Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

KN Ngày Thương Binh – Liệt Sĩ 27/7 – Tháng Bảy nhớ Nhà thơ – Liệt sĩ Nguyễn Mỹ

Kể từ năm 1964, với bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ xuất hiện như một vệt sao băng trên bầu trời văn nghệ miền Bắc, Nguyễn Mỹ đã sớm dấn thân vào chiến trường miền Nam (từ năm 1968). Mùa xuân năm ấy, nhà thơ trẻ đã tạm biệt Hà Nội để trở lại chiến đấu cho quê hương, và trên quê hương.

Khi ngã xuống bên bờ sông Đăkta thuộc huyện Trà My (Quảng Nam), sáng ngày 16-5-1971, ở tuổi 35, anh vẫn là một chàng trai son rỗi khi đã là liệt sĩ. Dấu tích còn lại nổi bật của anh là bài thơ đầu, cuộc hành trình Cuộc chia ly màu đỏ, cùng với 34 bài khác còn ít người được biết.

Giữa một thời lửa khói, Nguyễn Mỹ không chỉ đem đến cho đời sống một cái tôi trữ tình nồng nàn, mạnh mẽ mà còn muốn trình làng một phong cách mới trong thơ. Thời ấy, sự tìm tòi hình thức trong diễn đạt chưa được quan tâm nhiều. Nhưng anh, anh rất coi trọng hình thức câu thơ, bài thơ, thích tìm thi tứ lạ.

Nha-tho-Nguyen-My
Nhà thơ Nguyễn Mỹ – Ảnh: vanhaiphong.com

Anh viết bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ khi mà toàn miền Bắc có bao nhiêu cuộc chia ly tiễn người ra trận. Nhưng “cuộc chia ly” của Nguyễn Mỹ thật độc đáo, đặc sắc, không giống bất cứ một bài thơ nào khác có chung đề tài.

Không chỉ là một thiên ký sự bằng hình ảnh, màu sắc và nhạc điệu, mà cuộc chia ly ấy còn sáng ngời lên một hình tượng thơ đầy sức sống trữ tình.

Cái trữ tình của thiên nhiên:

Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ

Cái trữ tình của lòng người:

Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa.

Và đặc biệt là cái trữ tình của khoảnh khắc tiễn người thương yêu lên đường ra mặt trận. Tình cảm được nhà thơ thể hiện mới hơn, lãng mạn hơn và mạnh mẽ hơn nhiều so với thơ biệt ly của các thời kỳ trước:

Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không ngăn được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đã bừng trên nét mặt

Nhà thơ Anh Chi rất có lý khi nhận xét: “Có thể nói Cuộc chia ly màu đỏ là bài thơ ca ngợi tình yêu Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước, có sức lay động rất sâu rộng trong đời sống, đặc biệt là với những người trẻ tuổi”.

Bài thơ của Nguyễn Mỹ chứa đựng sự tin tưởng, lòng quả cảm, chí dấn thân vì vận mệnh Tổ Quốc. Nó có sức mạnh kiểu như bài tụng ca tình yêu Đợi anh về của nhà thơ Liên Xô Konstantin Simonov viết trong những năm chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức. Có thể Cuộc chia ly màu đỏ không có độ trầm sâu như Đợi anh về, nhưng lại trong trẻo lạc quan hơn:

Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét…

Sự kiện cụ thể và có thực là có cuộc chia ly, nhưng tư tưởng, tình cảm của con người đã biến ảo cả hiện thực. Hình ảnh thực của đời sống là màu áo đỏ “rực như than lửa” của nữ nhân vật trong buổi tiễn đưa, còn “cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy” lại là chi tiết ảo, sản phẩm của trí tưởng tượng kỳ diệu và mãnh liệt của nhà thơ, đã sáng tạo nên một tứ thơ độc đáo: chia ly mà không ly biệt, ra đi mà không cô đơn, càng bước càng xa, lại càng thêm muôn vàn khó khăn gian khổ mà vẫn thấy sức mạnh kỳ lạ của màu đỏ ấy bên mình:

Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi
Như không hề có cuộc chia ly.

