Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Kiểm dịch Trần Đình Sử

LTS: Chúng tôi chấm dứt loạt bài “Kiểm dịch Trần Đình Sử” từ hơn tháng trước. Nhưng nay vì có sự kiện “Trên đường biên của lý luận văn học” của Trần Đình Sử (bị loại trong đợt xét giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam) vừa được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng Văn học năm 2015 nên buộc lòng chúng tôi phải đăng tiếp bài “Kiểm dịch Trần Đình Sử” (kỳ cuối) của nhà văn Chu Giang và nhiều bài có cùng chủ đề ở các số báo sau.

Người ta đề cao giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là “mới mẻ trong tư duy và nghệ thuật”. Xem ra đúng là “mới mẻ“ thật, “mới mẻ” nhất quán từ đầu đến cuối: trước đó Hội Nhà văn Hà Nội đã trao giải thưởng cho các tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp – “Giăng lưới bắt chim“, Trần Dần – “Trần Dần – Thơ” (Giải thưởng trọn đời), Nguyên Ngọc – “Tiểu luận“…

Mời các bạn đón đọc những bài mang chủ đề trên ở các số báo sau.


Có bạn đọc chỉ nghị chúng tôi sao dám Kiểm dịch Giáo sư, đem cái thao tác của nhân viên thú y vào nơi Cửa Khổng Sân Trình, Giảng đường Đại học, hỗn hào vô lễ như thế.

Xin thưa, thuật ngữ, thao tác phê bình kiểm dịch là chúng tôi mượn của chính Giáo sư, đã có lời thưa xin dùng lại chu đáo, không dám tùy tiện. Thuật ngữ này giáo sư mượn của nhà Đại triết học đại văn hào, nhà khai sáng Pháp vĩ đại, cụ Voltaire hồi thế kỷ XVIII. Ngược lên, Giáo sư nói Cụ Khổng Tử mới là nhà phê bình kiểm dịch đầu tiên của nhân loại. Trở lại, Giáo sư bảo phê bình văn học ở ta (thời trước đổi mới) cũng làm nhiệm vụ của phê bình kiểm dịch. Sự thể như thế nào, xin quý bạn đọc xem hai bài Kiểm dịch Trần Đình Sử, đã in trên Văn nghệ TP.HCM, hồi năm 2013, in lại trong sách Luận chiến văn chương, Quyển Ba, Nxb. Văn học. H. 2015 từ trang 57 đến 81).

Và tiếp đó, hai bài Kiểm dịch Trần Đình Sử trên VN TP.HCM số 363-364 các ngày 23 và 30-7-2015 vừa rồi, nhân cái Luận án Tiến sĩ về trò chơi văn học… mà Giáo sư là người Hướng dẫn khoa học.

Vì là mượn lại của Giáo sư, khi vận dụng, trong thao tác không thể thành thục ngay được. Lại cũng vì người xứ chúng tôi hay hài hước, quen giọng. Nên có điều gì không nên không phải, mong được Giáo sư và quý bạn đọc khoan thứ cho. Chúng tôi sẽ sửa chữa ngay trong bài viết này.

Một công trình mới nhất, có tính chất tuyên ngôn tổng kết, nhìn nhận lại, tự vượt lên… của một nhà khoa học là rất quan trọng. Nó có ý nghĩa đại diện cho cả quá trình. Suy nghĩ như thế, chúng tôi thấy, qua công trình Trên đường biên của lý luận văn học của Giáo sư vừa xuất bản, Nxb. Văn học 2014 – có thể hiểu được những đường nét căn bản, những tư tưởng chính yếu của Giáo sư. Và cũng được gợi ý quí báu của Giáo sư rằng thành tựu lớn nhất của lý luận văn học thời gian 30 năm qua là phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng và làm cho nó mất thiêng… (Sđd., trg. 265). Vậy thì ta chẳng phải đọc những trước tác của Giáo sư trước khi được ban tặng điều kỳ diệu, mà hãy xem từ khi bước lên đường biên làm lý luận, Giáo sư đã làm được những gì. Nếu có điều kiện đọc lại Giáo sư trước phút giây kỳ diệu cũng chỉ để xem Giáo sư có thuộc vào số giáo điều xơ cứng hay không. Kỳ trước vì chỉ kiểm dịch sơ qua, có chỗ chưa thấu đáo, chưa rõ nghĩa, khiến quý bạn đọc không đồng tình, có lời chỉ nghị. Nay xin nói rõ.

