Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Khúc Aria của một đời người (Đọc tản văn của Lê Giang)

Đôi khi ngoái lại, người đàn bà ấy giật mình nhận ra, trong phút ngẫu nhiên của số phận, cái liều lĩnh, quả quyết của mình: “Tôi chạy bổ vào làng văn, mang theo tuổi đời bốn mươi với tất cả tấm lòng hâm mộ, không chút e dè sợ hãi” (Cuộc tấn công mới bắt đầu). Ấy là Lê Giang, người đàn bà làm thơ, người đàn bà viết văn, người đàn bà làm folklore: từ ấy (1968) đến nay (2015) đã gần nửa thế kỷ, hầu như không rời cây viết.

Bất chấp tuổi tác, những tác phẩm và công trình của bà dày theo năm tháng. Cứ chừng như nguồn nhựa chất chứa từ mùa Xuân mùa Hạ được nẩy lộc vào mùa Thu và kết quả tưng bừng vào mùa Đông. Sẽ lắm bất ngờ khi quan sát đời văn của Lê Giang: những ngoại lệ, nghịch lý. Những khép mở riêng chung. Những hòa trộn kỳ lạ. Ta như đứng trước một khu vườn trái mùa mà cây cối phong nhiêu, hoa quả xôn xao nở, đa sắc, đa hương và ta hoa mắt, rồi ta no mắt, rồi ta nói lạ quá, kể lại thế nào đây?

Chế Lan Viên ngày xưa có câu thơ, khá ngậm ngùi: Đời ngoài tuổi năm mươi/ Mong gì hương sắc lạ/ Mọc chùm hoa trên đá/ Mùa xuân đâu chịu lùi. Lê Giang tuổi sáu mươi, lại mạnh mẽ, hào sảng: Ta lại quất vào ta (…) Quất thật đau cho bước sải thật dài (…) Ta vẫn phi cho đến bước cuối cùng (…) Cõi hư vô cỏ hát với hồn ta (Ngựa chiến).

Người đàn bà viết này rạt rào nhựa sống. Chất giọng từ nhựa ấy mà ra. Phải chăng phong thổ Cà Mau? Phải chăng khí huyết gia đình? Phải chăng trải nghiệm cuộc đời? Và một duyên tình tri kỷ?

Dai-hoi-Quoc-dan-thanh-lap-Chinh-phu-Cach-mang-Lam-thoi-Cong-hoa-mien-Nam-Viet-Nam-thang-6---1969-o-rung-chien-khu-Tay-Ninh
Trên hàng ghế báo chí tại Đại hội Quốc dân thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tháng 6 năm 1969 ở rừng chiến khu Tây Ninh. Từ phải sang (không kể sau trước): Nhà thơ Lê Giang (1), nhà thơ Nguyễn Chí Hiếu (4), nhà báo Nguyễn Hồ (5), nhà thơ Diệp Minh Tuyền (6) – Ảnh TTX Giải Phóng.

Nhựa chưa cạn thì giọng vẫn còn tươi. Cái tươi của người đi đôi chân trần trên mặt đất, nghe đất thở, từng ngày. Cái tươi của một tâm hồn khao khát tự do, nhạy trong giao cảm.

Cỏ. Phải, không có hình ảnh nào gần với Lê Giang hơn. Người mẹ của nhà thơ đã tinh tường biết bao khi buột nên lời: “Đất xấu sanh cỏ tốt”. Lắt lay, rào rạt, biếc xanh…, cỏ phả hương đồng nội, thả phấn, thả hoa bay lượn giữa trời. Lê Giang gom lời từ quê xứ và thả chữ giữa làng văn.

Chữ của Lê Giang lạ. Đó là chữ của lời không phải của từ. Lời níu nắm từng vốc một những từ, bay lượn trong không gian trò chuyện, nói năng. Bằng các kết hợp từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa theo cách của riêng bà, lời biến hóa. Bằng các liên tưởng rộng, bất ngờ, đôi khi phải dừng lại, đọc kỹ mới nắm bắt kịp, lời tung xòe như kính vạn hoa. Bằng các hòa trộn giọng, trong đó chủ âm là đùa nghịch, lời cuộn chuyển.

