Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Không chỉ là một Nhà báo

Chào Mừng Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2019)

Đây Là Chuyện Đời Rất Thực Về Một Nhà Báo, Bút Danh Lương Ngọc, Tên Thật Là Lê Văn Diện, Quê Lương Hòa Lạc (Tiền Giang), Một Người Trí Thức Việt Nam Giàu Lòng Yêu Nước, Sống Rất Giản Dị, Trung Thực, Mang Đậm Những Nét Đặc Trưng Tích Cực Của Vùng Đất Mới Phương Nam.

Tôi Đã May Mắn Gặp Anh, Quen Thân Với Anh, Đã Viết Về Anh… Và Tôi Vẫn Luôn Nghĩ Rằng Anh Cần Được Hiểu Nhiều Hơn, Được Quí Trọng Hơn, Bởi Sự Cảm Nghĩ Cùng Những Hành Động Của Anh Vượt Qua Bao Nhiêu Rào Cản Và Những Giới Hạn, Ở Trong Cuộc Sống Thường Tình.

 

Sau khi Diệm đổ được chừng vài năm thì tôi gặp anh trong những hoạt động báo chí nội thành. Thoạt đầu, anh có cái dáng vẻ là người tầm thường, thuộc loại bất tài và ít kiến thức. Về sau, tôi có trải nghiệm để tự nhủ rằng những người có hiểu biết rộng và nhiều tài năng thường có dáng vẻ là người tầm thường.

Là một ký giả, anh viết đủ loại đề tài. Tưởng anh chỉ sở trường về báo chí và văn học, nhưng không phải vậy. Anh tự minh họa các bài mình viết bằng một cây cọ sắc sảo và không chịu dừng ở đấy, còn góp nhiều ý cụ thể cho các công trình kiến trúc lớn lao. Chỉ làm một văn nghệ sĩ vào loại tổng hợp và có khả năng cũng đủ mệt rồi. Nhưng ở lĩnh vực kinh tế và cả khoa học, anh còn tỏ ra am tường nhiều hơn.

Một lần, thấy anh ngồi dịch thoăn thoắt một bài nghiên cứu trong tạp chí Pháp ra tiếng Việt mà không cần đến tự điển, tôi hơi ngạc nhiên. Nhưng một hôm khác, anh lại dịch từ tiếng Anh, và cũng dễ dàng như thế. Thấy tôi đứng nhìn, anh nói: “Tiếng này đã là ngôn ngữ phổ thông, không biết sẽ tự hạn chế mình nhiều”. Tôi chỉ thật sự ngạc nhiên, khi anh đọc báo chữ Hoa và nói tiếng Hoa như một “xì thẩu” chính hiệu. Anh lại biện bạch: “Ở ngay sát nách một nước khổng lồ cỡ đó, suốt mấy ngàn năm va chạm rồi lại hòa hiếu mà không hiểu biết ngôn ngữ của họ, chỉ tổ thiệt hại cho mình”. Khi tôi nói lời thán phục, anh đáp giản dị:

- Có gì mà khen. Thiên hạ nhiều người biết đến cả chục sinh ngữ. Có người đến vài ba chục, còn tôi thì nhằm nhò gì. Vấn đề là có chịu ngồi lại học hay muốn đi chơi, tán dóc, nhậu nhẹt. Chúng ta nói chuyện học tập Bác Hồ nhưng có khía cạnh tôi thấy Bác có thẩm quyền và lại nhìn xa mà ít nghe đề cập đến, là chuyện Bác thành thạo nhiều ngoại ngữ.

Theo anh, dân tộc chúng ta có một cái thiếu và một cái thừa. Cái thiếu, là vốn kiến thức mới nhất của toàn nhân loại. Trí thức của ta không nhiều, một số lại học từ chương, một số học gạo, một số học cũ. Cái thừa, là xã hội nghèo mà quá lãng phí, trước hết hãy nói về thứ tài sản vô giá, đó là thì giờ.

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, anh đã tìm đủ mọi cách để mà học hỏi. Khi học ở trường Mỹ thuật Gia Định, anh là sinh viên xuất sắc. Anh lại song song theo đuổi học môn kiến trúc, và cũng là người thiết kế vào loại ưu hạng. Anh cũng đồng thời nghiên cứu cặn kẽ ngành trồng trọt và chế biến cao su, còn dành thì giờ nghiên cứu thêm về địa chất, thủy lợi và cả y khoa… Không có ngành nào mà anh chịu thi để lấy mảnh bằng. Anh chỉ ham được hiểu biết, không mất thì giờ cho việc thi cử, cốt tích lũy cho được nhiều kiến thức. Anh tâm sự: “Người Việt mình còn nỗi đói khát lớn – đói khát kiến thức khoa học”. Anh đã thể hiện phần nào được sự bức xúc trong việc thỏa mãn cái nhu cầu ấy.