Công trình Trên đường biên của lý luận văn học dày 462 trang, in khổ 14 x 20,5 cm, có Ba phần gồm 25 mục hầu như là bức tranh toàn cảnh, toát yếu của lý luận văn học và thi pháp học ở Việt Nam đã qua và hướng đi tới trong hiện tại và tương lai: Mấy vấn đề lý luận Marxitst và lý thuyết hiện đại; Mấy vấn đề thực tiễn lý luận phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam; Mấy vấn đề thi pháp học.

Đây là công trình cần tham khảo đối với giới nghiên cứu lý luận phê bình và giảng dạy văn học. Nếu chưa có điều kiện “… ngước mắt lên hàng chục công trình của Giáo sư…” (như một bạn đọc nhắc nhở) thì qua một công trình này cũng nắm được những điều cơ bản.

Học thuật thật vô cùng. Sự đọc tham khảo cũng vô cùng. Cuối cùng, phải xem cách vận dụng, xem ở hành động, việc làm cụ thể. Chúng tôi căn cứ vào lẽ ấy mà kiểm dịch. Ấy là phương pháp học thuật, là cách vận dụng của Giáo sư vào thực tiễn văn học Việt Nam hôm nay. Như chúng tôi đã nói, sự vận dụng “hiệu ứng ngoại biên” (edge effect) mà nhà thực vật học Đức Wiliam J. Beechar năm 1942 dùng làm căn cứ cho khái niệm văn hóa ngoại biên (marginal culture). Rồi đến Bakhtin quan niệm bản chất văn hóa nằm ở ngoại biên, là sai. Và đến Giáo sư Trần Đình Sử vận dụng, mọi sự phát triển của lý luận văn học là ở trên đường biên… cũng là sai, là chỉ nói theo Bakhtin.

Nếu theo Bakhtin, “lĩnh vực văn hóa không có nội địa… mỗi hành động văn hóa đều chỉ tỏ ra có sức sống đầy đủ ở trên đường biên… bởi vì ở đây hành động văn hóa mới tỏ rõ tính nghiêm túc và tính quan trọng, xa rời đường biên thì nó đánh mất vùng đất sinh tồn của mình, sẽ biến thành sự kiêu kỳ, trống rỗng, bị thoái hóa và đi đến tiêu vong”. Thì Giáo sư Trần nhấn thêm lên: “Điều này có nghĩa là một nền văn hóa sống động thì nó phải sống trên đường biên” (Trên đường biên của lý luận văn học, Sđd., tr.314).

Hành động văn hóa trước hết là của con người cụ thể, của chủ thể sáng tạo văn hóa. Nhà hoạt động văn hóa bao giờ cũng có lý tưởng thẩm mỹ của mình, có tư tưởng về con người và xã hội. Hành động văn hóa của con người có thể diễn ra bất kỳ ở đâu. Sự nghiêm túc, quan trọng của hành động văn hóa là do chủ thể sáng tạo chi phối. Có gì là khó hiểu. Còn quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng về con người và xã hội của người thực hiện hành động văn hóa (chủ thể sáng tạo, nghệ sĩ) thì nó cũng rộng rãi lắm. Tùy họ lựa chọn.

Nói vận dụng quy luật sinh học ở đây là không phù hợp. Ngoại biên sinh học có chỗ phát triển sôi động cũng có chỗ không. Còn tùy vào loài và khả năng thích ứng của nó. Cây chò ngàn năm, nhóm tứ thiết (đinh – lim – sến – táu) chỉ có nơi rừng sâu núi thẳm…

Đương nhiên là có sự tương dung, có sự giống nhau trong quy luật sinh tồn của các loài, các lĩnh vực… Con người vận dụng sao cho phù hợp mà thôi. Nếu tất cả đều dùng cho nhau được thì lại không còn quy luật riêng nữa.

Trong văn hóa, chúng tôi nghĩ, nó có các tư tưởng, các trường phái, các quan niệm khác nhau. Và, mỗi nền văn hóa, cộng đồng văn hóa, thời kỳ thời đại văn hóa, vùng miền văn hóa… nó có trung tâm của nó. Đó là những giá trị mà nó kết tập được ảnh hưởng mạnh mẽ đến “hành động văn hóa” trong phạm vi của nền văn hóa đó và rộng hơn nữa. Có những giá trị có sức sống lâu dài và ngược lại. Quản Trọng (trước Khổng Tử hai trăm năm) nói “Bách niên chi kế mạc nhược chủng nhân” (kế trăm năm không gì bằng trồng người) ngày nay có còn giá trị không và hành động văn hóa của ông diễn ra ở đường biên nào? “… Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân…” (Nguyễn Trãi) là ở đường biên nào?

