảy gần chục mạng người. Giọng khàn đục rít qua kẽ răng:

- Cha mẹ ơi! Em ơi, các con ơi! Các em ơi! Mọi người đã chết oan ức, thù nầy không trả quyết không làm người!

Chếch góc đối diện phía bên kia đường, một thiếu phụ mặt đờ đẫn như người mất hồn, chị ngồi bệt bên núm mồ con con mà bên dưới có đến 3 sinh nhi, một sinh nhi chết lòi từ cửa mình mẹ ra bị lửa cháy xém, chị biết chắc chắn không phải là con mình. Còn hai đứa đồng chạng Tết nầy lên 3 tuổi thì chị không nhận đâu là con mình, bởi 2 đứa bị lửa thiêu như cục than đước! Bỗng chị đứng phắt dậy, chỉ tay lên trời muốn thét lên thật to, nhưng không tài nào thét được, có lẽ từ chiều đến giờ chị gào khóc quá nhiều nên tiếng của chị đã bị khàn đi:

- Trời ơi! Cái lũ ác ôn. Thứ quân Tây mũi lỏ chúng bây. Mấy đứa con nít mà bây cũng không tha, dù tao có chết thành ma tao cũng quyết tìm tụi bây báo thù – Rồi chị ngã sụp xuống lịm đi…

Cho An Thanh bi Tay dot - Nguyen Hiem
Chợ An Thành bị Tây đốt Thuốc nước. HS NGUYỄN HIÊM


Hai Của về đến “cứ” thì trăng thượng tuần sắp khuất sau đám lá dừa nước cặp hai bên rạch Bà Tốt. Nói là “cứ” cho oai, chứ thật sự nó như một trạm giao liên. Anh em du kích chắc còn làm nhiệm vụ canh gác các điểm xung yếu ngoài vàm Hàn, sáng bảnh mắt bàn giao cho bên cánh an ninh mới được về. Ngả lưng trên chiếc giường dã chiến định nghỉ một lát lấy lại sức, thì đột ngột liên lạc Thi từ ngoài chạy ào vào làm Hai Của giựt bắn người. Giọng hổn hển, liên lạc Thi thông báo:

- Anh Hai, bên Nhơn Thạnh kêu anh cho rút toàn bộ về bển, ông Ký Liên ra đầu hàng giặc rồi.
Hai Của suy nghĩ khá lâu rồi ra phán quyết:

- Thôi, đợi trời sáng hẳn, em qua bên cánh an ninh thông báo và cùng anh em du kích về đây thu dọn rồi về bên bển. Bọn Tây chắc chưa dám càn vô cứ sớm đâu.

Hai Của cùng tất cả tùy tùng, sau khi thu dọn toàn bộ đồ đạc, giựt sập luôn căn nhà dùng làm “cứ”, đi ra đến ngã tư Cầu Hòa – Phong Nẫm thì trời cũng gần giữa trưa. Một cảnh tượng rợn người lại diễn ra: Từng bầy quạ đen lớp đang bay lên đáp xuống, lớp đang đậu kín trên cây dầu, cây sao xung quanh ngôi Phước Long Cổ Tự. Cũng như bầy chó đêm hôm qua, bầy quạ cũng đánh hơi được mùi tử khí. Một cuộc chiến tranh giành phần thịt người, thịt súc vật mà lũ chó ăn còn thừa mứa, nhưng cuộc chiến của bầy quạ thường diễn ra trên không mà phần thắng cũng thuộc về kẻ mạnh. Cả nhóm Hai Của bỗng giựt thót người khi nghe một tràng tiếng nổ dài phát ra từ sau bụi rậm của miếng đất giồng, tiếng nổ làm lũ quạ hoảng hốt kêu quang quác, từng bầy bay lên rồi quần vũ, xoay cù trên không nơi vừa phát ra tiếng nổ, tạo nên một mảng đen kịt kín một góc trời. Từ nơi phát ra tiếng nổ, một màn khói trắng mang đậm mùi lưu huỳnh, một thiếu niên mặc áo trắng ngắn tay, quần tây xanh bước ra tiến thẳng và quỳ sụp trước mặt Hai Của, nói trong tiếng nấc:

- Chú Hai! Chú… cho… cháu… theo chú…! – Đứng phắt lên giọng người thiếu niên đanh lại, dằn từng tiếng một – Để giết bọn Tây xâm lược trả thù cho gia đình cháu.