Nguyễn Mỹ phát triển hình tượng thơ theo cái thực – ảo kỳ diệu ấy. “Cây si xanh” (gọi họ đến ngồi) là thực, nhưng “trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai” lại là ảo. “Người chồng ấy đã ra đi” là thực,“Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế” cũng là thực, nhưng cái đang nghe thấy (Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào) lại là ảo. Giọng điệu thơ là sự hòa điệu đan xen của lời nhà thơ, lời cây si và lời của gió. Tứ thơ đi giữa hai miền thực – ảo nhưng không phải để rơi vào cái vực thẳm siêu thực mông lung mà để đi tới một chân lý, một niềm tin bất diệt ở ngày mai:

Ngày mai sẽ là ngày sum họp

Và để tỏa sáng một lý tưởng, một lẽ sống cao đẹp:

Khi Tổ Quốc cần họ biết sống xa nhau.

Các nhà nghiên cứu văn học so sánh, chắc cũng không thể nào tìm thấy ở đâu một bài thơ tiễn biệt có cấu tứ độc đáo và giọng điệu đặc sắc như thế.

Nhà thơ Vũ Quần Phương đã rất tinh tế khi nhận xét:

“Cuộc chia ly màu đỏ xuất hiện, có tác động như một mùi hương lạ, thức tỉnh và kích thích những tìm tòi trong giới viết trẻ… Nếu Nguyễn Mỹ không ngã xuống năm ấy, chắc anh cũng đã vẽ được một đường riêng biệt cho thơ”.

Và những nhà viết văn học sử, theo tôi nghĩ, ắt cũng không thể viết rằng văn chương giai đoạn chống Mỹ cứu nước chỉ là một thứ văn chương “minh họa”, “rập khuôn”, văn chương “đồng phục”, một thứ công cụ “tuyên truyền” không có tính “nghệ thuật”.

Chỉ cần đọc tên một số bài thơ di cảo của Nguyễn Mỹ, ta cũng tiếp cận được với một hồn thơ phong phú, một phong cách thơ đa dạng, có những rung động tinh tế sâu sắc trong muôn vàn cảnh tượng của đời thường: một Cánh đồng vàng, một Hơi ấm đường rừng, một Chiều mưa, hay những khi ngắm Hoa thiên lý, nhìn Hoa cúc tím, Hoa khế nở, lại khi nghĩ về Hoa chuối Việt Nam và bầy quạ Mỹ… Nguyễn Mỹ cũng có những phút suy tư Im lặng, tưởng như Vu vơ, Vô đề, nhưng thực sự là “những tiếng chuông rung” giữa gió táp mưa sa của cuộc sống và chiến đấu.

Từ những bài thơ trên, chúng ta thấy có một cái Tôi của Nguyễn Mỹ. Không phải là cái tôi đơn côi, hoảng loạn của con người hèn đớn trước thử thách của chiến tranh, mà là một cái tôi rắn rỏi giữa lòng dân tộc:

Tôi phấn đấu không ngừng cho Tổ Quốc
Và Tổ Quốc không ngừng lớn mạnh cho tôi

Đó là giới hạn phạm vi bản thể của tôi

Tôi chỉ có thể là Tôi khi tôi trong
Tổ Quốc
Tôi tồn tại với khuôn hình và nét mặt
Tổ Quốc tôi
Tôi không thể có Tự do khi
Tổ Quốc còn bị áp bức
Tôi không thể vẹn toàn khi
Tổ Quốc còn chia cắt…

Chan-dung-va-but-tich-nha-tho-Nguyen-My
Chân dung và bút tích nhà thơ Nguyễn Mỹ

Một cái TÔI đầy bản sắc, không hề chìm đi giữa cái TA, mà ngược lại, là cái tôi mạnh mẽ đi cùng đất nước, nhân dân, dấn thân chiến đấu hy sinh cho Tổ Quốc trường tồn. Và chính bởi với mục tiêu của cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc, Nguyễn Mỹ mới có lý khi cầm bút viết:

Tôi chiến đấu cho Tổ Quốc vẹn toàn
và cho Tự do
Là chiến đấu cho tôi
Cho nên tôi sẵn sàng hy sinh
cho Tổ Quốc.

