Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Không phải ngộ nhận

(Về Trương Vĩnh Ký)

 

Từ công văn ngày 6-9-2019 của Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, tác giả Nguyễn Văn Thịnh, trên Văn Nghệ TP.HCM số 563 ngày 12-9-2019, cho rằng đó là sự ngộ nhận về Trương Vĩnh Ký. Chúng tôi thấy đây không phải ngộ nhận mà là sự cố ý. Hiệu trưởng Trường chuyên LHP (xin viết tắt) chỉ phát ngôn thay cho một số người nào đó, muốn tiếp tục vận động dư luận để chiêu tuyết, phục hồi, tôn vinh Trương Vĩnh Ký. Vì bà Hiệu trưởng Trường chuyên LHP chưa đủ trình độ, chưa đủ sức để nêu lên vấn đề hóc búa này. Rất rõ, trong câu: “Việc đặt tượng nhà văn hóa và nhà cách mạng mà trường được vinh dự mang tên hơn 90 năm qua sẽ góp phần hoàn thiện truyền thống nhà trường, lưu giữ lịch sử vẻ vang của Trường THPT chuyên LHP qua nhiều thế hệ” (Bđd. VN TP.HCM, số 563).

Các “vị thầy” của bà Hiệu trưởng đã rất lập lờ trong câu trên, nhưng giấu đầu hở đuôi. Vì:

- Lê Hồng Phong, như tác giả Nguyễn Văn Thịnh đã viết, mãi đến năm 1937 mới bí mật về nước hoạt động, lãnh đạo phong trào cách mạng. Năm 1939, ông bị bắt rồi bị Pháp đày ra Côn Đảo. Ông hy sinh ngày 6-9-1942, trước khi nhắm mắt, ông nhắn lại: “Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng” (Bđd. VN TP.HCM, số 563).

Phải đến sau 1975, một số trường học, đường phố ở Sài Gòn cũ, nay là thành phố Hồ Chí Minh mới được đổi tên, mang tên các danh nhân văn hóa lịch sử, các nhà yêu nước và cách mạng. Trường LHP chỉ có sau 1975. Sao có thể nói là “trường được vinh dự mang tên hơn 90 năm qua”?

- Nhưng cũng có “lý ngầm” đấy. Vì “Từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1975, tên Petrus Ký (tức Trương Vĩnh Ký, gọi theo họ đạo) được đặt cho một ngôi trường trung học lớn ở Đô thành Sài Gòn dành cho nam sinh (nay là Trường THPT chuyên LHP). [Theo Trần Hữu Tá. Từ bục giảng đến văn đàn. NXB Trẻ – 2016. Trg.21]. Đây là Trường Petrus Ký vẫn được gọi trước 1975. Còn tượng Trương Vĩnh Ký trước đây cũng đã được dựng. Theo GS. Trần Văn Giàu, thì tượng của Trương Vĩnh Ký không bị đập bỏ hồi tháng 8-1945 mà được đưa vào một ga-ra (Theo Trần Hữu Tá. Sđd. Trg.24).

So-565--Chan-dung-Truong-Vinh-Ky---Anh-1
Chân dung Trương Vĩnh Ký.

Như thế, ý bà Hiệu trưởng muốn nói trường này đã mang tên Trương Vĩnh Ký từ hơn 90 năm trước. Còn tên Lê Hồng Phong là sau này. Nay xin rước tượng Trương về nơi chốn cũ, bên cạnh tượng nhà cách mạng yêu nước một trường hai chủ hài hòa!

Chắc là các bậc thầy của bà Hiệu trưởng hy vọng thời thế đổi thay, cách mạng rồi phôi pha, chỉ còn “văn hóa”, “trâu lại về phố”!