- Ai làm phát ra tiếng nổ ban nãy? – Hai Của hỏi vặn.

- Dạ là con – người thiếu niên thú nhận và phân trần – Con đi học bên Mỹ Tho, dành dụm ít tiền mua mấy phong pháo, định Tết nầy về nhà đốt pháo rước ông bà và đón Giao thừa. Giờ còn đâu mà Tết với nhứt, nên con đốt trước mộ cho ấm lòng người đã khuất – Nói xong người thiếu niên lại òa khóc.

Hai Của bước đến xoa đầu người thiếu niên, giọng trầm buồn:

- Theo chú là theo kháng chiến, hiểm nguy và gian khổ lắm! À, mà cháu là con của ai vậy?

- Con là thứ út của Ba Vàng! Chú cứ cho con theo, chứ bây giờ con còn biết sống với ai?!

- Thôi đừng khóc nữa – Hai Của nâng gương mặt bầu bĩnh còn đầy lông tơ và lốm đốm mụn của tuổi dậy thì – Đi theo chú thì theo. Trước mắt làm thư ký riêng cho chú, khi có điều kiện chú nói với lãnh đạo cho cháu về trên học tiếp.

Cả nhóm Hai Của giờ được nâng lên con số “9”. Theo đường vạch sẵn là phải len trong vườn dừa từ ấp Nhứt Hai của làng Phong Nẫm để qua Phong Mỹ, bắt liên lạc với cánh bên Đồng Gò, nhờ đưa sang Nhơn Thạnh. Trời “đỏ đèn”, cứ Nhơn Thạnh có thêm 9 khẩu phần ăn và “quân số” – tính tròn là một “đại đội thiếu”. Hai Của mắc võng trước hiên nhà, cố đi vào giấc ngủ như cố quên đi cảnh ghê rợn ở Cầu Hòa, nhưng càng cố quên từng sự việc lại hiện ra trong đầu mồn một. Hai Của tự trách mình sao quá tin thuộc cấp, khi không giải cô Sáu mũi đỏ lên cấp trên điều tra đến cùng về cái tội làm điệp báo. Bật dậy Hai Của thò tay vào túi áo bà ba lấy ra bịch thuốc giồng Mỏ Cày xé giấy hút thuốc dài gần gang tay, vấn thuốc theo chiều dọc giấy, điếu thuốc to bằng ngón áp út bật lửa đốt hít một hơi dài, nằm xuống võng thả khói chữ o mù mịt, nhìn theo vòng chữ o cuối cùng như hiện ra cái mặt “cô Sáu mũi đỏ” – người tình của Ký Liên – như kiểm điểm chính bản thân mình.

Chuyện xảy ra gần tháng trước, xóm Cầu Hòa xuất hiện một cô Tây lai có cái chót mũi đỏ tươi, thường xưng là Sáu nên dân Cầu Hòa đặt cho cái biệt danh “Sáu mũi đỏ” để phân biệt những người trùng tên Sáu trong xóm. Sáu mũi đỏ làm nghề buôn bán dạo, qua lại Cầu Hòa theo con đò dọc chạy tuyến tỉnh lỵ Bến Tre – Mỹ Tho, cô ta bán đủ thứ từ gạo, nếp, đường, đậu cho đến vải vóc… Tùy theo “đơn đặt hàng” của dân xóm Cầu Hòa. Ai có tiền mua bằng tiền mặt, không đủ tiền Sáu mũi đỏ cho thiếu chịu, đặc biệt là vải vóc năm nay mua, năm sau trả cũng được, dù giá cả có cao hơn ngoài chợ, nhưng cái sự cho thiếu cả năm nên dân Cầu Hòa dễ chấp nhận. Sáu mũi đỏ cứ đúng lịch trình buôn bán một tuần đến Cầu Hòa hai lần bán hàng tạp hóa và nhu yếu phẩm, tuần cuối tháng bán vải vóc.

