Văn học nước ngoài

KN 71 Năm Chiến Thắng Phát Xít Đức (9/5/1945 – 9/5/2016)
Sự thật về “cái giá của chiến thắng”

Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945) đã đi vào lịch sử của nhân loại như đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Xô Viết dưới sự lãnh đạo thiên tài của đại nguyên soái Stalin. Song đối với Liên Xô, cuộc chiến tranh này cũng là một bi kịch khủng khiếp. Mọi người đều biết rõ quy mô của nó. Những tổn thất về mức độ tàn phá do chiến tranh gây ra đã lớn hơn gấp 20 lần thu nhập quốc dân của đất nước này năm 1940. Liên Xô đã bị mất 30% của cải của mình, nếu quy ra tiền là 130 tỷ đô la. Đó là một nửa tổng số giá trị của những tàn phá ở tất cả các nước trên thế giới trong cuộc Thế chiến lần thứ II gộp lại. 

Losif-Vissarionovich-Stalin
Iosif Vissarionovich Stalin.

Tuy nhiên, khi nói về “cái giá của chiến thắng”, thì dường như người ta đã quên mất những con số ấy. Có lẽ nguyên nhân là như sau: những gì bị phá hủy đã được phục hồi, nhiều thành phố và làng mạc mới, nhiều nhà máy và công xưởng mới, nhiều trạm thủy điện và cầu cống mới đã được xây dựng, người ta đã chế tạo được vũ khí nguyên tử và khinh khí, đã đưa vệ tinh rồi sau đó là con người lên vũ trụ. Và tất cả những thành tựu ấy đã được tạo ra trong một thời hạn cực ngắn. Liên bang Xô Viết đã trở thành siêu cường thứ hai của thế giới, hàng trăm triệu người trên khắp hành tinh đã ca ngợi nó, nhiều quốc gia muốn noi theo nó, còn các quốc gia khác thì e ngại nó…

Những người Xô Viết rất tự hào về đất nước mình, nhưng trong tâm hồn họ như những vết thương vẫn rỉ máu, vẫn sống dai dẳng một ký ức về những người ruột thịt thân yêu đã hy sinh trong cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa ấy, mặc dù nó quả thật được gọi một cách xứng đáng là Cuộc chiến tranh Vệ quốc và Cuộc chiến tranh Thần thánh.

Con số 7 triệu người đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất của Tổ quốc và ở nơi đất khách quê người dưới thời Stalin hầu như không gia tăng.

Và, đùng một cái, tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev đã làm chấn động trái tim và khối óc của mọi người bằng một thông báo cho rằng 20 triệu người lính và thường dân đã bỏ mạng ngoài mặt trận, trong các đội du kích, trong các trại tù binh và trong các vùng bị tạm chiếm.

Sau này Brezhnev đã xác nhận con số đó. Cả xã hội đau đớn tiếp nhận cái tin mới ấy và trong các cuộc tranh cãi kịch liệt cố làm sáng tỏ những câu hỏi: “Tại sao lại chết nhiều thế?” và “Ai có lỗi?”. Chung quy lại, mọi chuyện được gán cho những sai lầm của Stalin và chủ nghĩa Stalin: “Chính Đại hội XX của Đảng, chính Khrushchev đã nói đấy thôi!”. Và mọi người tạm bằng lòng với điều đó. Dường như…