Chúng tôi cũng nhận thấy, bà Hiệu trưởng Trường chuyên LHP chưa đủ sức để viết câu: “… Chúng tôi nhận thấy nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo gần đây đã có những nhận định đúng đắn về sự đóng góp to lớn của Trương Vĩnh Ký đối với văn hóa dân tộc” (VN TP.HCM, số 563). Vì sao vậy? Vì từ khi Đổi Mới (1986) đến nay, có nhiều bài báo, công trình viết về Trương Vĩnh Ký nhưng chưa thấy tác giả nào là Hiệu trưởng Trường chuyên LHP hoặc một THPT nào khác ở TP. Hồ Chí Minh hay trên cả nước. Vì có một thực tế là các nhà giáo THPT, các vị Hiệu trưởng ở bậc học này vừa rất bận rộn, vừa rất hạn chế về điều kiện nghiên cứu, khó có thể đi vào đề tài hóc búa này.

Câu văn trên phải ở tầm cỡ như GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam mới viết được. Vì chúng tôi liên tưởng đến luận điểm của GS. Phan Huy Lê:

“Nội dung chủ yếu của cuốn sách là những bài khen tặng Trương Vĩnh Ký lúc sinh thời và những bài khảo cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký từ khi ông qua đời cho đến ngày nay… Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng đã trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối. Những hội thảo và bài nghiên cứu gần đây đánh giá cao những cống hiến văn hóa, những di sản ông để lại, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với những uẩn khúc trong thời gian cộng tác với Pháp, coi ông là một học giả uyên bác, một nhà bác học” (Phan Huy Lê. Lời giới thiệu Petrus Ký nỗi oan thế kỷ. NXB Tri thức và Nhã Nam – 2016. Trg.6).

Chúng tôi trân trọng những đóng góp của Cố GS. Phan Huy Lê với ngành sử học Việt Nam. Song, vấn đề Trương Vĩnh Ký chưa phải đã đến hồi chung cuộc. Và nhất là luận điểm trên được đưa ra (năm 2016) sau khi GS. Phan Huy Lê tuyên bố: “vượt qua rào cản ý thức hệ để có cái nhìn trung thực vào lịch sử” khá lâu (2011). Một quan điểm phi lịch sử, phản khoa học như thế thì không bao giờ khách quan trung thực được. Bởi ý thức hệ không chỉ là vấn đề giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc. Nhất là ngày nay, các ý thức hệ phản động và cực đoan đang núp dưới chiêu bài dân tộc.

Trở lên, muốn trao đổi với bà Hiệu trưởng Trường chuyên LHP rằng trước khi gửi Công văn lên Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, toàn thể giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trường đã có những hoạt động nào để làm cơ sở cho Hiệu trưởng ban hành Công văn. Hay chỉ là chuyện riêng của Hiệu trưởng? Trên cơ sở nào để Hiệu trưởng cho rằng những công trình, bài viết gần đây là có những nhận định đúng đắn về sự đóng góp to lớn của Trương Vĩnh Ký đối với văn hóa dân tộc? Như thế nào là đúng trong vấn đề này.

Chúng tôi xin nhắc lại là các nhận định của GS. Phan Huy Lê, GS. Hoàng Như Mai, GS. Trần Hữu Tá, GS. Nguyễn Đình Chú… về Trương Vĩnh Ký là không đứng trên văn hóa dân tộc mà vẫn còn mang nặng đầu óc nô lệ, nhìn văn hóa dân tộc một cách đứt đoạn, chỉ từ chữ quốc ngữ trở lại đây. Với cách nhìn đó thì Trương Vĩnh Ký và sau này là Phạm Quỳnh… đều là có công lớn đối với văn hóa dân tộc. Ngược lại, nhìn văn hóa Việt Nam từ khởi thủy với tinh thần độc lập tự chủ thì Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh đều có tội lớn đối với văn hóa dân tộc. Vì sao? Khi nói đến văn hóa dân tộc chúng ta phải chú trọng đến bản chất của nó, thể hiện ở truyền thống tư tưởng, tinh thần, ở tính chất của dân tộc. Tính chất bản chất đó thể hiện ở mọi mặt của đời sống cộng đồng dân tộc. Còn chữ viết, văn tự, là công cụ hàng đầu của văn hóa. Chưa có chữ viết, dân tộc vẫn đã có văn hóa – đó là văn hóa truyền khẩu, văn hóa dân gian. Dấu tích vẫn còn trong các di sản văn hóa truyền khẩu của các dân tộc ở Tây Nguyên. Hoặc Tiếng hát làm dâu của dân tộc H’Mông (Mèo) là một di sản truyền khẩu.

