Ngoài nước

Không chỉ là sự phản bội

(Những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ một cường quốc vĩ đại)

 

Sự Kết Thúc Mang Tính Chất Tượng Trưng Của Liên Bang Xô Viết Được Thực Hiện Bởi Hai Công Nhân Thuộc Cục Kỹ Thuật Điện Kremli Là Valeri Kuzmin Và Vladimir Arkhipkin.

Vào Hồi 19 Giờ 38 Phút Ngày 25/12/1991, Một Trong Những Ngày Ngắn Nhất Và Ẩm Ướt Nhất Của Năm, Họ Đã Hạ Lá Cờ Đỏ Của Liên Bang Xô Viết Khỏi Cột Cờ Trên Nóc Dinh Tổng Thống Trong Điện Kremli Và Kéo Lên Lá Cờ Ba Màu Trắng – Xanh – Đỏ Của Nước Nga. Liên Bang Các Nước Cộng Hòa Xô Viết Xã Hội Chủ Nghĩa Với Tư Cách Là Một Quốc Gia, Đã Ngừng Tồn Tại.

 

Vào ngày hôm đó đạo luật “Về sự thay đổi của tên gọi nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga” đã có hiệu lực. Một quốc hiệu mới được quy định: Liên bang Nga (nước Nga). Sự thay thế quốc kỳ và thời đại đã mở đầu cho việc lý giải lại kinh nghiệm trước đó. Và không thể nói rằng công việc này đã hoàn tất. Mặc dầu nhiều cái đã rõ ràng.

Chẳng hạn, người ta thường khẳng định rằng ý niệm về việc nhân loại đã đạt tới được một giai đoạn hoàn hảo của sự phát triển và về tính đơn tuyến của sự tiến bộ xã hội là chưa thỏa đáng, nói chung là còn quá sớm. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội tan rã, sự tận thế của lịch sử, kể cả lịch sử của hình thái xã hội chủ nghĩa, không xảy ra. Chủ nghĩa xã hội cho đến nay vẫn đang phát triển, chẳng hạn dưới dạng Trung Quốc và Cuba.

Giá như Ban lãnh đạo Liên Xô lựa chọn con đường vận dụng dần dần những cơ chế của thị trường trong kinh tế mà vẫn duy trì sự kiểm soát của nhà nước thì Liên bang Xô Viết vẫn có thể tiếp tục phát triển. Hiện nay, ngay cả thế giới tư bản cũng còn lâu mới hoàn hảo. Thậm chí trên đỉnh cao của sự phồn vinh và phát triển, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng bị tổn thương bởi những cuộc khủng hoảng. Những cuộc chiến tranh mà các quốc gia thuộc nhóm “7 nước lớn” định dùng để lôi kéo “những nước lạc hậu” lên đỉnh cao của tồn tại, đang làm rung chuyển cả thế giới. Một cuộc chiến tranh lạnh đã nổ ra với nước Nga mà, theo những lời lẽ hùng biện và những thông số khác, đã vượt xa cuộc chiến mà dường như đã bị đào sâu chôn chặt vào những năm 80 của thế kỷ trước.

So-564--Khoi-Dong-Au---Anh-1
Khối Đông Âu (Nguồn: /vi.wikipedia.org).

Nhiều vấn đề đang còn bỏ ngỏ khi xác định những nguyên nhân chủ yếu của việc Liên Xô sụp đổ. Trong phạm vi một bài viết không thể kể ra tất cả những nguyên nhân ấy. Riêng cá nhân tôi tán thành với quan điểm của những người cho rằng sự sụp đổ là hậu quả của sự lựa chọn có ý thức (sự lựa chọn này cũng mang tên sự phản bội sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội) do những người lãnh đạo cao nhất của Liên bang Xô Viết thực hiện. Đó trước hết là M. Gorbachov, A. Jakovlev, E. Shevarnadze và những nhân vật hàng đầu của các nước Cộng hòa lớn nhất (B. Elsin, L. Kravchuk, S. Shushkevich). Họ cùng với một bộ phận đáng kể của giới cán bộ cao cấp về mặt đảng và kinh tế, các ban đặc nhiệm, các doanh nhân tầm cỡ ẩn danh muốn thay đổi chế độ chính trị ở trong nước theo hình mẫu của các cường quốc dân chủ phương Tây, muốn phục hồi chế độ tư hữu, muốn thay thế nền kinh tế theo kế hoạch bằng nền kinh tế thị trường, muốn biến các nước Cộng hòa Liên bang thành các quốc gia độc lập. Bằng cách này hay cách khác, năm 1991 đã trở thành sự hoàn tất việc biến đổi đất nước mang tính chất phản cách mạng, một đất nước được hình thành trong những ngày tháng 10 năm 1917. Tuy nhiên, những chữ ký trong văn kiện ở Belovezh – đó là những chữ ký của những viên thầy thuốc sát nhân thực thụ vốn náu mình sau tấm giấy chứng nhận về cái chết dường như do nguyên nhân tự nhiên của con bệnh gây ra.