Ký Liên là trung niên nổi tiếng là ăn nói có duyên, chỉ vài lần buôn bán, Sáu mũi đỏ và Ký Liên quen biết nhau, tiếng sét ái tình cũng sớm đến với họ như cơn lốc. Như một thông lệ, Sáu mũi đỏ chỉ buôn bán ở Cầu Hòa từ 8 hoặc 9 giờ sáng, tùy theo con nước của giờ đò chạy và kết thúc vào xế chiều; bao nguyên cỗ xe ngựa chở toàn bộ đồ đạc về chợ tỉnh lỵ bỏ mối cho các tiệm buôn tạp hóa và vải sợi, xong xuống đò ngủ qua đêm và cũng chiếc đò ấy sẽ đưa Sáu mũi đỏ có mặt tại chợ Mỹ Tho vào rạng sáng hôm sau. Chuyện “bất thường” xảy ra cũng cách thời điểm vụ thảm sát Cầu Hòa hơn nửa tháng, Sáu mũi đỏ lưu lại qua đêm tại nhà người thân của Ký Liên gần tuần lễ và đêm nào cũng có Ký Liên đi tuần cùng du kích ghé nghỉ lưng (?!). Hay tin Hai Của cho lực lượng bắt Sáu mũi đỏ về tra xét. Gần một ngày bị giam lỏng và lấy cung, Hai Của không tìm ra manh mối hoặc chứng cứ nào buộc tội Sáu mũi đỏ làm điệp báo. Cho người cùng phái khám xét người Sáu mũi đỏ, thì ngoài tiền bạc ra chỉ có cuốn tập học trò ghi đầy tên con nợ kèm theo chi chít những đường ngang ngõ tắt khắp xóm Cầu Hòa. Bị vặn hỏi vấn đề nầy Sáu mũi đỏ trả lời nghe cũng xuôi tai: “Tui bán thiếu hàng tá người không ghi và vẽ đường vào nhà làm sao nhớ xuể mà vô đòi tiền”. Không có chứng cứ lại được Ký Liên hết lòng bênh vực và đứng ra cam kết bảo lãnh cho Sáu mũi đỏ, Hai Của đành phải thả Sáu mũi đỏ, chỉ tịch thu cuốn tập ghi nợ đem thiêu hủy và chỉ cho Sáu mũi đỏ trở lại Cầu Hòa thu hồi nợ chứ không cho buôn bán gì nữa.

Một chuyện mà Hai Của tức anh ách bên lòng là đã khuyên anh em bên an ninh đừng nên “Đụng chạm quá trớn vào quyền lợi các tên tư sản thương mại”, nhưng rồi chuyện cũng xảy ra. Đúng vào dịp Sáu mũi đỏ lưu đêm lại Cầu Hòa, thì anh em an ninh đã chận bắt hai tàu hàng của nhà buôn Hải Lợi, đòi tiền đóng thuế cao hơn toàn bộ hàng hóa. Nhà buôn Hải Lợi đành “bỏ của chạy lấy người”, tiếp sau còn bắt hai tàu dầu của nhà buôn Nam Phát. Toàn bộ hàng tịch thu được đem phân phối nội bộ và bán rẻ cho dân Cầu Hòa chuẩn bị ăn Tết.

Việc bọn Lang sa thảm sát dân Cầu Hòa nằm trong chính sách “tam quang” của chúng, nhưng chưa tìm ra nguyên nhân để tiến hành, nên chúng dùng việc này làm nguyên cớ (!?). Cũng như năm 1858, thực dân Pháp lấy cớ là “bảo vệ các giáo sĩ truyền giáo và các con chiên của Chúa” mà xua quân xâm lược Việt Nam!