Với vốn hiểu biết phong phú, anh viết sâu rộng được nhiều đề tài. Nghe tôi đề cao sự uyên bác ấy, anh đã trả lời:

- Tôi nghĩ viết báo trước hết ta phải phản ánh cho được sự thật. Nhưng không hiểu rõ sự việc thì làm sao nói thật được. Do vậy, làm báo thì phải học nhiều, đi nhiều. Kiến thức vốn là mênh mông, hiểu biết của tôi còn quá hạn chế. Những môn mà tôi tìm học không chỉ là để làm báo mà tôi mong rằng có thể nhờ đó sáng tạo được gì giúp ích cho đồng bào mình còn quá khổ nghèo.

Tham gia kháng chiến chống Pháp, anh trở về thành sau Hiệp định Genève, bị giam giữ trong vài năm và phần còn lại là để tìm học. Vào năm 1960, thấy tuổi xấp xỉ 40, anh nghĩ đến chuyện lấy vợ. Bấy giờ anh muốn tìm một người vợ đã có con sẵn, một người đã bị chồng bỏ hay đã bỏ chồng, hoặc một góa phụ, miễn có được vài đứa con để anh tiếp tay nuôi dưỡng mà vợ khỏi cần phải sinh đẻ nữa. Đó cũng nằm trong quan điểm tiết kiệm thì giờ cũng như công sức của anh. Chẳng lẽ một người hiểu biết như anh mà không nhận thấy tình yêu quan trọng thế nào đối với cuộc sống hay sao? Về sau, tôi tìm được nguyên nhân lớn khiến anh chấp nhận lựa chọn đơn giản như thế trong chuyện vợ chồng.

So-551--Tam-biet---Nguyen-Thanh-Chau---Anh-1
Tạm biệt – thuốc nước – Nguyễn Thanh Châu.

Khi còn là sinh viên trường Mỹ thuật Gia Định, một hôm đang ngồi mải mê ghi lại một góc Lăng Ông trên giấy anh bỗng cảm thấy có ai đứng sau lưng mình, hẳn đã khá lâu, dõi theo công việc anh làm. Đến khi quay lại, anh thấy một cô gái nhỏ, tuổi trạc 15-16, vẻ mặt thánh thiện và thật xinh đẹp. Anh lúng túng trở về với những đường nét dở dang và không quay lại nhìn cô gái nữa. Không chỉ mắc cỡ, anh còn sợ mất thì giờ trau dồi nghề nghiệp. Những khi tan trường, anh luôn bắt gặp cô gái đứng nhìn anh vẽ đây đó với sự chăm chú của niềm say mê. Phải gần hai năm thầm lặng, anh mới tìm thấy can đảm cũng như thì giờ nói chuyện với cô. Cô đang học ban tú tài ở trường Marie-Curie. Cô mời anh đến thăm nhà và anh nhận lời, nhưng đến nhà cô anh cảm thấy nỗi xa cách với người con gái và càng dè dặt. Cô là con của một chánh tổng đương quyền, giàu có, ở vùng Gia Định, sống trong biệt thự rộng lớn như một dinh cơ. Tuy nhiên, cô gái yêu nghệ thuật đó lại là một người trong sáng, hiền lành, xinh đẹp tuyệt vời nên anh không đủ can đảm để mà dứt khoát, dù anh biết rằng gia đình của cô sẽ không bao giờ chịu chấp nhận anh.

Rồi cuộc Cách mạng tháng Tám bùng nổ, tiếp đến là cuộc Nam bộ kháng chiến cuốn hút mọi người yêu nước vào các hàng ngũ tấn công quân thù. Anh đã vội đến giã từ người yêu để sớm lên đường giết giặc. Anh chỉ nói được một câu ngắn ngủi: “Hãy quên anh đi”, và người con gái đứng yên, nước mắt tuôn dài. Rồi cô nghẹn ngào nói trong tiếng nấc: “Em vẫn mãi mãi yêu anh”. Họ hôn chiếc hôn chia tay, nụ hôn duy nhất của ba năm trời gặp gỡ, yêu thương và phải cách xa.