Không nên quên rằng các dân tộc của nước Nga vốn được liên kết bởi tính cộng đồng của số phận và bởi những đường biên giới của đất nước mình, trong suốt thế kỷ trước đã kinh qua một chặng đường mà xét về quy mô của những thành tựu và tính chất bi thảm, không thể so sánh được với bất kỳ một thế kỷ nào trong quá khứ. Sự mở đầu của thế kỷ bao gồm 2 cuộc chiến tranh thế giới và Nội chiến, 3 cơn địa chấn cách mạng làm lay chuyển những nền tảng của cuộc sống, 2 cuộc cải tổ triệt để về ý thức xã hội và quản lý kinh tế. Những người từng làm nên cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại, mong muốn đổi mới triệt để xã hội và đã sống bằng niềm khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Những nỗ lực phi thường đã được đầu tư vào việc cải tổ xã hội chủ nghĩa đối với nông thôn và thành thị. Họ đã tạo được một nguồn tiềm lực khổng lồ về kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự vốn cho phép đưa đất nước lên trình độ của những cường quốc phát triển nhất thế giới và bảo vệ sự độc lập của nó trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa phát xít. Đến giữa những năm 1950, Liên Xô đã rút ngắn một cách đáng kể tình trạng tụt hậu so với Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong sản xuất tổng sản phẩm quốc nội. Từ những năm 1960, khoảng cách lại gia tăng. Trong năm 1955, tổng sản phẩm quốc nội của Liên Xô bằng 35% tổng sản phẩm quốc nội của Hoa Kỳ; năm 1965 là 28%; năm 1975 là 27%; năm 1985 là 22%; còn năm 1990 chỉ còn là 17%.

Nền văn hóa chính trị của nhân dân từng ước mơ xây dựng một xã hội tự do và công bằng, té ra là chưa đủ để giải quyết những nhiệm vụ mà cuộc cách mạng năm 1917 đã đề ra. Trong 70 năm tồn tại của Liên bang Xô Viết thì gần 20 năm lo việc binh đao. Sau cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Liên Xô trong vòng 45 năm bị kiệt sức bởi cuộc chiến tranh lạnh. Và, hỡi ôi, giới lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây, không thực hiện được một cách tương ứng những mong đợi của nhân dân về một cương lĩnh hành động có hiệu quả. Ở trong nước đây đó đã xuất hiện sự căng thẳng xã hội và những tình huống khủng hoảng, đi kèm theo với sự đụng độ gay gắt trên đỉnh cao quyền lực, với việc sử dụng vô lối những biện pháp cưỡng chế thô lỗ và bạo lực đối với dân chúng như những phương tiện xây dựng “cuộc sống mới”. Xã hội Xô Viết không điều chỉnh được hệ thống tự quản và kiểm soát có hiệu lực của “các tầng lớp bên dưới” đối với “các tầng lớp thượng lưu” và họ trở thành những người không được bảo vệ trước sự chuyên chế của các lãnh tụ và trước sự lộng hành của bộ máy cai trị của Đảng và Nhà nước.

Nguyên nhân chủ yếu của việc Liên Xô sụp đổ mà hiện nay được xem như “thảm họa địa – chính trị lớn nhất của thế kỷ” (V. Putin – 2005) là sự sụt giảm đặc biệt nghiêm trọng tốc độ tổng sản lượng quốc nội, trình độ lạc hậu trong việc áp dụng những thành tựu của sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật, sự bất lực của giới lãnh đạo đất nước đối với những cải cách và sự đảm bảo một mức sống xứng đáng. Chính điều đó đã đóng một vai trò quyết định trong việc kích thích những quá trình tan rã.

Yếu tố dân tộc cũng có một ý nghĩa không kém phần quan trọng đối với sự sụp đổ của Liên Xô.

