Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

KN 60 Năm Ngày Mất (2.12.1956 – 2.12.2016) – Dương Tử Giang dấn thân vì sự nghiệp báo chí – văn nghệ cách mạng

Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, tuổi Dần, sinh năm 1914 tại làng Nhơn Thạnh, tỉnh Bến Tre. Ông học trung học tại Collège de Mytho; cuối năm 4è année (tương đương lớp 9 hiện nay) của năm học 1933-1934, ông đậu cả ba bằng cấp của chương trình Pháp (Brevet Élémentaire và BEPC) lẫn Pháp – Việt (bằng Thành chung). Vì hoàn cảnh gia đình không cho phép học tiếp, ông ra đời mưu sinh. Ông trải qua nhiều nghề tại tỉnh lỵ Mỹ Tho (bán tạp hóa, chủ tiệm hớt tóc, thầu cung cấp gạo cho cơ quan Nhà nước, lập gánh hát) trước khi dạy kèm trẻ em rồi dạy học trường công ở tỉnh Gia Định. Kế tiếp, ông thi vào ngành quan thuế, làm việc ở Sài Gòn, rồi chuyển xuống Hà Tiên năm 1944. Tại đây, ông kết giao với ông bà Đông Hồ – Mộnga Tuyết. Năm sau, vì chuyện riêng, ông bỏ sở, về quê ở Bến Tre, sau đó trở lên Sài Gòn.

Từ lúc làm công chức và khi lên Sài Gòn năm 1945, ông viết văn, viết báo, với những bút hiệu Trúc Giang, Trước Giang Tử, Dương Tử Giang, sáng tác các tác phẩm “Bịnh học” (1937), “Con gà và con cáo” (1939) nhưng không xuất bản; ông xuất bản ở Sài Gòn cuốn “Duyên hay nợ”. Ông cũng viết bài gửi nhiều báo đăng ở Sài Gòn, trong đó có tờ Thanh niên giai đoạn 1943-1944 lúc ông Huỳnh Tấn Phát làm chủ nhiệm báo này. Theo nhà văn Hoàng Tấn, ông còn viết cho Thanh Niên mới và Ngày mai, hai cơ quan ngôn luận công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Duong-Tu-Giang

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công chưa đầy một tháng, quân Pháp đánh chiếm lại Sài Gòn. Tháng 9-1945, ông trở về quê; tháng 2-1946, cơn lốc của thời cuộc cuốn ông lên Sài Gòn.

Được sự giới thiệu của nhà văn Thiếu Sơn, ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp ở Việt Nam (SFIO). Trước hết ông công tác với báo Nam Kỳ, Việt bút, Justice (Công lý) của Phong trào báo chí thống nhứt. Ngoài bút hiệu Trước Giang Tử ký dưới một số bài thơ và bút hiệu Thương Quân, hai bút hiệu khá nổi tiếng của ông là Dương Tử Giang và Nhiêu Ân. Tháng 11-1946, Văn hóa tuần báo của ông ra đời (sau đổi thành Văn hóa ngọ báo), hòa nhập vào Phong trào báo chí thống nhứt. Sau Tết Đinh Hợi (1947), ông viết một bài báo đả động tới quân đội viễn chinh Pháp đăng trên báo Văn hóa (Bài báo viết rằng nước Pháp có truyền thống tôn trọng tự do từ cuộc cách mạng tư sản 1789, nhưng lính Pháp giết hại, áp bức, cướp của người dân Việt Nam), báo bị đình bản, ông bị bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn, bị tòa án binh thẩm vấn rồi giao cho tòa án xử tội. Ông bị giam trên 9 tháng, mãi đến ngày 16-10-1947 mới được trả tự do để bị xử phạt vạ.

Lúc bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn, ông tham gia viết hai tờ báo bí mật trong tù, Tiếng tù và Đêm Khám Lớn.

Do ông viết mạnh, những báo do ông chủ biên đều bị rút giấy phép xuất bản. Tờ nầy bị đóng cửa, ông chạy vạy ra tờ khác. Những tờ báo ông cộng tác hoặc chủ biên sau tờ Văn hóa là: Nay… mai, Tiếng chuông, Ánh sáng, Em, Phụ nữ, Thần chung, Việt báo, Điện báo, Nguồn sống, Thế giới, Thứ Năm, Tìm học. Ông cùng với Thẩm Thệ Hà chủ biên tập san Thi văn hiện đại I và II (1949).

