Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Không thể phân biệt

Những thứ không thể phân biệt được thường là giống nhau. Phần khác biệt rất ít nên khó phân biệt. Phần đồng chất, lại dễ nhận ra như chọn cam mua trứng (ý Xuân Diệu).

Tư tưởng chính của tiểu thuyết Mình và Họ (*) là không thể phân biệt được Mình và Họ (quân bành trướng). Bởi cái chính, cái bản chất là giống nhau. Đó là chất thổ phỉ và buôn lậu. Thổ phỉ cướp trắng trợn, hành sự tàn bạo. Buôn lậu mức độ khác nhưng khi đụng hàng, cướp hàng, mất hàng… thì cũng dùng đến biện pháp của Phỉ.

Tư tưởng này được một nhân vật nói thẳng ra:

“Cậu ơi, làm chó gì có sự tử tế giữa hai quốc gia. Toàn thổ phỉ cả” (tr.50).

Tác phẩm được tổ chức, hư cấu rất công phu, cân nhắc từng câu từng chữ. Nghệ thuật đồng hiện, như được nhào trộn bằng một thứ keo đặc biệt vừa dễ đọc, vừa khó đọc (khá mệt), phải lần đến từng chi tiết, từng câu chữ, từng việc làm, lời ăn tiếng nói của nhân vật để loại bỏ nó đi, cho hiện ra cái cốt lõi, tư tưởng của tác phẩm.

Hãy xem cấu trúc của tác phẩm.

Đó là một chuyến đi lên vùng biên cương phía Bắc sau các trận chiến tháng hai bảy chín (2/1979) và tám tư (1984).

Một chuyến đi không rõ mục đích: Tác nghiệp báo chí. Cán bộ văn hóa của Thủ đô đi lấy tài liệu hay đi thăm thú, đi phượt, làm từ thiện…?

Bia-sach-Minh-va-Ho

Nhân vật hầu hết phiếm chỉ: Hắn. Người tổ chức chuyến đi – Người to cao – Người bé nhất – Người cầm máy bộ đàm – Lái xe Trang và Hiếu (thường tự xưng là mình). Nghĩa là các nhân vật đa số là vô danh tính.

Thâm ý của tác giả về nhân sự chuyến đi phải đến giữa cuốn sách mới hiện ra (tr.160). Đây là một nhóm đi truy đuổi buôn lậu giang hồ. Như vậy là lực lượng đặc biệt. Người tổ chức chuyến đi – Hắn – lại là một tay trùm buôn lậu đồ cổ. Còn Trang và “mình” thực chất là đám buôn ma túy, đúng là “lấy nó rán nó”:

“Hắn nói tới chủ đề thuốc phiện, nói huyên thuyên từ cơm đen sang cơm trắng rồi sang chuyện các con nghiện mà không biết rằng đang múa rìu qua mắt thợ. Trang im lặng, khinh bỉ nhìn thẳng về phía trước. Kệ xác hắn, đây là chuyến đi do hắn tổ chức, xe của hắn, địa bàn của hắn, hắn nói gì cũng được” (tr.160).

Hắn là ai? Là Hắn. Nhưng xuất hiện như một nhân vật chính, trong hầu hết số trang của cuốn sách. Trang xuất hiện nhiều nhất đến 9 lần (tr.155).

Đây là chủ ý của tác giả. Trong các quan hệ gia đình xóm phố, cũng tương tự thế: Anh, bố, mẹ, chú, cậu, mợ, ông ngoại, ông lão câm, người đàn bà nguyên là Phó chủ tịch huyện đều là vô danh… Chỉ có chị Hằng (chị dâu), anh Hà (anh họ), bác Lâm. Nhưng để nhấn mạnh tư tưởng thì nhân vật được nêu chính danh: Chu Văn Tấn, Tướng Đàm Quang Trung, các tướng phỉ Châu Quang Lồ, Hoàng A Tưởng, Trảo Sành Phú, Lý Dương Tài…

Cách tổ chức hành động và nhân vật như vậy, muốn gợi lại hay ám chỉ vụ Vũ Xuân Trường chăng? Chính kẻ chống buôn lậu ma túy lại là trùm buôn lậu ma túy.