Phong cách Lê Giang đã hé lộ ngay từ những nhan đề, lớn, nhỏ: Tìm ngọc ở quê mình; Gặp gì ăn nấy, xin mời; Nghiêng tai dưới gió; Còn khóc ngon lành; Lang thang gió cát; Bộ hành với ca dao; Ừa, chỉ có vậy thôi, Nắng mưa tìm gặp, Biển đã mất ông rồi, Người và rắn, Ở không chơi vài bữa; Chuyện kể nửa chừng; Mít non hầm; Thẳng thét một ngày anh và tôi; Thằn lằn ơi, thôi đừng chắc lưỡi; Đời vui dễ có mấy khi, Đánh vần chữ khổ… vu vơ, Hồi đó ông trời ở đâu? Có còn không, đêm nhạc cho anh? Dung dị trong cốt cách của chữ mà lạ trong hơi thở của lời. Nghe như thể văn báo chí mà là câu chuyện văn chương. Bởi cái lưu lại không phải là truyện kể mà là giọng kể. Giọng kể như chất nhựa tươi nồng hút hằng hà chi tiết. Nơi đây, giọng và chi tiết là cái hàng đầu. Thuở ban đầu về với thơ ca, giọng Lê Giang còn e ấp. Bước vào ngôi nhà bút ký, tản văn, giọng lảnh lót trỗi lên, sáng tối, trong nhà, ngoài chợ, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện Đông, chuyện Tây… nơi đâu cũng trở thành chuyện cho bà kể: hài hước, nghịch ngợm, tinh quái, lấp lửng, ý nhị, man mác…

Tản văn của Lê Giang lăn qua ba thời: Thời Cà Mau, thời ở rừng, thời phố thị.

Thời Cà Mau chấm phá đôi nét thôi mà ám ảnh, đau buốt. Có lẽ không ai thích lạc loài, khóc thầm và tuyệt vọng ở tuổi mười lăm, nhưng rồi chính những gì làm nên cái tuổi mười lăm đầy khắc khoải ấy theo năm tháng lại trở thành phù sa cho cây trái văn chương hôm nay. Và cũng chính chúng mang đến cho Lê Giang một bước ngoặt vượt thoát mà vì vậy khi nói về Thời ở rừng, trang viết của Lê Giang, dù vô số tình tiết và chân dung, đa âm điệu, vẫn cứ làm ta nhớ đến bài hát Nhạc rừng của Hoàng Việt.

Thời-phố-thị, dài hơn tất cả, những tạp âm của đời sống đô thành gõ vào phím tim bà, lay những ngón tay bà, và những câu chữ văn xuôi chạy từng ngày trên trang giấy.

Trong những tạp âm đó, trỗi lên một âm giai chính, được dẫn dắt bởi những Nàng thơ của Lê Giang, có thể gọi như vậy, bởi họ, dù ở bên nhau dài lâu hay gặp gỡ thoáng chốc thì đều tạo nên những cảm hứng nghệ thuật nơi tác giả. Với Lê Giang, có gặp là còn để lại. Những duyên lành, tình thân, những nối kết tạo thành các mạng lưới đầy màu sắc trong thế giới tâm tưởng và những tấm khảm lấp lánh trong trang viết của Lê Giang. Đó là mẹ, cha, chồng, con, cháu, bạn bè một thuở… Đó là cây cỏ, chim muông, chó mèo. Đó là nắng sớm, mưa chiều, gió biển, mây trời, bụi đường, giọng hò trong xóm vắng…

Lê Giang đã lưu những thời khắc thực, những sự kiện thực trong cuộc đời dài của đôi uyên ương tri kỷ. Cái riêng tư, ngóc ngách, nhỏ nhoi thành một nhịp cầu giao cảm qua lời kể. Qua cái ăngten nhạy bén của một người, hiện lên những không gian, thời gian của cộng đồng, đất nước, in dấu những tương thông giữa người và người, ghi lại một phối ngẫu hô ứng hòa hợp, đã dệt nên một chuỗi ngày thú vị, đã làm nên những điều ý nghĩa, trong nỗ lực cưỡng lại sức tàn phá của thời gian.