Từ đó hai người biền biệt không biết tin nhau. Anh bị chiến trường kéo đi khắp miền sông rạch phía Tây và không muốn gởi thư về cho người yêu dấu vì cảm thấy rõ cách ngăn ở giữa hai người, hơn nữa không muốn có mối liên hệ với một gia đình sống vùng bị chiếm lại đang làm việc cho địch, còn cô gái thì làm sao biết anh dừng bước nơi đâu.

Sáu năm xa cách và một ngày nọ, giữa đường, anh tiếp mấy người từ thành phố vào tham gia kháng chiến. Trong họ có người gần gũi gia đình cô gái, và anh được biết tin người mình yêu…

Hai năm sau khi anh đi, cô gái bị cha ép buộc lấy chồng. Người đến hỏi cô là một đồn trưởng, một sinh viên Pháp, đến tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự và được điều sang Việt Nam. Anh chàng đẹp trai rất hào hoa này vẫn thường ghé nhà của người Chánh Tổng dưới quyền, và đã phải lòng cô gái, nên xin cưới cô. Ông Chánh Tổng không mong ước gì hơn, xem đó là ân huệ lớn cho gia đình mình. Cô gái, sống dưới uy quyền của người cha chuyên chế không dám chối từ nhưng cô tìm cách trì hoãn – mượn cớ là cần phải lấy xong bằng tú tài – hy vọng sẽ có tin tức người yêu để tìm sum họp. Một năm trôi qua. Cô gái thi hỏng, có lẽ là cô muốn vậy. Rồi cô xin hẹn lại một năm khác, nhưng người đồn trưởng không thể chờ lâu và người cha cô không chịu nhượng bộ. Vâng, cô sẽ lấy chồng. Người cha vui mừng sắm sửa cho con mọi thứ xa hoa. Sau ngày Giáng sinh sẽ là lễ cưới. Buổi sáng ngày Giáng sinh ấy cô xin phép cha cho đi Đà Lạt, như người Sài Gòn ngày xưa vẫn quen tìm đến miền cao nguyên này vào ngày hoa nở và trời giá lạnh. Cô chỉ muốn đi một mình và cô ăn mặc thật đẹp, tự lái chiếc xe du lịch lên ngả Lâm Đồng. Đến đèo Bảo Lộc, có người thấy cô dừng xe ra ngồi bên một bờ đá rất lâu ngắm nhìn núi rừng, có lẽ cô còn hy vọng, lần cuối tìm thấy bóng dáng người yêu. Rồi cô lái xe quay về, và cô xả hết tốc lực, đổ dốc, lao xuống hố sâu. Người ta tìm thấy xác cô trong chiếc xe hơi bẹp dí và một lá thư tuyệt mệnh. Cô không thể sống với người mà cô không yêu, và cô không muốn phản bội lời hứa của mình với kẻ ra đi…

Chắc anh đã đau khổ nhiều, sau khi biết tin, và cái chết ấy giúp anh nhìn thấy rõ hơn tình yêu ở nơi lòng mình. Anh biết anh không còn yêu được nữa. Và bây giờ anh phải lập gia đình, phải nuôi con cái là để làm tròn trách nhiệm với cuộc sống này. Cuối cùng, anh gặp được một góa phụ hiền lành, có hai người con. Đám cưới được tổ chức chu đáo và xong cái lễ thành hôn anh đã là cha của hai đứa trẻ, một trai lên 15 tuổi và một gái lên 10 tuổi. Năm năm chung sống, chị sinh cho anh một bé gái, cố gắng duy nhất và là cuối cùng của chị trong cái chặng đường làm lại cuộc đời. Anh mừng vô hạn, vì mặc dầu rất thương yêu những đứa con riêng của vợ, anh vẫn tìm thấy trong đứa bé này hình ảnh của mình và anh gởi gắm vào đó rất nhiều kỳ vọng đối với cuộc sống. Bấy giờ anh biết thế nào là cưng chiều con, và đẩy nghệ thuật cưng chiều lên đến tột đỉnh.

Rồi anh vào tù, vì hoạt động lại. Tôi cũng bị bắt một lượt với anh. Lúc đưa xuống trại tập trung để chịu an trí dài hạn anh đã tình nguyện làm hỏa đầu quân. Anh thích ăn uống nhiều chăng? Trái lại. Theo anh, khẩu phần của tù hết sức hạn chế và nhiều người lo bếp núc cho tù chỉ nghĩ đến dành phần lớn cho mình, lại quen lãng phí. Anh nói: “Từ đây, tôi nhường khẩu phần của mình cho các anh em”.

