Người tốt - Việc tốt

KN 71 Năm Ngày Cách Mạng Tháng Tám (19-8-1945 – 19-8-2016)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cách mạng Tháng Tám

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng thuộc địa có thể “giành thắng lợi trước”!

Trong cuốn “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1976, tr.224, tác giả Thomas Hodgkin, người Anh, đánh giá Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga.

Mit-tinh-o-Nha-hat-Lon-Ha-Noi-de-gianh-chinh-quyen-ngay-19-8-1945
Mít-tinh tại Nhà hát Lớn Hà Nội để giành chính quyền ngày 19-8-1945.

Thomas Hodgkin viết: “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa. Nó đã nổ ra trong một thời điểm lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”.

Sau khi V.I.Lênin mất, trong khi Quốc tế Cộng sản cho rằng: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến” nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này) vào tháng 6-1924 tại Đại hội V Quốc tế cộng sản đã nhấn mạnh “cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Trước đó, khi bôn ba tìm đường cứu nước, Người cũng đã nhận ra rằng: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”.

Trong cương vị là thành viên Ban phương Đông, Ban của những dân tộc thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, Người đã biến khẩu hiệu của Lênin “Tất cả vô sản và nhân dân các thuộc địa đoàn kết lại!” thành hiện thực với “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa”, “Hội những người bị áp bức ở Á Đông”. Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” xuất bản năm 1927, Người đã viết rằng: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm cách mệnh giai cấp cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”. Chính tư tưởng sáng tạo và linh hoạt của Người đã tạo tiền đề cho cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Bởi thế, trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết rằng “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

“Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”

Tiếp thu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Hồ Chủ tịch đã chỉ ra là: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Hồ Chủ tịch cũng nói rõ thêm, Đảng cách mạng là “Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động…”, sẽ có nhiệm vụ “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy, Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bản chỉ nam” và “Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng cách mạng nhất, chân chính nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Chu-tich-Ho-Chi-Minh-doc-ban-Tuyen-ngon-Doc-lap-khai-sinh-nuoc-Viet-Nam-Dan-chu-Cong-hoa-vao-ngay-2-9-1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945.

Chính từ những tiếp thu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hợp nhất các tổ chức Cộng sản lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Sau 15 năm, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, lật nhào sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân đế quốc và phong kiến.

Để thực hiện được công việc lớn lao là giành được chính quyền, giải phóng dân tộc, tháng 5-1941, Đảng ta đã chủ trương thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Đây là quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Điều lệ của Mặt trận Việt Minh ghi rõ: Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước. Kết nạp từng đoàn thể không cứ đoàn thể, đảng phái nào của người Việt Nam hay của các dân tộc thiểu số sống trong nước Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị, để cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Với cương lĩnh sáng suốt này, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, biến đổi hoàn toàn thực lực của lực lượng cách mạng Việt Nam, từ không đến có, từ yếu thành mạnh. Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội Cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh với nòng cốt là Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc và các thành viên khác như Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi, là lực lượng quan trọng nhất để tổng khởi nghĩa toàn quốc giành chính quyền về tay nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Chỉ thị nêu rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tức là chính trị trọng hơn quân sự, đội viên chọn lọc trong hàng ngũ du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ, đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực…”. Chấp hành Chỉ thị của Bác Hồ, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, đó là đội quân chủ lực đầu tiên. Như vậy, cuối cùng vấn đề bạo lực cách mạng vẫn là vấn đề tối quan trọng của một cuộc Cách mạng giành chính quyền. Bởi tổ chức chính trị của quần chúng ngày càng lớn mạnh thì các tổ chức nửa vũ trang, vũ trang cũng dần dần phát triển như các đội tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu, tổ bí mật quân sự hóa, đội tuyên truyền vũ trang, đội trừ gian và đội du kích. Những đơn vị du kích tập trung đến mức nào đó thì các đơn vị tiền thân của quân đội ra đời, như Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Việt Nam Cứu quốc quân, Việt Nam giải phóng quân.

Việc nhận định đúng thời cơ và nắm bắt thời cơ là vô cùng quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Cuối năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở theo dõi, nắm bắt tình hình thực tiễn đã chỉ ra rằng: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!”. Điều này cũng được Đảng ta nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.100). Riêng đối với nước ta, Đảng ta nhận định, trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Pháp là một khâu yếu trong sợi dây xích của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Trong hệ thống thuộc địa của Pháp thì Đông Dương là khâu yếu nhất. Ngay tại chính quốc, Pháp đã bị phát xít Đức xâm lược và phải lập chính phủ bù nhìn tay sai cho Đức. Ở Đông Dương, Pháp phải từng bước đầu hàng phát xít Nhật, cuối cùng bị Nhật truất quyền thống trị. Đây chính là cơ hội thuận lợi cho việc giải phóng dân tộc.

Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), tuy thời cơ đã xuất hiện, song Đảng vẫn chưa quyết định phát lệnh Tổng khởi nghĩa, bởi “do cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh, các tầng lớp đứng giữa chưa ngả hẳn về cách mạng, đội tiên phong còn đang lúng túng về chuẩn bị khởi nghĩa”. Trong Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, có một đoạn đề cập như sau: “Dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”.

Do đó, ngay trong đêm 13-8-1945, nắm chắc quân đội Nhật sẽ đầu hàng Đồng Minh vì Liên Xô đã tham gia tấn công Nhật, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tiếp đó, ngày 16 và 17-8-1945 (khi Nhật Bản đã đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15-8-1945), Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Chúng ta không thể chậm trễ”.

Huế, ngày 13/8/2016

Nguyễn Văn Toàn
(TP. Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 415

Ý Kiến bạn đọc