Nhưng rồi đã nổ ra “sự công khai” của Jakovlev, “cuộc cải tổ mang tính chất cách mạng” của Gorbachev, tiếp đến “những cuộc cải cách triệt để” của Eltsin. Trong thời kỳ “công khai” và sau đó, ở một số nhà báo, nhà văn, nhà chính trị, nhà sử học và ở một số tình báo viên đào tẩu đã diễn ra sự rối loạn tâm thần ghê gớm. Bằng cách thi đua nhau trong việc công bố những bài báo đầy giọng cay độc và lâm ly thống thiết về cái chế độ Xô Viết bỗng trở nên chán ngấy đối với họ, về Stalin đáng căm thù, họ đã trút xuống đầu dân chúng bị mụ mẫm hàng đống con số về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, khiến chúng càng ngày càng khủng khiếp hơn. Vào đầu những năm 1990, mối tương quan về tổn thất của binh lính Liên Xô và binh lính Đức được đẩy lên tới tỷ lệ 1:3, điều này có nghĩa là, theo họ, Liên Xô bị tổn thất ngoài mặt trận số quân gấp 3 lần so với quân Đức. Những con số này đã làm dấy lên ở dân chúng những suy nghĩ buồn phiền và phẫn nộ. Còn sau đó là những lời hùng hổ: “Binh lính Xô Viết đúng là đã lấy thân mình che đỡ cho Mátxcơva rồi sau đó trải suốt dọc đường đến Berlin: 9 người đã ngã xuống nhưng người thứ 10 dù sao cũng giết được 1 tên lính địch” – nhà tương lai học I. Bestuzhev-Lada viết. “… Xét cho cùng thì đây là một sự thật đáng buồn – 14 người lính của chúng ta đã đổi mạng lấy một tên Đức bị giết” – nhà chính trị học A. Utkin khẳng định.

Cho đến nay, trước hết, một con số tổng quát về những tổn thất về sinh mạng trong quá trình của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã và đang khiến tất cả mọi người đau buồn: 26,6 triệu người. Đây là con số chính thức mà đa số những nhà sử học và những chính trị gia đã nhất trí với nhau sau nhiều cuộc tranh luận kéo dài. Tuy nhiên, một số “nhà phân tích” lại cho rằng con số này bị hạ thấp. Đã xuất hiện những con số thiệt hại chung là 37 và thậm chí là gần 45 triệu người. Ý nghĩa của những con số này là gì? Vẫn là nói lại những chuyện cũ rích, chẳng qua chỉ gõ mõ khua chiêng to hơn mà thôi: “Điều hành đất nước, chỉ huy quân đội là những tay trí thức nửa mùa tàn bạo, những gã hoang tưởng khát máu, không biết thương xót nhân dân, quân lính và sĩ quan đã lấy xác người trải đầy con đường chiến thắng quân Đức. Đó là Chiến thắng cái nỗi gì mà lại còn là Vĩ đại nữa? Làm sao lại có thể hàng năm tổ chức ăn mừng “cái chiến thắng” như thế? Và không ăn mừng như ở các nước vùng Bantích, như ở Gruzija, Moldavija, hoặc tuyên bố Ngày chiến thắng là “Ngày tưởng niệm những người đã ngã xuống… trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản” như bọn quốc xã hiện đại ở Ukraina… đã rêu rao.

Ngành thống kê học, thậm chí rất đáng buồn như hiện nay là một ngành rất ma mãnh. Nó cần được phân tích cặn kẽ và giải thích một cách không thiên vị. Chỉ khi đó mới có thể hiểu được thực chất của sự việc. Để khởi đầu, cần phải chia con số 26,6 triệu người ra làm hai phần lớn: những tổn thất của các lực lượng vũ trang và những tổn thất của thường dân.

Qua việc so sánh những tổn thất của các lực lượng vũ trang của Liên Xô và Đức trên mặt trận Xô – Đức từ đầu đến cuối cuộc chiến, ta có thể hiểu được ai chiến đấu giỏi hơn còn ai chiến đấu tồi hơn. Và qua đó chuyện gì được làm sáng tỏ?

Ngon-co-cua-nguoi-chien-si-Ve-Quoc---Viktor-Safronovto
Ngọn cờ của người chiến sĩ Vệ quốc – Viktor Safronovto.