- Thế anh ăn gì?

- Ăn những cái gì đã được vứt đi.

Theo anh, các loài rau cải thường được cắt bỏ gốc rễ, ném vào sọt rác. Nhưng gốc rễ là bộ phận của cây, nếu không nói là bộ phận quan trọng, tại sao không có giá trị dinh dưỡng? Anh rửa thật sạch các gốc rễ đó, đoạn nào già cỗi thì lột bỏ hết phần ngoài và lấy cái lõi ở trong để luộc chấm mắm. Còn cơm, nấu trong những chiếc chảo lớn vẫn còn phần cháy dưới cùng, thường được nạo bỏ. Nó vẫn là cơm, miễn là chưa cháy thành than, có thể nuôi sống con người. Và anh chỉ ăn các phần cháy ấy. Anh nói:

- Khối lượng thức ăn phải tùy khối lượng công việc. Ở tù, ăn làm gì nhiều? Những kẻ ngoài đời ráng ăn thừa mứa và bắt cơ thể đào thải vất vả, còn làm cái kho dự trữ nặng nề. Tiếp thu đã nhọc, bảo quản càng khó, vấn đề kho bãi ngoài đời đã là một vấn đề lớn, huống gì bắt cơ thể mình gánh phần chứa chấp gian nan. Cứ xem những người béo mập, phục phịch, có ai là sống lâu đâu? Họ phải trả giá cho sự ham ăn của họ.

Và suốt 3 năm, anh đã sống đúng như thế, chẳng những không xâm phạm đến thực phẩm anh em mà còn trao cái phần mình cho người thiên hạ. Trong xã hội này, ở đâu – kể cả trong bếp nhà tù – anh cũng nhìn thấy lãng phí, và muốn bài trừ.

Sau khi ra tù, tôi có dịp hiểu sâu hơn về việc anh đã nhường hết phần ăn mà tôi cảm thấy có gì không được bình thường. Nguyên là trước đó mấy năm, khi Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên ở Sài Gòn này thì một tỉnh trưởng Mỹ Tho, triệu tập một số văn nghệ sĩ Cách mạng đã chống Pháp ở bưng biền về thành để hòng thuyết phục họ làm tay sai cho Diệm. Anh Lương Ngọc cũng trong sự bị tập trung ấy, và sau khi đã ra về có người dò hỏi về cách ứng xử của các văn nghệ sĩ bị triệu tập thì được cho biết là mọi người đều im lặng, chỉ có Lương Ngọc là giành ăn với anh em. Lời nhận xét tồi tệ ấy đã đến tai anh khiến anh mất ngủ nhiều đêm, cảm thấy bị sự xúc phạm nặng nề, song không cách gì để giải tỏa được. Và đến chuyến vào tù này, hẳn anh đã thấy có dịp để chứng tỏ sự trong sáng, cao thượng của mình qua việc nhường cả phần ăn suốt 3 năm dài, và nếu thời gian giam giữ còn lâu hơn nữa chắc anh vẫn không thèm đến miếng ăn được dành cho mình.

Quần quật cả ngày dưới bếp phục vụ cơm nước cho trại, tối đến anh phải bị nhốt vào phòng như mọi tù nhân. Thường đêm, thấy anh trằn trọc, loay hoay, tôi hỏi:

- Không ngủ được sao?

- Được chứ. Làm việc cả ngày, tối rất dễ ngủ. Nhưng ngủ nhiều, có ích gì? Chúng bắt giam giữ chúng ta là để trừng phạt, để những năm tháng trôi qua trong mỗi cuộc đời trở thành vô nghĩa, phí phạm. Nếu ta cũng để ngày giờ trôi đi mà không thu hoạch được gì hữu ích là mắc mưu địch, và là tự phản bội mình.

- Thế anh thu hoạch những gì?

- Nhiều lắm. Tôi chia mỗi tối ra làm ba phần. Phần giữa là ngủ. Phần cuối, thường đêm quá dài không sao ngủ hết, tôi dậy thật sớm, bấy giờ không khí im lặng, ít bụi, tôi ngồi thiền định và hít thở theo nội công. Thở, tức là sống. Hết thở, là chết. Do đó luyện thở cho sâu, cho mạnh, điều hòa khắp các cơ năng là điều tối cần, và giữ cho óc tập trung để được minh mẫn. Còn cái chặng đầu thì tôi suy nghĩ về những công việc sẽ làm một khi ra tù. Ở tù, không thể là sự lãng phí.