Lịch sử chính sách dân tộc từ những năm đầu của chính quyền Xô Viết là lịch sử của việc thường xuyên khắc phục những mâu thuẫn và những trở ngại vốn có và lại xuất hiện trong một quốc gia đa dân tộc. Mặc dầu, như các công trình lịch sử cho thấy “chủ nghĩa đế quốc Xô Viết” không hề kém tàn bạo so với các mẫu mực kinh điển phương Tây của nó. Nó thường tạo ra những cơ hội, thậm chí rất lớn, cho các bạn đường “đàn em” của dân tộc Nga về mặt kiến tạo nhà nước. Khó lòng hình dung ra một người da đỏ làm Thủ tướng của Vương quốc Hợp chủng hoặc một người Việt Nam làm Tổng thống Pháp. Ở Liên Xô trong 70 năm lịch sử của nó có một khoảng thời gian đáng kể trùng khớp với những năm cai trị của những nhân vật chóp bu đại diện không phải của dân tộc Nga mà của các dân tộc khác trong Liên bang Xô Viết. Điều đó cũng nói lên trình độ cao của thái độ bao dung trong quan hệ giữa các dân tộc, khả năng và nguyện vọng của họ muốn chung sống với nhau trong hòa bình và trong mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, cùng kề vai sát cánh chung lưng đấu cật khắc phục khó khăn.

Nhưng, như chuyện này càng ngày càng thấy rõ đóng vai trò quyết định trong số phận Liên bang Xô Viết là cái điều mà V. Molotov ở tuổi xế chiều đã đi đến kết luận: “Đảng Cộng sản cũng không thể giải quyết được vấn đề Nga. Tức là quy chế của nước Nga trong Liên bang Xô Viết phải nên như thế nào?”. Sự thừa nhận này, theo ý kiến của nhà sử học V. Kuznechevski, đã “giải đáp đầy đủ cho câu hỏi: Tại sao Liên bang Xô Viết lại ngừng tồn tại trong tháng 12 năm 1991?”.

Tiết chế nhà nước với quyền tự do rút ra khỏi Liên bang Xô Viết của các nước Cộng hòa (V. Putin – 1/2016) từng được hợp thức hóa bằng Hiến pháp ngay từ năm 1924 là một thứ “mìn nổ chậm”.

Trong khi đó, trước khi thành lập Liên bang Xô Viết khá lâu, đã được đề xuất việc tìm kiếm một lộ trình dẫn tới thiết chế tối ưu của nhà nước đa dân tộc bằng cách lưu ý tới sự tồn tại của ba giai đoạn lịch sử vốn đồng thời là “ba nhân tố pháp lý của tình hình dân tộc trong nhà nước:

1) Chế độ tập quyền nhà nước – với tư cách là sự trấn áp của nhà nước hùng mạnh đối với tất cả các người dị tộc; 2) Chế độ liên bang địa phương với tư cách là sự thống trị của dân tộc “chính gốc” ở một vùng được kế thừa về mặt lịch sử đối với các dân tộc thiểu số (chế độ tập quyền bản địa), và 3) Chế độ liên bang dân tộc với tư cách là sự bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc, sự bình đẳng này về nguyên tắc không biết đến các dân tộc thiểu số với tư cách là những tập thể bất bình đẳng đối với dân tộc thống trị về mặt dân số hay về mặt xã hội lịch sử”.

Tôi nghĩ rằng giai đoạn sau cùng mà nhà luật học M. Ja. Lazerson viết trong năm 1918 bằng thứ ngôn ngữ cổ lỗ chính là giai đoạn mà chúng ta cho đến nay cố tìm cách tiếp cận.

Năm 2016 đã kết thúc 1/4 thế kỷ từ khi nước Nga bước vào một thời kỳ phát triển mới vốn được đánh dấu bằng sự đoạn tuyệt với ý thức hệ cộng sản và bằng sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Những giai đoạn đã qua trên con đường quá độ từ “chủ nghĩa xã hội phát triển” đình đốn sang chủ nghĩa tư bản tài phiệt rồi sang chủ nghĩa tư bản tài phiệt quan liêu hiện vẫn chưa cho phép ta nói về chúng như về những giai đoạn thành công ban đầu trong việc kiến tạo, theo Hiến pháp của nước Nga năm 1993, một nhà nước xã hội đảm bảo “một cuộc sống xứng đáng và sự phát triển tự do của con người”.

(Theo Literaturnaja Gazeta)

Aleksandr Vdovin
(Nhà sử học, giáo sư trường Đại học Tổng hợp Lomonosov – MGU)
Lê Sơn (giới thiệu và dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 564

Ý Kiến bạn đọc