Đọc tản văn Lê Giang, nhận ra rằng bà nhạy và mạnh về nắm bắt chân dung. Nhân vật của bà là nguyên mẫu của đời sống (thường mang tên thật, hoặc đoán được bằng tên viết tắt), rất dễ cho người đọc kiểm chứng. Ở người này, bà phác qua vài nhân dáng, cử chỉ. Ở người kia bà kể lại tình huống để hé lộ tính cách. Đặc biệt, các nhân vật của Lê Giang luôn có những ngôn ngữ đối thoại đầy sức sống và cá tính.

Những gặp gỡ thường là trong đời thực, đi vào trang viết của bà như những thước phim quay chậm mà ký ức của bà là ống kính thuộc vào loại “xịn”, được đặt ở những góc nhìn thân ái mà không thiên vị. Ở đó các nhân vật (trong đó có nhân vật xưng tôi) đi lại nói cười, tương tác với nhau trong một niềm sẻ chia chung những giá trị của đời người, nâng đỡ nhau trong những ngày nắng gắt, mưa dầm, trong khốn khó và khắc khoải.

Tràn đầy biết ơn khi nói về các người thầy, Lê Giang nhớ về lời dặn dò luôn giữ lòng yêu cái thật (Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Thầy vui đệ tử cũng vui); và khiêm cung “lột khăn đội đầu” đi qua con đường của thầy sáng mùng 5 Tết (Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ).

Những người đã gặp thường hiện lên trong trang viết của bà với đường nét riêng của từng người, long lanh ánh sáng trong trẻo của một thời: Thanh Nghị tỉ mẩn trân trọng những con chữ lại rất mê cây trái ở rừng và bao dung với con người (từ chữ A đến chữ Y); Lưu Hữu Phước với lời ca tràn đầy chất lửa đã đi vào dân gian; Ngô Y Linh tiếng cười dưỡng nuôi sự sống; Phan Huỳnh Điểu “trẻ mãi không già”…

Có những cuộc gặp qua không gian chữ nghĩa. Lê Giang đã kêu lên thảng thốt: Biển đã mất ông rồi! với Jacques Yves Cousteau, như khóc một người thân lớn một lòng yêu mến và bảo vệ thiên nhiên. Đã thân mật với Raxun Gamzatốp khi nói về “sự rực sáng của than lửa đàn bà: đượm bền, nóng âm ỉ như than cây đước quê tôi…”, về sự có mặt của ông trong không gian riêng tư vợ chồng của họ; và tâm sự về nỗi niềm tuổi già: “Anh Raxun à! Công nhận là chúng mình đã già lắm, tuổi của chúng ta không phải ở những nơi hội hè đông đúc; vậy thì, ta hãy ve vuốt đôi chân đã từng dắt dìu ta, và ta “ca” không mỏi miệng bài hát của tổ tiên. Lúc mệt nhoài, ta chui tọt vào nhà và đóng kín cửa lại như loài cóc trốn nắng trên sa mạc” (Raxun Gamzatốp ơi! Mở cửa!)…

Nhưng bầu bạn nhất với Lê Giang là những tấm tình nữ giới. Lứa tuổi nào, thành phần nào bà cũng kết giao và tìm được những nét đáng yêu, những chia sẻ đáng mến. Xa nhất là người tá điền – ân nhân Năm Hường, “lẩn khuất trong bờ chuối, rắn chắc, dạn dày” cùng Năm Huê “lênh đênh, thang thang, đa cảm đa tình” ôm nhau khóc ròng sau gần năm mươi năm gặp lại (Tôi trở về nơi tôi ra đi). Gần nhất là cô bé bán củ hành ngoài chợ “Bà dì chỉ cho con biết ai ghét bà dì, con mần việc với họ liền, hạng nào con cũng mần, tới đâu con cũng tới!” (Người “bảo kê” tôi). Và những quấn quýt vô tư mà thắm thiết (Say bờ, Khúc đồng dao dành cho “cô Tấm”, Vô “rừng Thức” ngủ với con). Và những thoáng chốc mà khó quên (Có một cánh én)…