Ông còn viết truyện ngắn, truyện dài. Từ năm 1946-1950, các tác phẩm sau đây của ông được xuất bản: “Thế giới vị lai” (1946, truyện dịch), “Một vũ trụ sụp đổ” (1949, truyện ngắn), “Tranh đấu” (1949, truyện dài), “Cô Sáu tào thưng” (1950, truyện thơ bình dân, có thêm phần thơ trào phúng). Năm 1949, ông sáng tác vở kịch trào lộng “Chuồng báo” đăng trên báo Em, gây chấn động trong làng báo bấy giờ; vở kịch đả động đến lễ Vạn Thọ của Bảo Đại nên bị rút giấy phép xuất bản.

Vừa viết báo công khai, ông còn viết báo bí mật ở Sài Gòn với nhiều bút danh khác. Ông Mai Văn Bộ kể rằng ông viết cho tờ Tổ quốc trên hết của Thành hội Liên Việt Sài Gòn – Chợ Lớn; bài “Vè Bảo Đại” của ông đăng lên, số báo này sau đó được in lại khổ nhỏ để phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Nhà văn Hoàng Tấn tiết lộ rằng ông có viết cho các tờ báo bí mật khác như: Chống xâm lăng, Cảm tử, Kèn gọi lính. Theo ông Huỳnh Văn Tiểng, ông còn viết thật đầy đủ các sự kiện xảy ra ở Sài Gòn và cung cấp nhiều tư liệu hoặc gửi ra báo chí ở khu, ra đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ.

Cuối năm 1949 và đầu năm 1950, Sài Gòn sôi sục với những cuộc biểu tình, bãi công, bãi thị, bãi khóa. Ngày 9-1-1950, cuộc biểu tình của học sinh trước dinh Thủ hiến Trần Văn Hữu bị đàn áp bằng vòi rồng, dùi cui, súng đạn. Học sinh Trần Văn Ơn hy sinh sau khi bị thương nặng; tờ Thế giới do ông chủ biên đăng nhiều tin về cuộc biểu tình nầy và một số bài tiến bộ khác nên bị tịch thu.

Ngày 19-3-1950, nổ ra cuộc biểu tình – tuần hành của đồng bào các giới ở Sài Gòn, chống thực dân Pháp và phản đối can thiệp của Mỹ. Tuần báo Thứ năm của ông đăng bài về vụ này nên bị tịch thu.

Rồi đến vụ chánh quyền Trần Văn Hữu cho bắn chết ký giả Nam Quốc Cang và chủ báo Đinh Xuân Tiếu ngày 6-5-1950; trong đám tang Nam Quốc Cang, Dương Tử Giang đọc bài thơ do ông sáng tác, vừa truy điệu bạn, vừa đả kích chế độ đàn áp báo chí. Sau lễ tang, ông bị lùng bắt. Trong khi chuẩn bị ra chiến khu, ông lại tung ra số báo Văn hóa đặc biệt, đăng toàn bộ bài vở, tin tức của kháng chiến, bóc trần tội ác xâm lược của thực dân và vai trò tay sai của chế độ Sài Gòn, địch truy nã ông ráo riết, nhưng ông đã vào Khu 9 an toàn.

*

Ông gặp lại những người quen cũ: Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Thiếu Sơn, Nguyễn Văn Nguyễn… Ông công tác ở Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ, sáng tác những vở kịch: “Le Page Hí Charton”, “Bảo Đại, vua hộp diêm”. Ngoài ra, ông còn viết cho báo Cứu quốc miền Nam. Các ông Thiếu Sơn, Triệu Công Minh cùng ông làm báo trá hình để măng-sết một bài báo công khai ở Sài Gòn, nhưng bài vở là của kháng chiến.

Sau đó, ông được điều động về Ban Văn nghệ của Sở Thông tin Nam bộ. Theo chủ trương của trên, ông lập gánh hát bội Bến Bào, theo đoàn lưu diễn các vở do ông sáng tác như: “Tam Tạng thỉnh kinh”, “Trương Phi thủ cổ thành”, “Quan Công phò nhị tẩu”, “Nguyễn Trung Trực quy thần”, những vở nầy rất được hâm mộ.