Một cái Tôi đồng hành cùng dân tộc, cho nên cái tôi ấy mới có những triết lý sâu xa từ một hiện thực bắt gặp rất đỗi bình thường: Tấm vải ngụy trang.

Đất nước mình đẹp như tấm thảm
Bốn mùa quả ngọt hoa thơm
Chớ để quân thù dội mãi lửa bom
Chớ để quân thù cướp đi một tấc
Anh vẽ lên đây sắc màu bất diệt
Cho em vào cùng núi sông
Tựa vào núi sông mà giữ vững núi sông
Tựa vào đất nước mà chiến thắng.

Và cái Tôi ấy cũng là một thứ chất thép được tôi trong lửa đạn, một chất kim cương tâm hồn được luyện rèn qua bao thử thách, giữa bao mất mát đau thương để càng trở nên rắn rỏi và mạnh mẽ, sâu sắc và quả cảm, vững vàng và kiên định, quyết tâm dấn bước đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”:

Ai làm cách núi ngăn sông
Tôi đi nối lại muôn lòng muôn phương
(Đi)

Có thể nói, cái Tôi của Nguyễn Mỹ là cái Tôi rất cao và rất riêng, một cái Tôi đi cùng dân tộc, đồng hành với nỗi đau thương và niềm kiêu hãnh của dân tộc, nói được cái Ta chung mà vẫn giữ được bản sắc riêng trong phong cách, giọng điệu, và bút pháp, nhất là những biểu tượng ngôn ngữ trong thơ. Thậm chí còn có thể tiếp cận một “vùng trời mới”, đưa tới một khuynh hướng mới cho thi ca Việt Nam.

Cái Tôi của Nguyễn Mỹ còn cho ta thấy cái nhìn của nhà thơ về chiến tranh, cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc trong cuộc đối đầu với chiến tranh bạo tàn phi nghĩa của kẻ thù.

Một nhà thơ viết về chiến tranh, nhưng lại tuyên ngôn một cách rõ ràng, dứt khoát: Ta không cần chiến tranh! Một người chiến sĩ tình nguyện dấn thân vào cuộc chiến, nhưng lại mơ làm sứ giả của hòa bình: Tôi mơ người lính biên cương/ Thành người sứ giả yêu thương hòa bình (Đi)

Rõ ràng Nguyễn Mỹ đã tuyên ngôn bằng thơ và trong thơ một quan niệm chiến tranh đầy tính nhân văn mang tinh thần chính nghĩa. Chúng ta “không cần chiến tranh”. Vì “Mai em ta còn đi học/ Xóm ta tíu tít ra đồng”. Chúng ta đâu thích mùi đạn bom, mùi thuốc súng. Nhưng kẻ thù đã gieo rắc chết chóc, đau thương trên mình Tổ Quốc. Nên đứng trước chiến tranh ta không run sợ, không hoảng loạn, đớn hèn. Bởi vậy mới có những cuộc chia ly “màu đỏ”, mới có những đôi lứa “khi Tổ Quốc cần họ biết sống xa nhau” dù đang giữa tuổi thanh xuân với nồng nàn hạnh phúc.