Thông thường người ta cho rằng những tổn thất không thể phục hồi trong chiến đấu của nước Đức (bị giết, bị chết do vết thương và bệnh tật, những người bỏ mạng do những trường hợp rủi ro, những người bị xử bắn theo bản án của tòa án binh, những người bị bắt làm tù binh không trở về) trong 1.418 ngày chiến tranh là 8 triệu 876,3 nghìn quân nhân cộng với những tổn thất từ phía các đồng minh của nó là 10 triệu 344,5 nghìn người. Những tổn thất không thể phục hồi trong chiến đấu của Liên Xô cũng trong 1.418 ngày trong chiến tranh là 11 triệu 444 nghìn người cộng với những tổn thất của các đồng minh (76,1 nghìn người) là 11 triệu 520 nghìn người. Xin hãy lưu ý: các đồng minh của Hitler bị mất trên chiến trường Xô – Đức 1 triệu 467,5 nghìn người, các đồng minh của Liên Xô – 76,3 nghìn người. Như vậy, tương quan về những tổn thất không thể phục hồi trong chiến đấu của Đức và Liên Xô là 1: 1,1. Sự khác biệt không quá lớn, nhưng có lợi cho đối phương. Thông thường thì điều này được giải thích như thế nào?

Một là, cuộc tấn công bất ngờ của quân Đức, những tính toán sai lầm của giới lãnh đạo quân sự – chính trị của Liên Xô trong thời kỳ đầu của chiến cuộc rõ ràng có ảnh hưởng. Nói chung là như vậy. Mặc dầu vai trò của những nhân tố này được thổi phồng một cách ghê gớm.

Việc Hitler có thể bất ngờ khai chiến – điều này Stalin đã nắm được. Ông đã phát biểu về chuyện này tại cuộc họp của Bộ chỉ huy Hồng quân trong tháng 5/1941, tức là chỉ sau 8 tháng ký Hiệp ước không tấn công với Đức ngày 23/8/1939. Những người không hiểu điều này (không muốn hiểu?) trước hết là Zhukov, Tổng tham mưu trưởng của Hồng quân Liên Xô (về chuyện này ông đã thú nhận trong cuốn Nhớ lại và suy nghĩ) và Timoshenko, Bộ trưởng Dân ủy của Hồng quân công nông. Họ không hiểu rằng thực chất của sự bất ngờ “thể hiện ở chỗ tại một trong những địa điểm người ta đem một lực lượng lớn hơn nhiều đối chọi với quân địch, điều mà nó không ngờ tới” (C. Clausewitz), rằng những nhân tố chủ yếu của sự bất ngờ là sự bí mật của việc tập trung quân đội và sự nhanh chóng hành động theo hướng của mũi tiến công chính. Ngay cả Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản (bônsêvích) toàn Liên bang, cũng từng có ảo tưởng cho rằng ông có thể chơi trội hơn Hitler. Nhưng, theo tôi, những người có lỗi trong những tính toán sai lầm này trước hết vẫn là những nhà quân sự chứ không phải nhà chính trị Stalin.

Có ý kiến cho rằng dường như Stalin có thiện cảm với Hitler, muốn cộng tác với hắn. Đó là điều bịa đặt. Stalin đã cố gắng hết sức muốn thành lập khối liên minh chống Hitler với Anh, Pháp và Mỹ, nhưng không có kết quả. Bởi vậy khi Hitler đề nghị Stalin ký kết Hiệp ước không tấn công thì Stalin, theo tôi nghĩ, cực chẳng đã mới phải làm điều đó. Đất nước chưa sẵn sàng cho chiến tranh, cần phải tranh thủ thời gian.

Có ý kiến cho rằng dường như Liên Xô không chuẩn bị gì cho chiến tranh. Và đó cũng là điều bịa đặt.

