Tản văn

Kí ức Trường Sa

 

Lại mùa xuân nữa đã sang! Nghe cái rét qua từng giọt mưa phùn đang luồn sâu vào kẽ áo mới thảng thốt nhận ra Tết đang qua. Vậy là đã 29 năm, ngày mình rời Đá Lớn; chia xa với đồng đội từng cùng trải qua những gian khó hi sinh, từng chuyền nhau những lá thư từ Đất Mẹ; từng thao thức nhớ quê hương. Giờ đây, khi nghĩ đến anh em đồng đội cũ và mới đã lại đón thêm một mùa xuân trên mảnh đất tiền tiêu của Tổ quốc, tôi bất chợt nao nao như nghe tiếng vọng của một thời sóng gió…

Hơn 30 năm, thời gian đủ để một con người trưởng thành, đủ để lớn khôn, tri giác. Nhưng sao tôi vẫn không thể nào quên được Trường Sa, với những khối đá ngầm đang lớn dần dưới lằn sâu của biển. Nhớ cái Tết đầu tiên, năm 1987 tàu HQ 505 cập đảo vào đúng lúc giao thừa; nghe mọi người gọi mới bừng dậy. Đứng trên boong tàu nhìn vào đảo chỉ thấy mênh mang nước, thỉnh thoảng thấy ào ào bọt sóng trắng xóa; mới biết đấy là đảo của mình. Lương khô, thịt hộp, sữa đặc đưa ra đón giao thừa – chỉ có thế thôi, khiến cho sống mũi cay cay. Thú thực, trong đời lính mình đi đã nhiều: hết rừng, lại đến những nơi chỉ bạt ngàn cát trắng, vậy mà giờ đây trước muôn trùng sóng vỗ cứ thấy mình nhỏ nhoi cô đơn biết chừng nào. Bỗng nghe bài hát “Một đời người, một rừng cây” của nhạc sĩ Trần Long Ẩn mới sực tỉnh ra: Ai cũng chỉ chọn sung sướng, nhẹ nhàng, biết lấy ai chịu đựng gian khó? Mới gặp khó khăn, gian khổ một chút đã thấy sợ hãi, buồn tủi, đâu xứng là người lính, đâu đáng mặt làm trai…

So-585--Bam-bien---Mai-Anh-Dung---Anh-1
Bám biển – tổng hợp – Mai Anh Dũng.

Sau một tháng nằm trên chiếc LCU 556, căn nhà chòi của chúng tôi đã hoàn thành. Anh em bắt tay vào công việc chuyển nhà, lấy nước. Mọi người chuyền nhau từng can, từng xô vào đảo. Nước ngọt hiếm, nên chỉ đổ đầy được vài chiếc phuy 220 lít. Đến lúc nấu cơm, phải vo gạo bằng nước biển. Tất cả các hoạt động khác đều hết sức tiết kiệm, đánh răng, rửa mặt cũng bằng nước biển, xong mới tráng qua nước ngọt. Cái khoản tắm thì… nước ngay dưới chân nhà. Tắm xong, lau người bằng vài lít nước ngọt, đến khi khô mới thấy nhớp nháp, nằm xuống sàn nhà mà cứ thấy như lửa đốt dưới lưng…

Cũng có lắm cái thú. Thú nhất là câu cá cải thiện đời sống! Những ngày biển động không thể ra xa đảo đành sắm chiếc cần câu, nói là cần câu cho oai, thực ra chỉ là một thanh tre cật dài khoảng 50cm, nối dây câu thật dài. Dây cước loại 7 li, lưỡi câu to, ngang loại dùng câu cá quả ở quê nhà. Mồi là miếng da cá mú, rất dai, câu cả buổi không hết một miếng. Cá nơi này phàm ăn, chỉ cần thả sát hang san hô là ngay lập tức cả đàn lao ra đớp. Có hôm, nó lôi tuột vào hang; kéo mạnh mất luôn cả cá và lưỡi câu. Tiếc rẻ, quay về nhà, lấy lưỡi câu khác, tìm đúng chỗ vừa thả mồi, lát sau đã lấy lại được chiếc lưỡi đang dính vào miệng một chú cá. Câu như vậy, vài tiếng đồng hồ là được một xâu cá to dài vài mét…