Hành sự lắt léo, nhân vật vô danh như vậy rất tiện cho nghệ thuật đồng hiện: đang chuyện nọ lại xọ chuyện kia như một giấc chiêm bao. Như trẻ con kể chuyện. Rất huyên thuyên. Nhưng với nhà tiểu thuyết, ta phải tìm ra sự liên kết của chúng. Tại sao lại như thế này mà không là thế kia. Đó là tư tưởng chính: Đều là thổ phỉ cả. Thụy Khuê rất ca ngợi chủ đề này (nghe nói bản in ở nước ngoài khác rất nhiều với bản do Nhà Trẻ in). Cái chất phỉ của Họ (quân bành trướng) thì xa xôi mờ nhạt, có phần ngô nghê nữa: Trước khi rút nó phá hết nhà cửa trong thị trấn nhưng không đốt mà chặt các cột trụ rồi đạp cho đổ (tr.49).

Còn chất phỉ của Mình thì nhỡn tiền hai năm rõ mười thật là khủng khiếp:

“ – Cậu biết cháu tìm cậu theo cách nào không?

- Cách của thổ phỉ.

“Mình nghĩ anh tìm ra nhà Hằng cũng theo cách của thổ phỉ” (tr.82).

Ông ngoại của nhân vật chính là trùm phỉ nổi tiếng. “Ông là một trùm phỉ… ông từng đụng độ với Bát Đại Quân và Tuyên truyền Giải phóng quân… ông bị mưu sát khi đang ngủ… xác treo ngược lên cành cây, đầu thì biến mất (tr.56).

Bạn của cậu cũng là tay phỉ khét tiếng… “Rồi mình cũng không nhớ bằng cách nào câu chuyện về phỉ của ông ta đã khơi lên… Ông ta là người được giao bằng mọi cách hạ thủ được Châu Quang Lồ, một trùm phỉ người Miêu nổi danh trên địa bàn giáp ranh giữa Tây Bắc và Đông Bắc. Châu Quang Lồ giỏi võ, sử dụng súng cả hai tay, tính khí lại hung hãn tàn ác. Nhắc đến gã người Miêu hoang dã đó, giới lục lâm thảo khấu đều ngại ngần…” (tr.60).

Thế mà bị ông này lấy đầu đây.

“Mười sáu tuổi ông trốn nhà tham gia cách mạng, đánh nhau sầy vẩy với phỉ ở liên khu Việt Bắc, suýt bị dân Mèo mổ bụng tại Mã Pì Lèng. Ông bảo cuộc đời ông oai hùng nhất là được tỉ thí Pạc-hoọc – với ông Đàm Quang Trung khi cả hai đã uống rượu say bí tỉ ở Ngân Sơn. Ông lắc đầu lè lưỡi thán phục tài bắn súng bách phát bách trúng của Đàm Quang Trung” (tr.156).

Và cách đánh trả lại Họ, đánh trả quân bành trướng, vừa chính qui, như đơn vị của người anh nhân vật chính – vừa theo cách của thổ phỉ:

“Trên đường về, mình hỏi cậu tại sao ông ta sống xa mọi người thế. Cậu bảo ông ta mồ côi từ nhỏ, theo phỉ, rồi theo Việt Minh… công của ông ta đối với thị trấn này lớn lắm. Không có ông ta thì dạo đó họ đã vào được thung lũng này rồi. Ông ta cũng lì. Cứ nã phát một, không trượt viên nào” (tr.64).

Rồi người đàn bà gốc dân Nam Định, nguyên Phó chủ tịch huyện vùng cao này: “Mười bảy cái thủ cấp quân địch bị vợ chồng bà cắt, vết cắt nào cũng gọn ghẽ” (tr.120).

“Cái đặc biệt lớn nhất là bà ta đã từng bị đồn thổi là ăn thịt người” (tr.116). “Bà ấy ăn thật đấy” (tr.117). Hiện tại như thế. Ngược về lịch sử cũng không phân biệt được anh hùng hay thổ phỉ.

Có nhiều cách giải thích cái tên Ngũ Nhân. Người bảo đó là đền thờ những anh hùng có công dẹp cuộc nổi loạn của dân Tày từ thời Lý. Người cho rằng đó là nơi thờ năm người anh hùng dân tộc đã sống chết bảo vệ thị trấn nhưng từ thời nào thì không mấy ai rõ. Cậu nói huỵch toẹt ra đó là thờ năm ông thổ phỉ. Mình thấy cậu có lí (tr.65).