Khi có chữ viết thì văn hóa được củng cố, phát triển, lưu giữ, được nhân lên gấp bội. Chữ viết là sản phẩm của văn hóa, là công cụ hàng đầu của văn hóa nhưng không phải hoàn toàn là văn hóa. Phải xem xét đến nội dung của chữ viết. Đó là vấn đề cơ bản khi xem xét giá trị văn hóa của một nhà trước tác. Cùng viết một thứ chữ nhưng nội dung văn hóa, giá trị văn hóa có khi đối lập nhau. Như Phan Đình Phùng và Hoàng Cao Khải. Cùng sử dụng chữ quốc ngữ và chữ Pháp nhưng Nguyễn An Ninh và Phạm Quỳnh là đối lập nhau. Bởi thế, khi xem xét giá trị văn hóa của Trương Vĩnh Ký phải xem trước hết ở nội dung văn bản và tính lịch sử của nó. Cùng hô hào truyền bá chữ quốc ngữ nhưng động cơ, mục đích của Trương Vĩnh Ký khác hẳn với Đông Kinh nghĩa thục sau này. Đó là những điều có sở cứ rõ ràng, chắc chắn.

Vấn đề của Trương Vĩnh Ký là vấn đề của chữ quốc ngữ ở thời kỳ đầu của nó. Thực ra là thời kỳ đầu của chữ quốc ngữ thực dân, khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, dùng chữ quốc ngữ làm công cụ để đồng hóa người Việt Nam theo văn hóa Pháp, cắt đứt truyền thống văn hóa của người Việt mà chữ Hán là công cụ văn hóa suốt 2.000 năm. Trước chữ quốc ngữ thực dân là chữ quốc ngữ nhà thờ, chữ quốc ngữ Ki-tô giáo. Các nhà truyền giáo Ki-tô muốn dùng chữ La-tinh hóa bản ngữ để lôi kéo các dân tộc Á Đông vào quỹ đạo văn hóa Thiên chúa giáo. Nếu mưu đồ này thành công thì Nước Chúa sẽ ngự trị từ Tây sang Đông. Đây là sự xâm lược tàn bạo nhất, độc ác nhất trong lịch sử nhân loại. Không kém gì thực dân, xâm lược bằng vũ lực. Vì nó xóa bỏ các dân tộc, các truyền thống văn hóa khác nhau, giam hãm loài người vào cái lồng văn hóa Ki-tô giáo. Nó nhất thể nhân loại dưới ách của cây thánh giá. Các nhà truyền giáo Ki-tô tìm được chỗ đứng và đất sống ở Việt Nam trước hết là do triều đình nhà Nguyễn suy đồi, nhu nhược, tham lam… đẩy người dân vào cảnh khốn cùng khiến họ phải tìm đến sự che chở của nhà thờ. Cùng trong thời đại đó, Ki-tô giáo không trụ lại được ở Nhật Bản. Một trong những nguyên nhân khiến Nhật Bản không bị thực dân phương Tây thôn tính là Ki-tô giáo không lung lạc được người dân của họ.

Có thể nói, chữ quốc ngữ, thứ chữ La-tinh ghi âm tiếng Việt, khởi thủy, là công cụ xâm lược về tinh thần (đạo Ki-tô), sau đó, thêm một chức năng nữa là công cụ xâm lược thực dân, thế sự. Thực dân Pháp cùng lúc dùng cả hai công cụ: nhà thờ và súng đạn. Chữ quốc ngữ được sử dụng như thế. Đâu phải là cơ may trời phú cho như GS. Trần Hữu Tá hoan hỉ.