Thù “ngoại” chưa nguôi, thù “nội” nối bùng huyết hận. Tên phản bội Ký Liên muốn bọn Lang sa và bọn “mãi quốc” nhìn thấu tâm cang là: “Một mực trung thành theo Mẫu quốc”. Hắn tiết lộ và đưa cả danh sách những gia đình có con em theo kháng chiến cho cai tổng Cương để lập công đầu khi về với “chính nghĩa Quốc gia”. Cai tổng Cương như “diều gặp gió” khi trong danh sách đó có tên Hương cả Thinh có hai đứa con đang theo kháng chiến. Sẵn có mối “tư thù” từ thuở còn đi học cho đến tuổi trưởng thành, cai tổng Cương không bao giờ “qua mặt” được cả Thinh. Cai tổng Cương còn nhớ như in lúc cả Thinh giữ chức Hương Sư, còn hắn mới leo lên chức Hương Chánh – dưới cả Thinh một bực – trong một lần đón tiếp cai tổng Muôn ghé thăm làng hắn nói tiếng Pháp bị cả Thinh “sửa chính tả” còn trổ “chữ nho” thì lại bị “sửa lưng” làm hắn mất mặt trước bàn dân thiên hạ, xấu hổ thiếu điều chui xuống đất. Sau năm 1945, cả Thinh xin từ chức và tuyên bố “không tham gia chính trị”, còn cai tổng Cương “lặn” biệt tăm. Giặc Pháp chiếm lại Bến Tre, cai tổng Cương ban đầu được cất nhắc lên làm Hương chủ, khi cai tổng Muôn về hưu mới đề bạt cho Cương lên làm cai tổng. Không chút chần chừ, dù buổi làm việc chiều chỉ còn khoảng 15 phút, cai tổng Cương cũng ký “trát”, sai lính vô mời (thực sự là bắt) cả Thinh ra nhà việc. Cai tổng Cương ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bành trước bộ sa-lông đặt giữa nhà, hất hàm chỉ tay vào chiếc ghế dài chếch bên phải ngầm bảo cả Thinh ngồi. Cả Thinh ngồi chưa nóng đít, cai tổng Cương vào đề ngay:

- Ông có hai thằng con theo Việt Minh ở trong bưng phải không? – Giơ bàn tay lên ngăn câu trả lời của cả Thinh, cai tổng Cương nói tiếp – Chắc ông sẽ trả lời là không biết chứ gì! Tôi đã có đủ bằng chứng là hai đứa con ông đang theo kháng chiến – ngưng lại giây lâu như thăm dò thái độ cả Thinh, cai tổng Cương buông lời đe dọa – Ông biết Ký Liên, thư ký riêng của Hai Của chứ gì?! – nghe câu nói nầy cả Thinh hơi giựt thót người. Như nắm được điểm yếu của đối phương, cai tổng Cương ra phán quyết:

- Thôi! Dẫu sao tôi với ông cũng từng là đồng môn, ông cũng từng là “bề trên” – tiếng bề trên hắn nói gằn mạnh – của tôi, cho nên tôi kỳ hạn cho ông trong vòng 7 ngày ông phải kêu hai con ông ra đầu thú với chính quyền Mẫu quốc đại Pháp, tôi đảm bảo với ông hai con ông sẽ được trọng dụng, mẫu quốc luôn chiêu mộ nhân tài mà. Đừng như cái dân ở xóm Cầu Hòa cứng đầu cứng cổ, nên bị mẫu quốc trừng phạt cho đáng…

Cả Thinh không kềm được nữa, vung tay vỗ xuống mặt bàn một tiếng “rầm” chát chúa, đứng dậy tay trỏ vào mặt cai tổng Cương quát lớn:

- Mầy có còn là con người nữa không Ba Cương, trong số dân vô tội bị thảm sát ở Cầu Hòa cũng có bà con thân tộc của mầy mà! Còn hai đứa con của tao, mầy đang tôn thờ mẫu quốc đại Pháp chắc mầy rành luật lệ của Pháp chứ gì? Con tao đã hơn 18 tuổi nó tự quyết cuộc đời của nó, nếu mầy biết nó ở trong bưng thì vào đó mà kêu nó về…

Đến lượt cai tổng Cương vỗ bàn đánh rầm, đứng dậy tay chống nạnh tay chỉ vào mặt cả Thinh gằn từng tiếng:

- Thôi! Hông có on-đơ gì hết, tôi kỳ hạn cho ông 7 ngày là có tình có nghĩa với ông lắm rồi. Tối rồi, ông về đi. Hôm nay không tính, ngày mai bắt đầu là ngày thứ nhứt!

Cả Thinh về đến nhà thì gà đã gáy tăng hai, chiếc kim đồng hồ quả lắc treo trên vách ván đóng bổ kho nhích dần đến con số 12. Ngả lưng lên bộ ván gõ kê giữa nhà, cả Thinh nghĩ lung: Chắc chắn cai tổng Cương buộc mình vào con đường chết, nhưng con đường nào thoát khỏi bàn tay tên Việt gian bán nước nầy thì cả Thinh nghĩ chưa ra, trốn theo hai đứa con trai thì quá dễ dàng, chỉ cần đánh tiếng với Hai Của là xong. Còn vợ, đứa trai út, hai con dâu và 4 đứa cháu nội dễ gì cai tổng Cương tha cho…

Ngày thứ 7 qua nhanh, ngày thứ 8 đã đến. Không thấy cả Thinh dẫn hai con ra đầu thú, cai tổng Cương sai tiểu đội lính và cả bầy tráng đinh bao vây nhà cả Thinh, bắt trói gô cả Thinh và đứa con trai út áp giải ra nhà việc. Chiếc xe nhà binh bít bùng có sơn hai chữ thập đỏ hai bên hông, nổ máy hì hì chực sẵn. Cai tổng Cương mặt mày đỏ gay như say rượu, chống nạnh hai quai, đứng trước nhà việc quát lớn kèm theo tiếng chửi tục:

- Đ.M! Cho con đường sống mà không nghe. Đem xuống cầu bắn bỏ cho tao.

Cửa sau chiếc xe bít bùng mở toát, hai cha con cả Thinh bị quẳng lên xe cùng 6 tên lính, cửa xe đóng xầm lù lù lao về hướng cầu Bình Chánh. Xe dừng lại dưới chân cầu, tên thượng sĩ già mặt bậm trợn, đeo súng ngắn xề xệ bên hông, đang chờ sẵn bước đến mở cửa xe lôi hai cha con cả Thinh xuống, tên gạc-đờ-co nhanh nhẩu đem hai dải băng đen bịt mắt hai cha con cả Thinh. Biết số mình đã tận, cả Thinh hô lớn:

- Bà con ơi! Ớ bà con ơi… Bọn Việt gian bán nước bắt giết người vô tội…!

Nhanh như chớp, tên thượng sĩ giựt hai cái nón bờ-rê trên đầu hai tên lính đến trước mặt cả Thinh, dùng tay phải bóp mạnh vào hai hóp má buộc cả Thinh phải há hốc miệng, tay trái hắn vò lọn cái nón nhét chặt vào miệng cả Thinh, con cả Thinh cũng bị đúng qui trình như cha. Bịt được tiếng la tên thượng sĩ hất hàm cho 4 tên lính đang bồng súng đứng nghiêm chờ lịnh. Như ngầm hiểu 4 tên lính xốc nách hai cha con cả Thinh lôi lên cầu Bình Chánh, khi đến gần giữa cầu thì dừng lại. Ở dưới chân cầu tên thượng sĩ quát lớn:

- Mở bịt mắt cho chúng thấy đường đi qua cầu.