Đặc biệt là sự tương liên của những người “đồng bệnh”: Một Akimi mong manh mà đa đoan như bụi Kim Thủy Tùng (Khóc bạn Akimi). Một Ea Sola “đôi mắt luôn mở to của nàng, một ánh sáng trong veo sục sạo đầy thiện chí (…) đôi môi dày cương nghị”, “hai bím tóc đen nhánh bỏ thòng ra trước ngực”, “tiếng cắn vỡ trái chùm ruột”, “khuôn mặt tái xanh” trước “sự đạm bạc mãnh liệt” (Nắng mưa tìm gặp). Một Trần Thị Tuệ Mai như làn khói trắng mỏng manh: “Nghe tôi hát, chị cười như một làn khói trắng, màu trắng tinh lọc của khói cơm sôi – Tôi không hiểu sao tôi có cảm giác trái ngược giữa chị với tôi, tôi như củ khoai trái bắp, còn chị là khói của bắp khoai vừa luộc chín!” (Chuyện kể nửa chừng). Ở đó hiện lên một tình thế giao cảm khác thường: cả hai đều phải dò dẫm, ngập ngừng, thận trọng. Bởi một từ rừng, một ở phố. Bởi giữa họ váng vất một nỗi sợ hãi và nghi ngại. Bởi cả hai đều tinh tế và biết mình rất dễ tổn thương. Và khi nói lên lời này, Lê Giang quá là chân thực, quá là bản lĩnh: “Thơ chị hay mà buồn, thơ tôi dở mà vui”.

Cũng có lúc là khuôn mặt và tiếng rì rầm muôn đời của đám đông, trong khoảnh khắc đời thường, hay trong “sự kiện”: Tuy xa mà gần, tuy gần mà xa… Hà rầm chuyện người thương, Các cụ bà đi đổi gió, Rất cần nối lại đường dây, Đàn bà “đi biển” có đôi, Ngoài đường có lắm chuyện vui.

Nhưng thú vị nhất là câu chuyện về các sinh vật bé bỏng ở rừng, ở phố (dù trong nhiều năm liền, có những bài hình như Lê Giang viết theo đơn đặt hàng): Số phận con Đà điểu, Người và rắn, Ở động Hoa Quả Sơn, Con chó của tôi, Mai này còn gặp lại nhau, Khách lạ, Chứng nào tật nấy… Lê Giang đã góp vào cùng Tô Hoài, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi… những trang viết hay đầy tính nhân văn. Nếu được trích đưa vào sách giáo khoa, chắc những trang viết này sẽ hấp dẫn các bạn đọc trẻ tuổi, sẽ mời gọi họ học cách quan sát và yêu mến thiên nhiên.

Căn nhà ở tầng 6 (190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.3, TP.Hồ Chí Minh) với 108 bậc thang rồi đây sẽ không còn, nhưng nó đã được vĩnh cửu hóa bằng nghệ thuật. Ở đó, ta được gặp những Nàng thơ lớn của Lê Giang: người đàn ông của bà, hai đấng sinh thành, những người con, người cháu… Chưa bao giờ ta được gần họ đến vậy. Bởi tản văn của Lê Giang là tự truyện. Bà cho phép người đọc đi vào trong không gian riêng tư – không gian sinh hoạt và không gian tâm tưởng – của mình một cách không e dè, ngần ngại.

Người đàn ông “giọng trầm”, “cái ngực omega”, “nước da xám xịt”, “đôi môi chì” “khọt khẹt” ấy xuất hiện hầu hết các tản văn của Lê Giang như là một dòng hồng cầu ấm nóng. Đó là nhân vật đặc biệt nhất, sóng vai cùng tác giả trong các không gian, tình huống, suy tư, cảm xúc khác nhau: Anh, ông xã tôi, chồng, người đàn ông của tôi, người thứ hai trong nhà, người đàn ông trong nhà, ảnh, ổng, “người ơi”, hai đứa tôi, ông Năm dượng Năm, chàng rể, con rể của ông, ông nội, ông ngoại”, cha chồng; có lúc đổi không khí thì gọi là ông Ba, dượng Út, hoàng tử…