Và đẹp biết bao những biểu tượng về một Việt Nam trong thơ Nguyễn Mỹ, khi nhà thơ “không ngớt nghĩ về em…”:

Tôi không ngớt nghĩ về em và tôi thấy
Chính em đây: hoa cúc trắng dịu lành
Trên nóc hầm bình thản ngắm trời xanh
Lòng thơm ngát giữa lửa bom tàn phá
Em đã đi về phương súng nổ
Em đã đi rồi, cùng với ngôi sao…
Tôi không ngớt nghĩ về em và tôi thấy
Cánh hải âu trên mặt biển mênh mông
Đang kéo từ đáy sâu lên những núi sóng thần
Trong tiếng kêu vui mừng, khích lệ
Tổ quốc với tình yêu chung một chiến hào…

Với một cái tôi tràn đầy chất nhân văn, Nguyễn Mỹ nhìn thấy rõ cái bạo tàn trong cuộc chiến phi nghĩa của quân thù và diễn đạt nó bằng một ngôn ngữ rất riêng đầy tính biểu tượng:

Ôi những đêm dài chiến tranh
trải bàn tay thần chết
Mùi hương gọi hồn người đã khuất

Và anh càng nhìn rõ hơn sức mạnh của chính nghĩa, để dù trong xương rơi máu đổ, trong tang tóc điêu linh vẫn thấy sức sống bất diệt của những con người dẫu chết mà không chết:

Biết bao nhiêu tang tóc điêu linh
Cho đêm nay bất tử ngủ yên lành
(Im lặng)

Quan niệm về chiến tranh cho thấy tư tưởng rất cao của nhà thơ – chiến sĩ: Chúng ta không cần chiến tranh, nhưng ta phải cầm súng chiến đấu để “dập tắt muôn đời lửa chiến tranh”:

Người ra đi thay sắc áo ngụy trang
Nghe thôi thúc trong từng cơn gió nhẹ
Tấp nập mây trời chở nắng xuống phương Nam.
(Mùa đánh Mỹ)

Đất nước mình đẹp như tấm thảm
Bốn mùa quả ngọt hoa thơm
Chớ để quân thù dội mãi lửa bom
Chớ để quân thù cướp đi một tấc
Anh vẽ lên đây sắc màu bất diệt
Cho em vào cùng núi sông.
(Tấm vải ngụy trang)

Dưới đôi cánh của anh là đôi cánh tay của mẹ
Đôi cánh tay này người đã bồng bế anh
Đừng để bom Mỹ xắn vào
đôi tay của mẹ
Hãy diệt chúng ngay từ cổng trời xanh.
(Lời chào gửi các phi công trẻ tuổi Việt Nam)

Tôi không ngớt nghĩ về em và tôi thấy
Tôi phải đến ngay nơi đối mặt quân thù
Không chỉ tình yêu vượt núi lớn, sông sâu
Đây là chuyện giữa Con Người với Quỷ
Mùa gặt với em gieo qua xác Mỹ
Trên luống cày – tiếng súng mở tương lai
(Tôi không ngớt nghĩ về em và tôi thấy)

Có thể thấy thơ Nguyễn Mỹ là con người Nguyễn Mỹ. Chính cái cội nguồn tư tưởng và tình cảm trong anh đã hình thành nên một phong cách thơ đa dạng và phong phú, dự báo một khuynh hướng mới cho ngày mai của thơ ca Việt Nam.

Nguyễn Mỹ ngã xuống trên chiến trường khói lửa, tuổi thanh xuân dừng lại với mây trời.

Anh đã sống một cuộc đời trong sáng và oanh liệt, như chính Giấc mơ xanh của đời anh cao đẹp, sáng trong, vẫn mãi còn với quê hương, với Tổ Quốc muôn đời:

Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi
Là Ô Loan đầm Mẹ sáng ngời
Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi
Nâng giấc mơ lên tới đỉnh trời.

Hà Nội, 13-7-2016

T.S Phạm Thị Xuân Châu
(Hội VHNT tỉnh Điện Biên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 411

Ý Kiến bạn đọc