Và đến sông Nho Quế thì còn khủng khiếp nữa: “Trong lịch sử, sông Nho Quế có hai lần ngầu máu. Lần thứ nhất là vào năm một ngàn bảy trăm sáu bảy (1767), cả một đạo quân bên kia chạy loạn men theo bờ sông sang đây nhưng bị truy sát liên tục và khi nhóm người cuối cùng trong số hơn mười vạn chạy được tới khu vực này thì chỉ còn có non nghìn người. Vào một đêm rằm, số người ấy cũng bị xóa sổ. Lần thứ hai thì máu của người Mèo chảy. Cả bản Mèo hơn bốn chục hộ gia đình biến mất… họ đã bị chặt nhỏ ra và dìm dưới sông Nho Quế…

- Bảy chín sông này lại đỏ” (tr.128).

Cần nói ngay mấy điều: Ai đã xóa sổ non nghìn người vào cái đêm rằm xa xưa ấy? Ai đã chặt nhỏ bốn mươi hộ gia đình người Mèo, vào thời điểm nào?

Thổ phỉ ư? Thổ phỉ nào mà xóa sổ một đêm cả ngàn người? Mà băm chặt cả bốn mươi hộ dân Mèo?

Tác giả không nói ra thủ phạm. Nhưng đọc ra được ý tứ của tác giả. Điều nữa là, chạy theo tư tưởng, nhà văn đã bị lỗi logic: Một đạo quân (tới hơn mười vạn người) di chuyển không gọi là chạy loạn. Chạy loạn là dân thường, qui mô như thế là hành quân, chuyển quân, dù là đến nơi tử địa.

Một bản Mèo có hơn bốn chục hộ thì thậm xưng đấy. Bằng một xóm, một thôn nhỏ dưới xuôi còn gì?

Nhưng điều đáng nói là tác giả cho các nhân vật đến đây để cảm nhận “Cái vùng biên này thật là quái đản” (tr.228)… “Cách đây dăm ba năm… cánh thợ săn người La Chí đã bắn được người rừng. Người rừng cao to, lông lá đầy mình như vượn nhưng mặt thì là mặt người… Anh cháu họ của vị phó giám đốc công an tỉnh thì khẳng định đó đích thị là người… Một người đàn bà có vú…” (tr.129). Rồi sau đó, dân bản bị người rừng trả thù… (chỗ này là mót lại của Bảo Ninh). Nhà văn còn đưa bạn đọc đến cảm giác rùng rợn hơn:

“… khi họ rút về ba bốn tháng rồi mà cả vùng này vẫn cứ thối inh lên. Huy động dân quân đến chôn nhưng không xuể, thế là cứ kệ cho chim với hổ đến ăn” (tr.207).

… – Vụ cao bành trướng cũng xuất phát từ đây mà ra chứ đâu nữa…

Hắn bảo đã thấy nhiều chuyện lạ kỳ rùng rợn nhưng chưa bao giờ chứng kiến vụ nào kì quái như vụ ăn phải cao người của cái ông ở cuối thị xã”.

Kết luận cuối cùng là ăn phải cao bành trướng và suýt nữa thành Họ. Mình bật cười vì câu chuyện ấy, bảo tại sao lại có thể suýt nữa thành được khi mà MÌNH với HỌ rất khó phân biệt” (tr.209).

Nhưng ám ảnh về phỉ điển hình nhất khi Nguyễn Bình Phương cho nhân vật suy ngẫm về khoái cảm chặt chém:

“Mình nghĩ nếu xét thuần về mặt hành động thì phỉ là loại chạm tới cái cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất của con người. Vì phỉ hay dùng hình thức chặt, thứ hình thức mang loại khoái cảm và uy quyền. Phỉ chặt đầu, chặt tay, chặt chân, chặt ngang người. Các loài khác không biết chặt, chỉ biết cắn, xé, móc. Giết một con gà mà không vang lên tiếng chặt nào thì chỉ là giết một con giun. Vào quán thịt chó mà không nghe tiếng chặt côm cốp thì dứt khoát chỉ có cảm giác ăn đậu phụ. Tiếng chặt tạo ra sự hưng phấn ghê gớm. Dọc theo lịch sử dằng dặc của đường biên này luôn là những tiếng băm chặt nhau chí chát. Khi triệt hạ thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt đã cho chặt đầu tất cả những kẻ trong thành rồi xếp thành năm trăm tám mươi đống, mỗi đống một trăm cái đầu. Tiếng chặt đầu côm cốp của Thái úy vẫn còn làm cho họ run rẩy, đau đớn đến tận bây giờ?” (tr.98-99). Phải thế mà hồi bảy chín, tám tư… họ kéo sang trả thù xưa chăng? Chỗ này sự lựa chọn của nhà văn không gắn gì với lịch sử. Họ không bao giờ run rẩy, đau đớn đâu. Hết cuộc đau này họ lại gây tiếp cuộc đau khác. Hồi thế kỷ XV (1428), Vương Thông và đồng bọn chẳng đã “tim đập chân run, về đến nước vẫn chưa thôi trống ngực” (Cáo Bình Ngô). Năm 1789, Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy tháo thân đó sao? Và trước nữa, hồi thế kỷ XIII, Thoát Hoan chẳng đã phải chui vào ống đồng cho tàn quân khiêng mà tháo chạy đó sao? Nhưng thôi! Lịch sử nó dài lắm. Chỉ nói rằng sự ám ảnh về chất phỉ của MÌNH ở nhà văn này dường như là thường trực. Nhìn giọt sương, đám mây cũng thấy ra phỉ:

“Sau mưa núi trở thành những cánh buồm ong óng. Trời xanh và mỏng đến độ chỉ cần búng nhẹ sẽ vỡ thành trăm ngàn mảnh. Mình nhắm mắt hình dung sự tan vỡ nhưng thay vào đó lại hiện lên một toán phỉ…” (tr.72).

Và đến cuối truyện, người tình của nhân vật chính – Trang – đã xử với cô bạn Vân Ly theo cách của Phỉ:

“Trang chống hai tay vào hông:

- Tao hỏi lần cuối, hàng của bọn tao đâu?

… Quých dúi đầu can xuống, xăng ồng ộc tuôn ra… Mùi xăng nồng nặc và Vân Ly càng giãy giụa mạnh… Mình bảo:

- Tha cho Vân Ly đi.

Giọng mình tha thiết đến nỗi chính mình cũng bất ngờ. Trang quắc mắt:

- Đốt.

Lửa phụt lên đột ngột… Ngọn lửa vừa giống như mũi dao nhọn lại vừa giống như mầm cây, phập phồng, sống động. Sau đó lửa hạ xuống và một quầng lửa bùng lên mãnh liệt kèm theo tiếng thét dài, thất thanh. Trang lùi lại, bình thản nhìn lửa lăn lộn, quằn quại” (tr.298-299), và tác giả khép lại ở dòng cuối cùng của trang cuối cùng:

“Làm sao phân biệt được mình với họ?”.

Cừ rừm…

(tr.300).

Không thể phân biệt được MÌNH và HỌ không chỉ trong chuyện chặt chém người côm cốp, mà từ trong cốt tủy, trong món CAO NGƯỜI, CAO BÀNH TRƯỚNG ấy!

Trạng thái đó của nhân vật chính luôn trở đi trở lại, như một tư duy thường trực, một nỗi ám ảnh hoặc hơn thế, một tư tưởng xuyên suốt.

“Không có sự phân hai ngả” (tr.6).

“Chẳng phân biệt nổi bên này với bên kia” (tr.6).

“Không thể xác định được phương hướng” (tr.82).

“Ranh giới nào cũng hiểm nguy, tránh mẹ nó ra”… (tr.17).

Không tránh được đâu. Đấy là vấn đề của lịch sử, từ thời hình thành bộ tộc bộ lạc đến nay. Đó là vấn đề của khoa học. Từ hạt cơ bản cho đến các sơn hệ và châu lục. Ranh giới! Có cái phải vượt qua, phá bỏ. Có cái phải dựng lên, phải bảo vệ. Không có ranh giới giữa các ngón tay thì không có bàn tay! Ranh giới là trật tự. Từ làn đường giao thông trên bộ, đường biển, đường bay…

Cho đến các tế bào. Bệnh ung thư là một dạng vượt qua ranh giới của các tế bào!

Một nhà văn cần có tư tưởng riêng, độc đáo nhưng phải có cơ sở, phải tỏa ra trên cái nền của tác phẩm.