Việc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với một kẻ địch tiềm ẩn đã được tiến hành theo tốc độ khẩn trương nhất. Năm 1928, Liên Xô có 46 nhà máy quân sự, đến năm 1938 con số đó là 220. Năm 1929, ngân sách quốc phòng chiếm 25,6% tổng ngân sách của Liên Xô, còn năm 1941 – lên tới 46,6%. Đang đi vào sản xuất là máy bay cường kích IL-2 (pháo đài bay), dàn pháo phản lực Katjusha, một số công xưởng chế tạo xe tăng. Muốn chuẩn bị thật đầy đủ cho cuộc chiến tranh với Hitler cần phải có thêm từ một năm đến một năm rưỡi nữa. Stalin không tin rằng Hitler, tuy đã 2 năm ở trong tâm trạng chiến tranh, dám cả gan mở cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. Ở đây ông đã nhầm. Nhưng Hitler khi tấn công vào Liên Xô đã mắc một sai lầm chết người – đối với nước Đức và đối với bản thân y.

Có ý kiến cho rằng Stalin không tin vào những nguồn tin tình báo về thời điểm khai chiến. Đó cũng là một điều bịa đặt. Chưa hoàn toàn tin – điều này là sự thật. Tại sao? Những tin tức tình báo nhiều khi rất thiếu chính xác.

Chẳng hạn, tình báo viên huyền thoại Richard Zorge từng làm thư ký không chính thức của Tùy viên quân sự Đức ở Tokyo, đã thông báo cho Cục trưởng Cục Tình báo của Bộ Tổng tham mưu của Hồng quân Liên Xô một tin như sau: “Quyết định khai chiến với Liên Xô sẽ chỉ được Hitler chấp thuận hoặc là trong tháng 5, hoặc là sau cuộc chiến tranh với nước Anh”. Trong tháng 5 – điều này gần với chân lý, mặc dầu không nói rằng cuộc chiến sẽ bắt đầu trong tháng 5 mà nói rằng “quyết định khai chiến sẽ được chấp thuận trong tháng 5”. Thế khi nào thì nó bắt đầu? Qua những lời lẽ của Zorge thì ta không thấy rõ điều này. Hơn nữa, câu “hoặc là sau cuộc chiến tranh với nước Anh” thật mù mờ khó hiểu. Ai mà có thể biết rằng bao giờ thì cuộc chiến tranh đó sẽ kết thúc?… Muộn hơn một chút, Zorge đã gửi mấy thông tin chính xác, nhưng chúng không được lưu ý tới. Tại sao vậy? Ngay từ năm 1937, Ban lãnh đạo Cục Tình báo của Hồng quân Liên Xô đã thông báo cho Stalin biết rằng Zorge được phép làm tình báo cho nước Đức. Những tình báo viên hai mang như vậy đã được kiểm tra rất kỹ.

Ngày 21/6/1941, một thông tin được gửi đến Cục trưởng Cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu của Hồng quân: “Viên đại sứ Đức Ott ở Tokyo đã bảo tôi rằng chiến tranh giữa Đức và Liên Xô là không tránh khỏi”. Thế thôi. Trong khi đó cho đến lúc chiến tranh nổ ra chỉ còn lại mấy tiếng đồng hồ. Cũng nên biết thêm một điều là từ hai phía thường diễn ra cái trò tung tin đánh lạc hướng đối phương.

Hai là, có ảnh hưởng ở mức độ lớn hơn tới mối tương quan: 1: 1,1 vốn có lợi cho nước Đức phát xít, là số lượng tù binh Liên Xô bị tiêu diệt và bị chết trong các trại tập trung của Đức quốc xã do điều kiện giam giữ vô nhân đạo và do bị bỏ đói, gồm 2 triệu 722,4 nghìn người. Con số này nhiều gấp 5 lần số lượng quân nhân của đối phương bỏ mạng sau khi bị Liên Xô bắt làm tù binh, gồm 579,9 nghìn người. Mặc dầu số lượng quân nhân của Liên Xô và của Đức bị bắt làm tù binh là hầu như ngang nhau: 4 triệu 559 nghìn người (phía Liên Xô) và 4 triệu 376,3 nghìn người (phía Đức).