Câu cá là một nghệ thuật. Tôi đã từng tổng kết như vậy khi đối mặt với lũ cá mập. Cá mập vừa khỏe, vừa khôn. Câu loại này đâu có thể dùng cước và lưỡi câu cùng với cần! Phải lựa những hũm nước sâu, cát san hô trắng, đóng hai cái cọc sắt hai bên, giăng sợi dây dù loại phi 10 nối liền hai đầu cột. Các mồi câu buộc chặt vào sợi dây dù ấy. Mỗi dây buộc khoảng 3, 4 mồi câu. Lưỡi câu làm bằng sắt phi 6, luồn sợi cáp tàu loại 10 li, lại nối nó với đoạn dây dù dài khoảng 30cm. Mồi câu là 3 cái râu bạch tuộc, chừng vài lạng, trông to như nắm tay. Khi nước bắt đầu lên, chúng tôi đem ra giăng ngoài hũm nước. Cả đêm thấp thỏm chờ mong bắt được cá mập… Nhưng sáng hôm sau ra xem thì, hỡi ôi! Tất cả lưỡi câu cũng đi theo lũ cá… Tiếc đến ngẩn người.

Lần thứ hai, rút kinh nghiệm, chúng tôi buộc chặt lưỡi câu vào dây dù, bỏ sợi cáp, nhưng kết quả cũng chẳng khả quan là bao. Lưỡi câu không mất, mà oải thẳng theo chiều dọc, tức ghê người! Mình phải hơn bọn cá chứ? Tôi bỗng nhớ chi tiết câu cá sấu trong truyện “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi; thế là áp dụng. Lần này, vẫn là những lưỡi câu từ sắt phi 6 nhưng được tôi rất kĩ bằng nước biển pha thêm chút muối, cho nó thật cứng. Phần gốc lưỡi đục một lỗ để luồn sợi cáp tàu, làm thành cái khoen, nếu cá mắc mồi, nó có giật thì không được vì dây chùng, nó xoay thì khoen sắt cũng chạy theo… Cứ như thế gần 2 năm ở đảo chúng tôi đã tóm được 15 chú cá mập, lợi ích kinh tế không nhỏ: gan rán lên lọc lấy dầu, vây cắt ra, chờ tàu từ đất liền đem đổi hoặc bán. Thân cá thì trả về cho biển cả vì thịt của nó hơi gây, đã có lần biển động không có thức ăn, tạm dùng một bữa đã thấy lợm giọng rồi…

Câu cá thu bè cũng khó, bởi đã câu được con cá thu bè là câu được loại cá rất to, có con bỏ vào bao gai đựng gạo, thứ bao có thể chứa hàng tạ. Dây câu dài khoảng 50 – 60 mét, quấn vào miếng xốp, tung ra xa hàng mấy chục mét. Tất nhiên loại dây câu ấy phải là loại cước to bằng chiếc đũa xe đạp. Lưỡi câu cũng không kém phần “hoành tráng”, nó phải được làm từ sắt phi 6, mồi cũng là vài cái râu mực. Đêm trăng sáng, cá vào ăn, đầu tiên nó nhấp, nhấp chán, không thấy động tĩnh mới kéo đánh vèo. Nếu mới chỉ thấy nó nhấp dây, đã vội giật ngay thì chỉ kéo được san hô cành mà thôi! Cứ để nó kéo một đoạn dài, mới giật nhẹ để cá mắc lưỡi, rồi mặc cho nó lôi mồi đi, thỉnh thoảng lại kéo dây gần thêm, sau lại thả ra; khi đã thấy cu cậu mệt lử mới kéo nhanh vào nhà chòi. Tóm cu cậu đưa lên nhà cũng vất vả, cá đã nặng lại giãy giụa, thi sức với nó thì chỉ có thua, phải dùng mưu! Cứ tóm chặt hai ngón tay vào hai hốc mắt của nó là cu cậu đờ người như thể bị điểm huyệt, muốn xách lên thế nào cũng được. Ăn con cá thu bè loại ấy, ngon nhất là hai mắt và cái đầu, thịt nó rắn, phải hầm thật kĩ mới biết chất lượng.

Vừa đảm nhận trọng trách giữ vững chủ quyền biển đảo, vừa lao động cải thiện bữa ăn, làm phong phú thêm cuộc đời lính đảo; chúng tôi đã vượt qua nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ đất liền da diết cháy lòng…

Đến bây giờ, mặc dù đã xa đảo thân yêu 1/4 thế kỉ, Trường Sa vẫn canh cánh bên tôi, với những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt. Bởi, Trường Sa đã là một phần không thể thiếu trong khúc nhạc đời tôi… Trường Sa ơi!

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(TP. Nam Định)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 585

Ý Kiến bạn đọc