Giáo sư Trần cho rằng: Về mặt văn hóa khái niệm ngoại biên, lề chỉ bộ phận cộng sinh cùng văn hóa chính thống… (Sđd., tr.313). Rằng văn hóa, văn học, nghệ thuật với tư cách là sự sống của con người, xã hội cũng tồn tại theo cơ chế đó (hiệu ứng ngoại biên sinh học). Toàn bộ văn hóa văn học… đều tồn tại trên đường biên, trên ranh giới (Sđd., tr.313). Từ cộng sinh có nghĩa rộng lắm đây! Có thứ phải cộng vào có thứ lại không thể cộng vào… Nếu toàn bộ đều tồn tại trên đường biên thì lại không còn đường biên không còn ranh giới không còn chính thống cộng sinh… Ôi giáo sư nhiều phải quá, đâu chỉ có ba! Trung tâm và ngoại biên đổi chỗ cho nhau. Đây mới là tư tưởng chính, tư tưởng trung tâm của Giáo sư.

Giáo sư Trần noi theo phương pháp tư duy của Bakhtin: Bakhtin xuất phát từ ranh giới, biên giới, đường biên mà tư duy về tồn tại (Sđd., tr.316). Mệnh đề triết học này cũng cần đối thoại, nhưng để lúc khác. Bài viết có hạn.

Theo đó, Giáo sư cũng nhận là có trung tâm trong văn học – nghệ thuật. Nhưng trung tâm đó chỉ là thứ sinh thứ phát, nó do ngoại biên (nguyên sinh, nguyên phát) hình thành, rồi trong quá trình vận động, nó đổi chỗ cho nhau: Văn học cách mạng Việt Nam trước 1945 chỉ là ngoại biên, sau Cách mạng tháng Tám liền trở thành chủ lưu, trung tâm. Trung tâm ngoại biên luôn đổi chỗ cho nhau trong thực tế (Sđd., tr.314). Cái chữ liền chứng tỏ sức tư duy của Giáo sư còn nhanh mạnh lắm. Ai dám bảo thất thập thì…

Thế thì nó rõ quá rồi, Giáo sư dẫn giải diễn giải Bakhtin cho nó có chỗ dựa, tựa Thầy Ba hướng đến ngoại biên như là “tựa sơn hướng thủy”. Có luận cứ cũng rất cần nhưng mà đừng dài dòng quá: Giáo sư cứ nói ngay là văn học – nghệ thuật trung tâm, truyền thống, cách mạng… nay đã xơ cứng đông cứng rồi, nên chuyển chỗ cho văn học ngoại biên… Nói thẳng nói thật ra thì có sao đâu. Mình là nhà khoa học nhà văn hóa thực hiện hành động văn hóa… là phải lẽ, vòng vo làm gì.

Chúng tôi tư duy khác với Bakhtin, khác với Giáo sư: Văn hóa nào văn học nghệ thuật nào, tư tưởng nào có tính nhân văn, giầu tính nhân văn, tức là tư tưởng hướng tới con người, thương yêu con người, đấu tranh giải phóng cho con người… khuyến thiện trừng ác phò chính trừ tà… thì chúng tôi noi theo, không phân biệt trung tâm hay ngoại biên, xa hay gần, cổ hay kim.

Chúng tôi tư duy về tồn tại trên chính tồn tại, trên thực tiễn đời sống, trên những quan hệ xã hội và con người đang diễn ra, từ mái nhà tôi đến ngôi nhà chung của nhân loại. Cái gì còn tiến bộ, phù hợp, cần thiết thì cần tiếp tục. Cái gì xơ cứng, lạc hậu, không phù hợp thì loại trừ. Chúng tôi quan niệm đổi mới như thế. Những tiêu chí đó, thiết nghĩ, không có đường biên nào cả. Cho nên cái đường biên văn học như Giáo sư ví von, lý thuyết văn học như một không gian, mà đường ranh giới của nó tiếp giáp với các không gian lý thuyết khác, thì mọi đổi thay lý thuyết đều diễn ra nơi đường ranh giới này… (Bìa 4. Sđd.). Hấp dẫn quá. Những chùm lý luận bóng bay “như đôi con diều sáo lộn nhào tầng không”… vào một chiều thu đẹp. Ôi ngoại biên, nàng ơi… Nhưng mà làm lý luận thay đổi lý thuyết trên đường biên của những không gian văn học, không gian lý thuyết văn học như thế… nó dễ lửng lơ lắm. Như người làm xiếc trên giây. Phải giữ được thăng bằng. Nếu không, sẽ nghiêng bên này nghiêng bên kia mà “rơi vào không gian đó”. Bên nào hấp dẫn hơn thì… “Tư duy đường biên” của Giáo sư ở đây thật là sáng rõ:

- Giáo sư cho rằng đời sống văn học, lý luận lý thuyết chỉ có trên đường biên. Rằng theo thầy Ba thì văn hóa không có trung tâm không có nội địa… đồng thời lại nói trung tâm do ngoại biên mà thành, như dân ca Trung Hoa cổ đại đến Khổng Tử thì thành Kinh Thi. Thơ Tố Hữu thì thơ tình là ngoại biên, thơ chính trị tuyên truyền là Trung tâm. Văn học trước 1945 là ngoại biên, sau Cách mạng tháng Tám liền thành trung tâm… Trung tâm ngoại biên đổi chỗ cho nhau. Thế là cả hai lúc có lúc không. Không không lại có. Tùy duyên mà có hay không, Trung tâm hay ngoại biên… Đó là kiểu tư duy nước đôi, chân trong chân ngoài mà chỉ có đứng ở đường biên mới có được. Cho nên “con người giai cấp con người chính trị…” của Giáo sư hồi 1987 (một thời đại văn học mới) đã biến khỏi Trung tâm chạy ra đường biên rồi!

- Giáo sư rất hoan hỉ rằng một thời đại lý luận do nhà nước hoàn toàn bao cấp đã đi qua và thời đại lý luận văn học của những người làm lý luận văn học, nghiên cứu văn học về học thuật đã đến (Sđd., tr.268), rằng lý luận văn học phải do những nhà chuyên môn tìm tòi nghiên cứu. Cần đào tạo và tôn trọng các chuyên gia (Sđd., tr.284), Giáo sư tỏ ý phê phán hình thái lý luận văn học nhà nước (Sđd., tr.274) rằng “Thành tựu lý luận văn học lớn nhất trong thời gian 30 năm qua là phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng, và làm cho chúng mất thiêng… Đó là một điều kỳ diệu do thời đại ban tặng (Sđd., tr.265). Chỗ này rất giống Nguyễn Huy Thiệp “khoan cắt bê tông giải phóng mặt bằng”! Lại nói: có lẽ nhà nước cần có một chương trình riêng, dự án riêng để phát triển lý luận. Có kế hoạch có kinh phí để mời các chuyên gia lý luận hàng đầu của nước ngoài sang Việt Nam giảng bài và trao đổi ý kiến, tổ chức hội thảo lý luận quốc tế tại Việt Nam (Sđd., tr.119)… Cho đến hôm nay có lẽ lý luận văn học là ngành chưa hề được Nhà nước đầu tư bao giờ, chưa có một hội thảo quốc tế lớn… (Sđd., tr.119).

Thế thì Giáo sư làm khó cho nhà nước quá. Mà Giáo sư khôn thật. Đằng nào cũng nắm cái. Nhà nước chủ chi, Giáo sư chủ trì. Rủ rỉ là con dù dì, chủ chi khoản gì chủ trì… Ôkê. Ấy, cái “tư duy đường biên” nó tiện lợi thế đấy.

- Giáo sư tự nhận: Rõ ràng thời thế đã xui nên thi pháp học chọn tôi, chứ không phải là tôi chọn thi pháp học (Sđd., tr.405). Lại nói “Trong quá trình học tập ở Liên Xô tôi đã chọn cho mình hướng thi pháp học… tôi tìm đọc sách của các nhà thi pháp học Nga… (Sđd., tr.411) chỉ trong một trang (412) đã có 6 lần cái “tôi”. Rồi “Chúng tôi đã rút ra (từ Bakhtin) và phổ quát hóa mô hình đó để có thể vận dụng vào thế giới nghệ thuật thuộc các thể loại văn học khác… Mô hình của chúng tôi bao gồm: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian nghệ thuật, hình tượng tác giả, tình tiết, kết cấu, trần thuật, ngôn ngữ thể hiện… Và rất tự khẳng định bản quyền: Một mô hình như thế không hề có sẵn trong sách nào ở Liên Xô, ngay cả trong sách thi pháp của Bakhtin. Đó là mô hình được đúc kết nhằm phản ánh chỉnh thể nội tại của các thế giới nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo ra mà người ta chỉ có thể khám phá từ bên trong văn bản… (Sđd., tr.378-379). Nhưng ngược lên, chính Giáo sư đã nhận: Trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Bakhtin xây dựng mô hình lý thuyết thi pháp của ông bắt đầu từ quan niệm nhân vật như một ý thức độc lập làm nền tảng cho cấu trúc phức điệu; tiếp đến xem xét thế giới của nhân vật với không gian, thời gian… đặc trưng cốt truyện, thể loại, đặc điểm ngôn ngữ… (Sđd., tr.378). Giáo sư cũng thừa nhận: Tôi tiếp thu ở Bakhtin các gợi ý về con người, không gian thời gian trong tiểu thuyết Dostoievski, cách phân tích của Likhachev về con người, không gian, thời gian nghệ thuật trong văn học Nga cổ… (Sđd., tr.413).