Có người sẽ hỏi: Ở đây tù binh thì có liên quan gì khi nói đến những tổn thất không thể phục hồi? Vấn đề là ở chỗ sau khi chiến tranh kết thúc, một bộ phận tù binh còn sống sót của cả hai nước tham chiến đã trở về tổ quốc mình. Tuy nhiên, trong số 4 triệu 559 nghìn tù binh Liên Xô chỉ có 1 triệu 836 nghìn người đã trở về, còn về phía quân Đức và các đồng minh của họ là 3 triệu 572,6 nghìn người được hồi hương.

Kết quả là số lượng những tổn thất không thể phục hồi của mỗi bên tham chiến đã giảm thiểu tương ứng với những con số nêu trên.

Dường như không cần thiết tiếp tục làm những phép tính toán nữa, huống chi, như thông lệ, lịch sử không có thể giả định. Song đó không phải là chân lý tuyệt đối. Đúng thế, chúng ta không thể làm lại các sự kiện đã xảy ra, cũng như không thể làm sống lại những người đã chết. Tuy nhiên, chúng ta có quyền suy nghĩ về việc những sự kiện có thể được phát triển “giá như…”.

Chúng ta có thể hình dung: giá như số tù binh Liên Xô không bị giết, không bị bỏ đói trong các trại giam của Đức gấp 5 lần so với số tù binh Đức trong các trại giam của Liên Xô, giá như không phải 1 triệu 836 nghìn người đã trở về Liên Xô mà là, chẳng hạn, thêm 2 triệu người nữa, tức là 3 triệu 836 nghìn người thì bức tranh với những tổn thất về mặt dân số của quân đội Xô Viết sẽ thay đổi một cách cơ bản và bao gồm 6 triệu 744,5 nghìn người chứ không phải là 8 triệu 744,5 nghìn người. Và lúc đó, những tổn thất ấy của Liên Xô sẽ thấp hơn so với những tổn thất của phát xít Đức cùng với các đồng minh của chúng.

Ngoài ra, như các chuyên gia cho thấy, trong các tài liệu lưu trữ của Đức và trong các bài báo khác nhau được công bố, người ta dẫn ra những con số áng chừng chứ không phải là thật chính xác về những tổn thất nhân lực của Đệ tam đế chế.

Những con số này chỉ đáng tin cậy cho tới tháng 1/1945. Trong giai đoạn cuối cùng của chiến cuộc, khi quân Đức đã gánh chịu những thất bại nặng nề, họ đâu có thì giờ để tính đếm con số thương vong. Nhưng “giá như” những tổn thất chính xác của quân Đức trong giai đoạn này được công bố thì mối tương quan về những tổn thất trong chiến đấu của Liên Xô và Đức càng thay đổi một cách có lợi hơn nữa cho phía Liên Xô.

Lại nữa (và đây là sự thật hoàn toàn): sau khi xâm chiếm các nước châu Âu, nước Đức đã sử dụng dân chúng của những quốc gia này để tăng cường sức mạnh cho mình. Nhằm mục đích ấy, hơn 1 triệu 800 nghìn người đã bị động viên. Từ con số trên đã được phiên chế 59 sư đoàn, 23 lữ đoàn, một số trung đoàn, quân đoàn Lê dương và tiểu đoàn độc lập. Đến ngày 1/6/1944, quân số của những đơn vị này bao gồm 486,6 nghìn người, trong số đó 333,4 nghìn người chiến đấu trên mặt trận Xô – Đức. Đội quân SS bao gồm 26 sư đoàn tình nguyện quân được tuyển mộ từ người Anbani, Hà Lan, Đan Mạch, Hungari, Bỉ, Pháp, Latvi, Litva, Estonia, Ukraina. Tất cả những binh đoàn này nằm trong biên chế của Bộ chỉ huy quân sự Đức quốc xã. Những tổn thất của chúng cũng được tính đến, nhưng theo nhận định của các chuyên gia, độ chính xác rất đáng ngờ. Giá như chúng được làm rõ thì…

Sự thật là ở chỗ những tổn thất của Đệ tam đế chế trong những tháng cuối cùng của chiến cuộc ở châu Âu (kể cả Đông Âu) không được kiểm kê mặc dầu chỉ từ ngày 1/1 đến 30/4/1945, theo tài liệu của Bộ chỉ huy Đức, những tổn thất không thể phục hồi của nó là 1 triệu 277 nghìn người.