Hai tên lính làm theo lệnh và dạt ra hai bên. Cả Thinh và đứa con trai vừa thấy ánh sáng mặt trời thì nghe dưới chân cầu có tiếng hô lớn: “Bắn”. Cả Thinh chỉ kịp nhìn thằng con út của mình giựt mạnh người về phía sau rồi quỵ xuống… Mắt cả Thinh bỗng tối xầm…! Tên thượng sĩ bước mạnh từng bước từ chân cầu đến hai cái xác, hắn bật nút cài bao súng ngắn nghe cái “tắc”, rút khẩu colt 12 ly ra, bật chày giã về phía sau. Rất thận trọng hắn đưa nòng súng chỉ thiên “đoàng” một phát, sau đó hắn đến xác cả Thinh “đoàng” 3 phát vào thái dương, tiếp sau là con cả Thinh. Làm xong cái việc mà chúng cho là “3 phát súng ân huệ”, tên thượng sĩ dùng chân đạp xác cha con cả Thinh xuống rạch Bình Chánh đang con nước ròng chảy xiết ra sông cái Hàm Luông…!!!


Ngày 19 tháng Chạp năm Giáp Ngọ, ngày giỗ hội lần thứ 9 của người dân ở xóm Cầu Hòa nhận được tin vui: “Bọn Lang sa đã vĩnh viễn cuốn cờ xâm lược ra khỏi đất nước Việt Nam! Ký Liên và Sáu mũi đỏ bị Việt Minh bắt và xét xử trước nhân dân với bản án “tử hình” thi hành ngay.

Cai tổng Cương dù đã nghỉ việc nhưng bản chất chống đối Việt Minh vẫn còn, hắn làm chỉ điểm cho bọn tề, điệp mật phục giết Hai Của và liên lạc Thi hai lần nhưng không thành. Sáng ngày 24 tháng Giêng năm Giáp Ngọ – đúng 9 năm hắn ra lịnh “đem cha con cả Thinh xuống cầu Bình Chánh bắn bỏ”; người dân đi chợ sớm hãi hùng khi phát hiện cai tổng Cương đầu bêu một nơi, mình nằm một nẻo với bản án hài rõ tội danh cài trước ngực…! Tin đồn cai tổng Cương bị xử tử lan nhanh, phản hồi của người dân làng Mỹ Lung và các xã kế cận chỉ duy một câu: Đáng đời “ác lai thì ác báo” mà!

THAY LỜI KẾT

Tôi được ông bạn rủ về “giỗ hội” lần thứ 65 tại ấp Cầu Hòa. Vết tích trận thảm sát ngày ấy bây giờ là khu di tích “lịch sử – văn hóa” cấp Quốc gia nằm phía trái ngã tư Cầu Hòa

- Phong Nẫm. Những người còn sống sót sau trận thảm sát Cầu Hòa giờ cũng hóa ra người thiên cổ – nhân chứng lịch sử chỉ còn những di ảnh trên bàn thờ phủ đầy nhang khói; “hậu bối” của những nạn nhân chết oan trong trận thảm sát Cầu Hòa xếp hàng dài trước anh linh những người quá cố, họ lâm râm khấn vái như mãi mãi ghi khắc trong lòng tội ác “trời không dung, đất không tha” của quân xâm lược Pháp.

Chiến tranh thật sự lùi xa, quá khứ đau buồn muốn khép lại nhưng dường như không bao giờ khép được (!?). Xin mượn câu nói của một tiền nhân (ông Nguyễn Huy Khanh, hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu) mà tôi coi như người thầy trong làng văn học Bến Tre khi nói về quá khứ và tương lai để làm đề kết cho bài ký nầy: “Quá khứ đau thương cần khép lại để hướng tới tương lai, nhưng không phải vì thế mà quên đi quá khứ”.

Mai Lâm Sanh
(Hội VHNT Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre)

Ý Kiến bạn đọc