Về chữ quốc ngữ, chúng tôi tán thành luận điểm của nhà Ngữ học Cao Xuân Hạo:

“Nhưng tôi luôn nghĩ người Việt mình lẽ ra nên dùng chữ Hán mới đúng, chúng ta dùng chữ quốc ngữ chỉ có lợi là học nhanh nhưng thực sự là rất có hại vì đã tự bứt lìa với nền văn hóa cổ của mình. Người nước ngoài đến du lịch ở Việt Nam nói đa số dân Việt Nam là mù chữ, vì hướng dẫn viên du lịch không ai đọc được câu chữ Hán nào trong các di tích văn hóa đình chùa mà chỉ học thuộc lòng. Do vậy, việc khôi phục chữ Hán trong nhà trường phổ thông là tối cần thiết, nếu không muốn mình bị bứng ra khỏi gốc rễ văn hóa cha ông” (Ngô Ngọc Ngũ Long phỏng vấn Cao Xuân Hạo. Những con người những năm tháng. NXB Hội Nhà văn – 2017. Trg.99).

Trong một dịp khác, Cao Xuân Hạo cũng nói: “Chữ quốc ngữ là một thảm họa không thể hoán cải” (Người Việt – Tiếng Việt – Văn Việt).

Người viết bài này đang trong tình cảnh đó. Sách vở của Cụ Ngoại, đỗ cử nhân làm Huấn đạo Cẩm Thủy (Thanh Hóa) khoảng năm 1913, nay chỉ còn lại câu đối, bức đại tự, nhưng con cháu không đọc được!

Tổng quan về lịch sử thì chữ quốc ngữ đúng là một thảm họa đối với văn hóa dân tộc. Không những không thể hoán cải được (Cao Xuân Hạo), mà sự khắc phục những bất cập của nó là rất khó khăn.

Như vậy có mâu thuẫn với Đông Kinh nghĩa thục, với Hội truyền bá quốc ngữ mà chính các nhà cách mạng đã vận động cụ Nguyễn Văn Tố đứng ra thành lập vào năm 1937 và tiếp tục với phong trào Bình dân học vụ sau này? Hoàn toàn không mâu thuẫn. Phải xem xét tổ tiên chúng ta ứng xử với chữ Hán. Sự tiếp nhận chữ quốc ngữ cũng như trước đây phải tiếp nhận chữ Hán. Đó là bản lĩnh của người Việt Nam, của văn hóa dân tộc Việt Nam, dùng ngay vũ khí của kẻ thù để chống lại kẻ thù, bảo vệ mình. Di sản của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm… là tiêu biểu. Và phải nhìn xa hơn. Chữ Hán hay chữ La-tinh là tài sản, là trí tuệ của nhân loại. Nó bị những thế lực phản nhân văn dùng vào mục đích bành trướng xâm lược. Bản thân ngôn ngữ – chữ viết không gây ra tội ác. Tội ác ở kẻ sử dụng. Bắt đầu là các nhà truyền giáo. Sau đó là các “nhà” thực dân. Trương Vĩnh Ký đã đem tài năng của mình ra phục vụ cho công cuộc thực dân nhằm đồng hóa dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam theo văn hóa Thiên chúa giáo. Đó là một tội lỗi rất lớn của Trương Vĩnh Ký. Những tác dụng phái sinh ngoài ý đồ của Trương Vĩnh Ký là có đóng góp chút ít cho văn hóa dân tộc. Điều đó ta không phủ nhận. Nhưng không vì vậy mà tôn vinh kẻ tội đồ ngang với người đã chiến đấu, hy sinh oanh liệt cho độc lập dân tộc, cho văn hóa dân tộc như nhà cách mạng Lê Hồng Phong. Trương Vĩnh Ký là một người tài, thậm chí rất tài. Nhưng là một tấm gương xấu về nhân cách văn hóa!

Hà Nội, 15-9-2019

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 565

Ý Kiến bạn đọc