Và sau hết, có một sự thật trớ trêu nhưng đích thực: con số những tổn thất của các lực lượng vũ trang Đức không bao gồm những tên phản bội Liên Xô đã chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Đức quốc xã – binh đoàn giải phóng nước Nga của tướng Vlasov, quân đoàn độc lập Nga của tướng Skorodumov vốn được phiên chế từ bọn Bạch vệ trước đây, quân đoàn Kazak số 15 của tướng Fon Panvis, quân đoàn bộ binh Nga của tướng Steifon, binh đoàn các phần tử dân tộc chủ nghĩa ở Ukraina dưới sự chỉ đạo của Bandera. Hơn nữa, những tên phản động này (500 nghìn người) từng chiến đấu chống Liên bang Xô Viết, từng giết nhiều quân nhân và thường dân, lại nằm trong số những tổn thất không thể phục hồi… của quân đội Xô Viết (?!).

Với sự thống kê tất cả các trường hợp “giá như” thì những tổn thất không thể phục hồi của quân đội Đức và các lực lượng vũ trang khác trên thực tế lớn hơn nhiều so với những tổn thất mà thế giới đã biết. Về đại thể, chúng lớn hơn những tổn thất của Hồng quân.

Thiết tưởng sau những điều đã được nói trên đây thì chẳng cần phải bàn luận một cách nghiêm túc về việc quân đội nào chiến đấu giỏi hơn – quân đội Liên Xô hay quân đội Đức: rõ ràng Liên Xô bằng sức mạnh quân đội của mình (với sự chi viện muộn màng của “các đồng minh bất đắc dĩ”) đã giành chiến thắng hiển nhiên trước phát xít Đức.

Chỉ tính từ ngày 1/1 đến 30/4/1945, quân đội Liên Xô đã bắt làm tù binh 20 viên tướng, 1.014 sĩ quan, 59.870 hạ sĩ quan và 1 triệu 235 nghìn 440 binh lính, còn gộp chung lại là 1 triệu 305 nghìn 344 người. Chỉ riêng từ ngày 1 đến 9/5/1945 có 634.950 quân nhân của Đệ tam đế chế bị quân đội Liên Xô bắt làm tù binh, trong số đó có 66 viên tướng và 10.424 sĩ quan. Sau ngày 9/5/1945, gần 1 triệu 600 nghìn binh lính và sĩ quan Đức đã hạ vũ khí trước quân đội Liên Xô.

Con số thật khủng khiếp đối với một người dân bình thường – 26,6 nghìn người quân và dân Liên Xô đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Con số về sự thiệt hại đó bao gồm những quân nhân và du kích bị giết trong chiến đấu, bị chết do vết thương và bệnh tật, những thường dân bỏ mạng vì đói, bị tử nạn trong các hậu oanh tạc và pháo kích, trong các trận càn quét, những tù binh và những chiến sĩ hoạt động bí mật bị xử bắn và bị đày đọa trong các trại tập trung, các công nhân, nông dân, viên chức bị đưa đi làm lao động khổ sai ở Đức và ở các nước khác không trở về nước. Con số này về phía Đức và các nước chư hầu của nó là 11,9 triệu người. Còn những tổn thất của Liên Xô nhiều hơn gấp 2,2 lần. Nếu không có sự phân tích và không có những lời bình luận khách quan vô tư thì những con số 26,6 triệu và 2,2 lần sẽ gây ra những suy nghĩ bi đát.

Tuy nhiên, quan điểm toán học thuần túy ở đây cũng không thích hợp. Có cả một loạt hoàn cảnh mà không thể không tính đến.

Trước hết, đó là sự khác biệt cơ bản về mục đích của chiến tranh.