Ơn giời, may mà có thầy Ba thầy Lik…

Thế là, cái khung mô hình thi pháp học đã di chuyển từ Bakhtin sang Trần Đình Sử. “Thồ” được bộ khung như thế, cũng công lênh lắm. Chỗ này đáng phải ghi nhận công lao của Giáo sư.

Cuối cùng tôi thấy không ai nói lý thuyết hay như Giáo sư: Đối với người Việt Nam, cái quan trọng hiện nay là tinh thần phê phán để chống lại sự bắt chước giản đơn. Đó là hành trang để phát triển văn hóa dân tộc và tham gia vào đời sống của thế giới của thời kỳ toàn cầu hóa (Sđd., tr.256).

Nhưng không ai bắt chước tài bằng Giáo sư qua mô hình thi pháp học mà ý tưởng chất liệu mẫu mực là của Bakhtin và Likhachev. Ngoại biên hóa là bắt chước Bakhtin như giọt trước giọt sau!

Và cũng không ai nói liều như Giáo sư: “Chủ nghĩa Mác đã có từ lâu nhưng do nhu cầu khẳng định vai trò lãnh đạo độc tôn, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, nó mới được quy định thành hệ tư tưởng chính thống bắt đầu từ đề xuất trong Đề cương văn hóa 1943 (Sđd., tr.330). Giáo sư có biết tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927 là của ai không? Giáo sư cho rằng “Nghiên cứu sâu sẽ thấy cấu trúc văn học tuyên truyền chính trị trong thơ Tố Hữu, nơi tác giả chỉ quan tâm cái chung bỏ qua cái cá thể, hình tượng nhân vật vẽ theo bút pháp tranh cổ động tuyên truyền (Sđd., 397). Hồi ấy (1987) mà Giáo sư nghiên cứu sâu được thế này hẳn đã không có cái “Thi pháp thơ Tố Hữu”! Rồi hình tượng Lênin trong trường ca V.I.Lênin của Maiakovski được viết theo mẫu hình truyện các thánh (Sđd., 397). Và chỗ này mới rõ cái tư duy đường biên, nước đôi: Phê bình văn học cũng không hoàn toàn là một công việc khoa học, nó là diễn ngôn, chịu sự chi phối của tri thức, quyền lực và nhiều quy tắc ngầm của xã hội. Tính khoa học của nó chỉ là nói có sách mách có chứng, không nói không, nói bậy, và chỉ như thế nó mới có thể có giá trị (Sđd., tr.288) rằng “Phê bình văn học không phải là văn học, bởi văn học cho phép được tưởng tượng hư cấu để sáng tạo ra hình tượng… (Sđd., tr.287). Không phải khoa học không phải văn học thì nó là con lai lưỡng thê rồi!

Hoặc “Sau Cách mạng tháng Tám, qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và các cuộc cải tạo tư tưởng theo ý thức hệ vô sản chúng ta đã quét sạch các giá trị văn hóa truyền thống… “ (Sđd., tr.326); Từ ngàn xưa nhân dân ta rất nghèo nhưng đã tự góp công của để xây đền chùa tưởng nhớ các vị anh hùng cho nên nhìn chung quy mô đều rất bé nhỏ, và vì bé nhỏ, ít gây chú ý mà được bảo tồn lâu đời” (Sđd., tr.332).