Không thể mượn lời nhân vật mà nói liều như thế.

Có rất nhiều chủ đề để bình luận về tiểu thuyết này. Nên chỉ nêu một vài:

1. Nhà văn có quyền lấy lịch sử làm tài liệu. Có thể hư cấu lại lịch sử. Nhưng bạn đọc và lịch sử cũng có quyền xem xét sự hư cấu đó phản ánh như thế nào tinh thần của lịch sử – cuộc sống và con người đương thời. Trên tinh thần đó, chúng tôi thấy đoạn văn sau mang dụng ý rất xấu và rất sai:

“Thời kỳ Pháp cai trị, vùng này (vùng biên giới phía cực Bắc) là nơi cung cấp thuốc phiện cho toàn bộ Đông Dương. Số tiền buôn bán thuốc phiện lên tới nhiều triệu quan vì thế mà nó trở thành miếng mồi ngon tranh giành kịch liệt giữa Pháp với Việt Minh” (tr.138).

Đoạn văn ngắn nhưng rất thâm sâu.

- Việt Minh là gọi tắt tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh Hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập vào năm 1941 ở căn cứ địa cách mạng Pắc Bó – Cao Bằng. Vào thời điểm đó, không còn sự cai trị của Pháp mà Phát-xít Nhật đã vào Đông Dương từ 1940 và người Pháp đã “dâng nước ta cho Nhật”.

Mục tiêu, bản chất của Việt Minh là vận động tổ chức nhân dân đoàn kết lại đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật giành lại độc lập dân tộc. Hoàn toàn không có chuyện vì lợi nhuận buôn thuốc phiện mà Việt Minh tranh giành kịch liệt với thực dân Pháp.

* Thuốc phiện cho toàn bộ Đông Dương có nhiều nguồn:

- Sản xuất tại Việt Nam: từ Vùng núi phía Bắc (cả Đông Bắc và Tây Bắc) cho đến tận vùng cao Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An)… Nơi nào có đồng bào H’mông (Mèo) cư trú thì nơi đó có trồng thuốc phiện. Nương rẫy nào tốt nhất đều được giành cho cây thuốc phiện.

- Sản xuất tại Lào: đây là nguồn còn lớn hơn cả ở Việt Nam.

- Ngoài ra, còn có thể theo con đường từ Tây Tạng, Myanmar (Miến Điện)… vào Đông Dương.

Người Khu Ba (Ninh Bình – Nam Định – Hưng Yên…) trước đây cư trú buôn bán ở Phố Đầm (Xuân Thiên – Thọ Xuân) và Bái Thượng (Xuân Bái – Thọ Xuân), ven sông Chu, thì hình thức là buôn bè, buôn thuốc bắc, buôn quế (quế Ngọc Châu Thường Xuân)… nhưng nội dung bên trong, thực chất là buôn thuốc phiện. Cái nghề giầu lên trông thấy mà nghèo đi cũng trông thấy.

Chỉ trong một chuyến hàng mà lên voi xuống chó. Đêm giao thừa rét như cắt có nén thuốc phiện, có mối là sẵn sàng bơi qua sông.

Năm 1993, người viết bài này cùng cố nhà văn Triệu Bôn đã đến vùng Pù Nhi, Na Mèo thuộc Quan Hóa – Thanh Hóa, là những cửa khẩu thông thương với Lào, đã tận mắt nhìn thấy nhiều nương thuốc phiện đang mùa ra hoa, đẹp chết người!

2. Tiểu thuyết này chưa đến tầm đa thanh đa nghĩa nhưng có nhiều câu lửng lơ. Nhiều câu ra vẻ, có vẻ triết lí nhưng xem ra rất đuối:

- Phần lớn những hiểu biết của con người đều chỉ là để giết thời gian. Ngay cả sự hiểu của ta về chính tiểu sử đời ta cũng vậy thôi (tr.113).

- Thế gian này, xét cho cùng, từ khởi nguồn đến giờ, chưa hề mất đi một cái gì, kể cả sự mông muội” (tr.119).

- Trong cái đêm chao đảo gồng ghềnh thế này, ai dẫn đường cũng ổn (tr.140).

- Sáng nay, khi nhận súng, tao thấy ớn. Tao thật sự ớn. Nhìn khẩu súng băng giá, mà rất đẹp mới khốn, tao nghĩ, sẽ bắn vào đâu đây? (tr.18).