*

Sau Hiệp định Genève 1954, ông được bố trí về Sài Gòn. Ông ngụ tại nhà của mẹ, lại viết báo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí tiến bộ viết bài ủng hộ Hiệp định Genève, yêu cầu chánh quyền Diệm thực hiện việc hiệp thương, tiến tới Tổng tuyển cử thống nhất hòa bình hai miền Nam – Bắc. Phong trào Bảo vệ Hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn bị đàn áp, báo chí tiến bộ bị khủng bố. Tờ Bình dân của ông chết không bao lâu, ông lần lượt chủ biên các tờ Điện báo, Thứ Năm, Duy tân. Ông dùng thêm nhiều bút hiệu, trong đó có bút hiệu Nguyễn Thị Việt Nam, mượn tên của một người em gái bạn dì. Trên báo Duy tân, ông hướng dẫn, nâng đỡ những mầm non văn nghệ – trong đó có Đinh Bằng Phi (sau là Nghệ sĩ nhân dân ngành hát bội).

Ông sản xuất cuốn truyện khổ nhỏ “Thằng bé Nam” dành cho thiếu nhi, nói lên tánh chất độc hại của sách võ hiệp Tàu đối với trẻ em.

Đêm 8-10-1955, đang sửa chữa bản in cho tờ Duy tân ở tòa soạn, ông bị địch bắt đưa về bót Catinat; hai tháng sau, nhà văn Lý Văn Sâm cũng bị bắt đưa về đây. Rồi lần lượt kẻ trước người sau, hai ông bị đưa lên nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa). Tại đây, hai ông liên hệ với tổ chức Đảng trong tù, được phân công phụ trách công tác tuyên truyền của chi ủy, theo dõi, nghiên cứu báo chí công khai, tổng hợp tình hình để phân tích, giúp chi ủy lãnh đạo phong trào đấu tranh trong tù.

Chạng vạng tối 2-12-1956, trong lúc vượt ngục Tân Hiệp do Đảng ủy nơi đây lãnh đạo, ông và một số anh em khác bị địch bắn gục, trong khi trên 460 tù nhân trở về với tự do. Cũng như những người vượt ngục bị thương nhưng còn sống khác, ông bị địch dùng báng súng đập vỡ sọ. Hai mươi hai cái xác của nạn nhân bị gom đem chôn chung một hố. Rất tiếc, qua biến thiên của thời gian, đến nay không còn dấu vết gì của ngôi mộ tập thể này.

*

Bên kia quốc lộ 1, đã trên 50 năm sau, chẳng biết tự bao giờ một ngôi miếu nhỏ mọc lên từ tấm lòng sùng kính của đồng bào trong vùng nhà lao Tân Hiệp, thỉnh thoảng vẫn quyện khói hương. Thành phố Hồ Chí Minh lấy tên ông đặt cho một con đường ở quận 5; tỉnh Đồng Nai cũng chọn tên ông để đặt cho một con đường ở phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa. Năm 1955, ông được Hội Nhà báo Việt Nam truy tặng Huy chương Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam.

Đặc biệt, nhằm giáo dục những thế hệ cầm bút mãi mãi tiến lên theo lý tưởng và ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà ông đã xem là lẽ sống và dấn thân đi theo cho đến lúc hy sinh, tỉnh Đồng Nai đã lấy tên ông đặt tên cho giải báo chí của tỉnh.

Nhà văn, nhà báo nghệ sĩ Dương Tử Giang đã ra đi mãi mãi, một cách đẹp đẽ, với cả một sự nghiệp dầu còn dang dở nhưng hết sức rực rỡ, quang vinh, như ông từng viết:

“Một thuở ra đi vì nghĩa lớn
Ngàn năm trẻ mãi với quê hương”

(11-2016)

——————————

Nguồn: Trương Võ Anh Giang, “Dương Tử Giang – Cuộc đời và sự nghiệp”, Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Đồng Nai và NXB Tổng hợp tỉnh Đồng Nai, 12-1998; Hoàng Tấn, “Người xưa mình nhớ”, NXB Đồng Nai.

Trương Võ Anh Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 433

Ý Kiến bạn đọc