Gọi là viết liều nói liều cho nó nôm na ngắn gọn. Thực ra là Giáo sư chưa tư duy thấu đáo. Nếu chịu sự chi phối của quyền lực và các quy tắc ngầm… thì làm sao nói có sách mách có chứng được? Nếu đã quét sạch các giá trị văn hóa truyền thống thì lấy gì mà viết Thi pháp văn học Trung đại, Thi pháp Truyện Kiều… Còn quy mô đền chùa? Chứng tỏ giáo sư còn rất hời hợt chưa hiểu được triết lý của người Việt truyền thống. Nếu Giáo sư một lần đến Đền Đô, chùa Trăm Gian, chùa Keo, đền Nhà Lê, đền Lê Hoàn, chùa Côn Sơn, đền Kiếp Bạc rồi lên chùa Đồng (cũ) trên Yên Tử… Nếu Giáo sư đã đến rồi mà viết như thế là quá liều. Còn nếu chưa thì nên đến. Điều quý giá của kiến trúc truyền thống là tính hợp lý, hài hòa với thiên nhiên và đặc biệt tượng của các đấng được thờ phụng bao giờ cũng đặt trang trọng trong chính điện, không hoành tráng “…cùng trời đất” theo mốt của Liên Xô cũ. Dường như kiến trúc cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát xoan (Phú Thọ), Đờn ca tài tử (Nam bộ) nằm ngoài Thi pháp của Giáo sư? Câu Tiên học lễ hậu học văn có thể là chưa bao quát hết nhưng không thể nói như Giáo sư rằng đấy là “minh chứng cho sự bảo thủ lạc hậu của trí thức Việt Nam” (tr.333). Thấm được Kinh Lễ (Khổng Tử), thầy ra thầy, trò ra trò thì đâu nên nỗi…

Qua những cụ thể học thuật càng thấy rõ phong cách tư duy của Giáo sư, tuy có bề rộng bề nổi mà chưa có chiều sâu. Dẫn rất nhiều nhưng Thi pháp theo Thầy Bác, Ngoại biên theo Thầy Bác, con người chính trị thì theo thời (Một thời đại văn học mới). Mà trong sự viết nhiều chỗ còn cẩu thả nộm tạm. Đó là điều rất đáng tiếc. Bút sa mà…

Nhưng mà Giáo sư chỉ nhận là người làm lý luận tự vượt lên mình! Cho nên chúng tôi không dám kiểm dịch tiếp nữa… Phần kiểm dịch Giáo sư xin dừng lại ở đây.

Thưa Giáo sư: Đối thoại mới chỉ là một bước một hình thức, phương tiện, một trong những con đường tìm kiếm chân lý… Cuối cùng phải chờ ở thực tiễn. Đối thoại trên lý thuyết thì cũng chỉ là… lý thuyết. Phải xem cái lý thuyết đó đi vào cuộc đời người. Trân trọng Giáo sư, xin lỗi Giáo sư vì đã so sánh khập khễnh (Ấy, người xứ tôi hay hài hước, nó quen giọng). Tôi sẽ gạt bỏ các chị em chân ngắn chân dài trên chợ Đồng Xuân ra khỏi lĩnh vực đối thoại văn chương học thuật. Thêm một kinh nghiệm cho thói quen hài hước. Mong được Giáo sư thể tất. Tôi thấy Giáo sư đang say, đang phê ngoại biên hóa. Đang lên cơn ngoại biên hóa đến “đọc văn học cũng là quá trình ngoại biên hóa bởi vì người đọc không bao giờ tìm đúng ý đồ trung tâm của nhà văn” (Sđd., tr.321). Rồi “sáng tác đòi hỏi ý thức ngoại biên…” (Sđd., tr.317)… v.v… và …v.v… Với người đang say – dù là lý luận học thuật – ta cũng phải chờ cho qua cơn quá hưng phấn. Tôi kiên trì chờ đợi Giáo sư, từ chiều hôm 4-6-2013, ở Hội nghị Tam Đảo, cho đến hôm nay, tôi vẫn đợi chờ, vì không tin Giáo sư là một nhà học phiệt. Tôi biết Giáo sư có hàng vạn học trò. Chỉ cầu mong Giáo sư đổi mới tư thế từ đứng trên bục giảng đường đến đứng trước trang viết và bạn đọc. Trò thì bao giờ cũng bán tự vi sư nhất tự vi sư. Ấy là cái thông lệ, đạo lý tự ngàn xưa ở chốn học đường. Nhưng bạn đọc, công chúng văn học thì khác, có thể trao đổi, đối thoại! Được thế thì hân hạnh vô cùng. Xin cung kính!

Hà Nội, Trung thu Ất Mùi
(28-9-2015)

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 375

Ý Kiến bạn đọc