Câu này rất thống nhất với tư tưởng xuyên suốt tác phẩm: không thể phân biệt MÌNH với HỌ. Bắn vào đâu bây giờ? Xin đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam giúp cho.

- Thời gian ở trong toa-lét bao giờ cũng hữu ích hơn ở nơi khác vì nó cho cảm giác đang làm nhiều việc cùng một lúc. Ngồi thả lỏng, nghĩ ngợi, quan sát và lắng nghe sự dịch chuyển của phân từ trong ra ngoài (tr.14).

Thế thì nên chuyển bàn làm việc của Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào trong toa-lét mới là đắc địa.

- Mình chúa ghét những kẻ lấy quê hương làm le, mình ghê tởm những hội đồng hương (tr.16).

Xin nhường lời!

3. Nhu cầu tình dục là thuộc bản năng. Còn sự làm tình. Ngôn ngữ về sự đó – có người gọi là ngôn ngữ thân thể – mang tính người, có đặc trưng của người, không thể lạm dụng, đưa vào các ẩn ý.

Đọc hai trang 10 và 11 sẽ thấy có một chút của Dư Hoa (Phải sống), một chút Nguyễn Vĩnh Nguyên (Trên lưng chừng nhìn xuống đám đông):

“… Mình muốn biết bên trong những cái cây của vùng đất này là gì…

- bên trong nó là một con bò.

… làm tình xong mà mình vẫn cứ nhìn chằm chằm vào của Trang:

- Nhìn cái gì thế…

- Xem bên trong có cái gì…

- Thật à?

Và Trang ngồi xổm, dạng chân khiêu khích. Cửa mình mở ra, cả một thế giới nguyên thủy, mù mịt trong ấy, nhưng hoang liêu (tr.10-11).

Nguyễn Bình Phương vừa hơn vừa kém Nguyễn Vĩnh Nguyên là không chui vào rồi mất hút trong đó.

Tình dục là hoạt động bình thường của con người.

Là của con người nên nó phải mang tính người, tính văn hóa. Mô tả tình dục, sử dụng ngôn ngữ thân xác trong tác phẩm văn học là một sự không đơn giản. Vì không đơn giản nên không thể nói trong một vài câu. Chỉ có thể đưa ra một hình ảnh, một quan niệm nào đó để bộc lộ vấn đề. Vẫn phải trở lại cảm giác mức độ. Mức độ! Đơn giản mà cực khó. Nên đưa mấy ví dụ:

- Tình yêu (hay con người) kiểu Platonic – tình yêu không có tình dục… Lý trí quá. Bạn đọc có phải ai cũng là nhà triết học cả đâu.

- Lê Ngọa Triều là đại diện cho sự tham dục.

- Các ông lang ngày xưa rất mức độ: Bình minh nhất trản trà/ Bán dạ tam bôi tửu/ Nhất nguyệt dâm nhất độ/ Lương y bất đáo gia.

- Dân gian rất thực tiễn, táo bạo, mức độ và đầy chất thơ:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
Chàng hỏi thì em đáp rằng
Tre đà đủ lá non chăng hỡi chàng!

hoặc:

Bây giờ Mận mới hỏi Đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì Đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào…!

Thế thì còn chờ gì nữa! Có thể trần truồng dữ dội nhưng phải có cái lý của nó như Quyên của Nguyễn Văn Thọ. Một tên cướp làm tình khác với người mình yêu thương. Không phải lúc nào cũng lôi thằng tiểu yêu ra mới là hấp dẫn người đọc. Nguyễn Bình Phương là một tiêu biểu cho sự lạm dụng chuyện tình dục và ngôn ngữ thân thể. Lại tỏ ra lão luyện nữa: cầm được tay thì sờ được ti. Sờ được ti thì nằm lên bất cứ lúc nào… Sự lạm dụng đó chỉ làm bẩn cảm giác tiếp nhận, về ngôn ngữ làm bẩn tiếng Việt.

Hà Nội – Mùa thu, 2016

Nguyễn Văn Lưu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 423

___________________

(*) Tác giả Nguyễn Bình Phương – giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2015 NXB Trẻ tái bản H.2016. Các trích dẫn từ đây chỉ ghi số trang.

Ý Kiến bạn đọc