Nhân vật ấy mang lại chất tình tứ cho câu chuyện (“Người ơi, phải về với tôi, để nói với tôi bằng chất giọng trầm ấm mà tôi quen nghe suốt mấy chục năm ròng” (Lan man… một ngày), “Đêm nay mày sẽ ngủ đâu? Tôi hỏi nó như người đàn ông của tôi từng hỏi tôi mỗi khi hai đứa đâm sầm vào những buổi chiều tà” (Mai này còn gặp lại nhau), “Chưa bao giờ tình yêu của chúng tôi được đi thênh thang trong biển đêm với một vũ trụ độc quyền của riêng mình như đêm nay” (Trở lại Phú Quốc). Và cũng rất dí dỏm không kém gì bạn tình của mình: làm hề trước gương, chọc quê cái tivi, bình luận: “Hai hiệp sĩ bão táp giết nhau vì trái chuối”… Lại còn cực kỳ dễ thương: “Tội nghiệp em quá, em tin ý chí bọn đàn ông các anh không?”; “Đứng xớ rớ trả giá chuối”; “Cho cười hùn với! Ông khẩn khoản” (Trẻ lên ba cả nhà học nói), “Cái quần này bận với cái áo nào em, cà vạt này với sơmi nâu đen chắc là ác chiến”, “Lôi ra cái va li có bánh xe dượt tới dượt lui trong căn phòng hẹp, suốt ngày cùm cắc mở ra đậy lại. Và khi quạu cũng thực thú vị: “Ông suy nghĩ thế nào ông nói thế ấy, ông chẳng sợ thằng nào, ông có chức tước gì đâu mà mất. Dặn dặn hoài, bộ người ta là con nít sao chớ! Hổng tin thì bỏ tiền ra theo tui mà giựt dây dụi!” (Ở không chơi vài bữa)…

Dù vậy, Lê Giang vẫn có những trang tự bạch, trần trụi, nhuốm mùi cay đắng: “Ba mươi lăm năm nay, tôi cũng đã có một người bạn đồng hành. Chúng tôi nhặt xác nhau mà tự lay tỉnh, định nghĩa lại tình yêu và cuộc sống. Phải trơ mặt ra giả chết làm con rùa rúc đầu, thụt chân, lăn lông lốc như cục đá khi có kẻ tới ngửi nó. Nhiều khi tôi ngạc nhiên – Ủa, té ra mình chưa chết”. Và cái thừa nhận giản dị của một người đi qua cuộc đời dài, nhiều nếm trải: “Nhưng, tôi cũng tin rằng làm gì có hạnh phúc tình yêu – mà chỉ có một lòng thành nhen nhúm những thứ cần thiết cho nhau, biết điều tiết hợp lý và trân trọng điều có ích cho nhau”.

Có một đôi mắt ranh mãnh và một nụ cười hài hước mải mê “tìm kiếm làn hơi của đất” hiện lên ở đó. Và cái lạc quan của một người biết “thưởng thức cái đơn giản được nảy mầm từ sự phức tạp”, chắc được tôi luyện từ sóng gió cuộc đời. Và cái lãng mạn “ngày ngày ngồi bên cửa sổ, đưa cái rây ra ánh nắng của mỗi mùa, đưa cái rây ra những giọt mưa trước hiên nhà, rồi hối hả khen, rồi tấm tắc khen cuộc đời mà cô đã trải qua”, hẳn xuất phát từ một tình yêu lớn. Để rồi có một sự nghiệp văn chương của “một đời người không chịu nhuốm màu cô đơn và thất bại” (Đánh vần chữ khổ… vu vơ).

Đọc tản văn của Lê Giang như ăn ốc gạo, cứ lể quên thôi, cứ nhấm nháp từng tí một, mê mải. Bởi giọng kể này sao mà có duyên, các lời thoại này sao mà dí dỏm, các chi tiết này sao mà thú vị, các mạch liên tưởng này sao mà bất ngờ! Có những đoạn văn dài chữ trơn như nước: “một là lúc bà cô muốn trả nợ mắm muối non sông thì khi cầm viết trước trang giấy trắng, bà cô biến mất khỏi cuộc đời, biến mất một cách “tàn nhẫn nại”, nghĩa là tắt chuông, cắt điện thoại và nhờ cái ống khóa là cái khối sắt không giống ai, tướng tá như ông Thiềm Thừ cả ngày không nhúc nhích. Hai là bà cô cùng ông dượng đi biệt tích, đó là những chuyến đi tìm hàng hiếm: miệng nam mô xin bạn bè anh em hỉ xả: Cửa tuy đóng nhưng lòng rộng mở, chuông không reo nhưng đàn vẫn réo rắt, điện thoại không ơi nhưng tình vẫn vơi đầy. Xin tha lỗi cho kẻ muốn thành người, muốn làm được cái điều mình muốn…” (Kẻ trốn chạy đang lấp ló).