Nước Đức do Hitler cầm đầu là kẻ thù duy nhất trong toàn bộ lịch sử của nước Nga đã công khai đặt ra nhiệm vụ tiêu diệt về mặt thể xác chủng tộc Slavơ – người Nga, người Ukraina, người Belarus, người Ba Lan. Đối với người Nga, trong kế hoạch “Ost” (Phương Đông) của Hitler đã nói rõ: “Hoặc là tiêu diệt hoàn toàn dân tộc Nga hoặc là làm tê liệt cái bộ phận của nó vốn mang những dấu hiệu rõ ràng của chủng tộc phương Bắc”.

“Triết lý” của chủ nghĩa phát xít Đức được trình bày một cách cô đọng trong những lời lẽ sau đây của Hitler: “Chúng ta phải tiêu diệt dân chúng – đó là sứ mệnh của chúng ta nhằm bảo vệ dân số Đức. Chúng ta buộc phải phát triển kỹ thuật bằng cách tiêu diệt dân cư… Tôi có quyền tiêu diệt hàng triệu người thuộc chủng tộc hạ đẳng vốn sinh sôi nảy nở như giòi bọ”. Cái “triết lý” này là cơ sở của chính sách Hitler trên lãnh thổ Liên Xô bị tạm chiếm.

Một trong những tài liệu tố cáo tại Tòa án Quốc tế Nuyrembe là bản Cẩm nang của binh lính Đức chứa đựng những lời kêu gọi như sau: “Hãy nhớ và thực hiện: 1)… Không có các dây thần kinh, không có trái tim, không có lòng thương hại – Bạn được chế tạo từ loại sắt thép của Đức… 2)… Hãy tiêu diệt ở nơi mình lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, hãy giết chết bất cứ một tên Nga nào, không được dừng lại nếu đứng trước bạn là một lão già hay một mụ đàn bà, một con bé hay một thằng nhóc… 3)… Chúng ta sẽ bắt toàn thế giới phải quỳ gối… Người Đức là chủ nhân ông tuyệt đối của thế giới. Bạn sẽ quyết định vận mệnh của nước Anh, nước Nga, nước Mỹ… Hãy tiêu diệt mọi sinh vật dám chống đối trên đường đi của bạn… Ngày mai toàn thế giới sẽ quỳ gối trước bạn”.

Xét cho cùng, 7 triệu 420 nghìn 379 người đã bị bọn Hitler cố tình tiêu diệt. 2 triệu 164 nghìn 313 người đã bỏ mạng khi làm việc khổ sai ở Đức. 4 triệu 100 nghìn người đã chết do những điều kiện khắc nghiệt của chế độ chiếm đóng (đói ăn, những bệnh truyền nhiễm, khiếm khuyết sự chăm sóc y tế…). Tổng cộng là 13 triệu 684 nghìn 692 người. Trong thời gian thành phố Leningrad bị phong tỏa, gần 800 nghìn người chết đói, hơn 30 nghìn người chết do pháo kích và oanh tạc. Thuộc số những tổn thất chung của thường dân còn có 451 nghìn người bị tuyển mộ đến các nước Tây Âu, Mỹ với tư cách là nhân công rẻ mạt nhưng không trở về.

Như vậy là trong số 26,6 triệu người là tổng số nạn nhân chiến tranh của Liên bang Xô Viết, có 1/3 là quân nhân (8 triệu 668,4 nghìn người) còn 2/3 – 17,9 triệu người là thường dân.

Khác với ý thức hệ quốc xã, ý thức hệ cộng sản khẳng định tình hữu ái và sự bình đẳng giữa tất cả các dân tộc và chủng tộc, bác bỏ thuyết đặc chủng dân tộc. Chính vì thế, quân đội Xô Viết không có nhiệm vụ tiêu diệt dân tộc Đức, họ chiến đấu với các binh đoàn phát xít Đức và khi tiến vào lãnh thổ Đức thì cái chết của thường dân Đức là do tên bay đạn lạc chứ không phải do binh lính Xô Viết chủ tâm gây ra. Vì tội giết hại thường dân và trẻ em, binh lính và sĩ quan Liên Xô ắt bị xét xử, bị trừng phạt nghiêm khắc, thậm chí bị xử bắn.