Và đằng sau tất cả sẽ thấy hiện lên một cái tôi tự sự/ trữ tình hòa trộn bao nghịch lý: mộc mạc mà tinh tế, cứng cỏi mà yếu mềm, quyết liệt mà nhẫn nhịn, nghịch ngợm mà dịu dàng, nguyên tắc mà linh hoạt… Trong bút pháp, cảm giác tác giả rất tự do, kỳ thật vẫn có nhiều tự chủ, để ta còn gặp những khoảng lặng, những khoảng trống, những lửng lơ, những nếp gấp trong trang viết và nhiều lúc phải dừng lại, ngẫm ngợi, băn khoăn… Trong suy tưởng, tác giả nhiều lần hé lộ khả năng tự biết: “Cái tạng người của nó chỉ muốn sống nhẹ nhàng, tìm niềm vui nhỏ nhoi để dịu tan bớt nỗi gay gắt của phần đời còn lại. Nó không có được ngòi bút chẳng tà để đâm mấy thằng gian”, “người hát rong vui tính mà buồn tình”; nhưng cũng đôi khi hồn nhiên rất mực (Gặp gì ăn nấy, xin mời!, Chuột đồng – ăn riết phát ghiền)…

Dõi theo tâm tưởng mình, Lê Giang thường thả mình tự do (Lan man… một ngày, Khoảng lặng, Ở không chơi vài bữa…). Tác phẩm đi theo một mạch kể lỏng lẻo, tự nhiên, như những gì nạp vào ta một lúc nào, trong liên tưởng mới cũ. Là âm thanh: tiếng chim, máy khoan, tiếng đàn, tiếng thằn lằn chắc lưỡi. Tiếng lớn lao hào hùng lẫn trong tiếng nhỏ bé thở than. Là hình ảnh: tư thế của một người quan sát tĩnh “buộc cả hai chân vào ghế”, qua góc nhỏ (cửa sổ): mười giờ phong lan, chim sẻ, chim cu đất, bướm vàng, ong bầu, khế chua. Là liên tưởng: Xuân Hồng và các truyện cười. Là ký ức: “cái khoảng lặng của những cuộc dính líu tới một người nào đó. “Họ – dù nhảy phóc hoặc dẫm lên các bụi ô rô hay tre gai… để đi qua tôi – dù năm bảy năm, dù đau đớn âm u, tôi vẫn chưa biết khổ vì tình – mà chúng tôi đều khổ vì hành xác lẫn nhau”. Trong lan man… một ngày, có thể thấy: Tường vôi, cửa sổ, mặt đường bông dầu bay, ngã tư, 108 nấc thang, hành lang, lẻ bạn, nha đam, người con gái, nỗi đau, “vẻ mặt ông Clinton già trước tuổi vì cái túi nước mắt trong bóng chứa đầy quốc sự nhiêu khê”, “những người đàn bà mắc bệnh lững lờ sau chiến tranh”, “những cuốn sổ đen thui vì dấu vân tay”, cuốn sổ ghi những ngày trong đời, những bấn loạn êm đềm, những quỵ ngã và gượng dậy”, bọn trẻ “tươi tỉnh, chân không kịp bén gót trên các nẻo đường” những ngày không ghi: nỗi đau và nỗi ngờ.

Thời của chúng ta hôm nay, thể loại tản văn ngày càng phát triển, nhưng viết về cái khép mở riêng chung của thế giới đàn bà; nghệ thuật hóa những cái đời thường nhỏ nhoi và lẩn khuất; phả vào đó một giọng văn riêng, hoàn toàn tự tin, trẻ trung, dào dạt và khỏe khoắn, thì có lẽ không nhiều: Lê Giang là một trường hợp đặc biệt.

Lê Giang đã có một lọ mực của riêng mình và khi viết về bà, tôi cứ luôn khao khát được chấm ngòi bút vào lọ mực ấy, nhưng hình như không thể. Đành ngậm ngùi mà nói rằng giọng tuổi sáu mươi lại không trẻ, không nghịch và không hoạt như giọng tuổi tám mươi…

SG, 12/2015

Nguyễn Thị Thanh Xuân
(GV Trường ĐH Khoa học XH & NV)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

Ý Kiến bạn đọc