Cần phải thấy rằng các hành động tác chiến trên lãnh thổ Liên Xô đã kéo dài hơn 3 năm, còn trên lãnh thổ Đức – dưới 5 tháng. Nhìn chung, trong suốt cuộc Thế chiến thứ II (từ tháng 1/1939 đến ngày 9/5/1945) các lực lượng vũ trang Đức (theo số liệu chưa đầy đủ) bị thiệt hại 13 triệu 448 nghìn người, trong số đó, như ở phần trên đã nói, 11,9 triệu trên mặt trận Xô – Đức. Đó là 75,1% số quân được động viên trong những năm chiến tranh và 46% toàn bộ nam cư dân của nước Đức, kể cả nước Áo. Đó là “cái giá của thất bại”. Thế còn nỗi ô nhục, sự xấu hổ và sự hạ mình bẽ bàng của dân tộc Đức trước toàn nhân loại? Đó là những điều cần phải nói ra, nhưng chúng ta vẫn im lặng. Chúng ta quở trách mình như những người cao thượng. Thật là uổng công!

Có người sẽ hỏi tôi: “Thế “cái giá của chiến thắng” phải là như thế nào?”. Không một người chín chắn nào dám bình luận về vấn đề này. Tôi sẽ nói thế này: Chuyện gì xảy ra thì đã xảy ra rồi. Cái chính là những người bình thường (tôi là một trong số đó) suy nghĩ như thế nào? Chúng ta đã chiến thắng. Và chiến thắng này không thể gọi khác hơn là chiến thắng vĩ đại. Bởi lẽ vấn đề là ở chỗ cái chế độ Xô Viết có tồn tại hay không tồn tại, cái chế độ mà những kẻ thù trong giặc ngoài không muốn nó đơm hoa kết trái. Ở đây còn có một điều quan trọng hơn: có tồn tại hay không tồn tại dân tộc Nga, nước Nga theo đúng nghĩa của nó, cùng với tất cả các dân tộc khác của nó mà theo định nghĩa của Hitler và của những nhà tuyên xướng ý thức hệ của hắn, được coi là “thứ rác rưởi của nhân loại” và vị trí của họ là ở trong các xe giết người bằng hơi độc và trong các lò thiêu người.

Về phương diện này, bàn luận về “cái giá của chiến thắng” trước vong linh của những người đã hiến dâng cả cuộc sống của mình cho nó là vô đạo đức và có tội. Chiến thắng vĩ đại trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại là vô giá.

Trên tấm bản đồ thế giới không còn đại cường quốc Liên bang Xô Viết nữa, nhưng vẫn còn nước Nga, vẫn còn sự hiện diện của chúng ta, “những đứa con của chiến tranh”, vẫn còn những thế hệ mới, và như thế là nước Nga và dân tộc Nga vẫn có tương lai.

Nỗi đau buồn về những người đã hiến dâng đời mình cho quyền của chúng ta được sống trên trái đất này, được sinh nở và nuôi dạy con cháu, được tôn vinh vai trò của nước Nga trong cái thế giới mang tính chất xâm kích hiện nay đã bước sang thế kỷ XXI không thể che lấp được niềm tự hào chính đáng của chúng ta về những người anh hùng đã ngã xuống vì Tổ quốc chúng ta, vì Chiến thắng vĩ đại. Còn đối với “những kẻ bại trận, nói như cố Thủ tướng Đức O. Bishmark, chúng ta chỉ dành cho những giọt nước mắt để có cái mà than khóc”. 

(Theo Literaturnaya gazeta)

Igor Ilinski
(Hiệu trưởng Trường Đại học Nhân văn Moskva,
Tiến sĩ Ngữ văn, Viện sĩ Viện Hàn lâm Quân sự Nga)
Lê Sơn (giới thiệu và dịch)

Ý Kiến bạn đọc