- Thế các công việc mà anh sẽ làm…

Theo anh, miền Nam là xứ nóng nên không cần phải quan tâm nhiều đến cái mặc mà nên lo trước cái ăn. Cơm gạo, thức ăn, cùng với chất đốt là ba đề tài mà anh suy nghĩ trong nhiều loạt đề tài khác. Ruộng đất miền Nam mênh mông, thừa sức cung cấp cái ăn cho xứ sở này và xuất khẩu nữa. Trên cơ sở những hiểu biết vốn có từ lâu của mình, anh đã nghĩ đến một loại thuốc trừ sâu rầy phá hoại mùa màng hết sức công hiệu, chỉ dùng toàn những vật liệu dễ tìm trong nước, khỏi phải nhập những hóa chất tốn nhiều ngoại tệ mà còn gây hại đời sống nông dân. Đồng thời những thuốc của anh có tính xúc tác và cả bồi bổ, tăng trưởng hoa màu gấp bội.

- Về những thức ăn – Anh nói – hàng năm chúng ta có một nguồn cá mênh mông khỏi phải nuôi dưỡng cũng như đánh bắt công phu. Sẽ đào ở Đồng Tháp Mười một cái hồ lớn, rộng nhiều trăm mẫu, để hứng cá ở Biển Hồ hằng năm theo nước tràn về. Đất được vét lên, đắp ở quanh hồ sẽ trồng toàn dừa, đấy là chợ cá khổng lồ… Có thể chuyên chở đi khắp các nơi bằng những trực thăng… Còn chất đốt đã có sẵn với khối lượng lớn vô cùng, nếu biết khai thác cho có kế hoạch. Đó là than bùn ở vùng U Minh, đào lên cho vào máy xay, pha trộn một tỉ lệ nhỏ lưu huỳnh rồi đem ép thành từng thỏi như viên gạch thẻ, có một sức nóng rất lớn, tiện dụng và không quá đắt.

Đôi bạn tù nghe anh nói đã không ngăn được nụ cười chế nhạo, một số tỏ ra thán phục, còn tôi – vốn không hiểu gì về những chuyện này – nên phải làm thinh, nhưng vẫn quí trọng tấm lòng của anh trước những vấn đề lớn lao của xã hội mình.

Sau ngày Giải phóng, do bị bận rộn nhiều việc, tôi không có dịp gặp anh. Độ 3 năm sau, một hôm anh đến thăm tôi và anh cho biết Chợ cá khổng lồ cho toàn miền Nam không thực hiện được do Khơme Đỏ đang uy hiếp vùng biên giới Tây Nam. Than bùn ở vùng U Minh thì từ nhiều tháng đã bị đốt cháy, ngầm trong lòng đất, mà không được sự dập tắt kịp thời. “Một sự lãng phí không lường được hết hiệu quả” – Anh chép miệng than.

- Còn thuốc trị sâu rầy?

- Tôi đã chế xong, phải mất 2 năm thí nghiệm ở nhiều đám lúa ngoại thành. Kết quả khả quan ngoài sự chờ đợi. Tôi bèn đem xuống một tỉnh miền Tây, trình bày sản phẩm, đề nghị hợp tác sản xuất để tăng vụ mùa. Các lãnh đạo tỉnh bèn cho thí nghiệm, thấy kết quả tốt, rất là tán thưởng. Tôi được giao cho một số chuyên viên ở ngành canh tác cùng bàn phương án tiến hành. Người ta yêu cầu tôi viết cụ thể công thức của mình để đưa cấp trên xét duyệt. Tôi chỉ ghi 10 chất liệu – và là thứ yếu – trong tổng số 15 chất tạo ra thành phẩm. Ghi xong, họ bảo tôi hãy về nhà chờ đợi, bao giờ được tin sẽ có giấy mời. Lúc xuống thì nào đem xe tiếp đón, tổ chức liên hoan, khi về thì trao một vé xe đò và lạnh như tiền, không có một lời ơn nghĩa – dẫu là khách sáo. Tôi hiểu rằng cái giấy mời mà họ hứa gởi cho tôi, dẫu chờ đến Tết Marốc cũng không thấy được. Vì họ tưởng đã nắm được công thức và sẽ tha hồ khai thác để mà thủ lợi, còn tôi, dẫu cho rước bằng kiệu vàng tôi chẳng bao giờ trở lại cái nơi chốn ấy.

- Nhưng anh tạo ra sản phẩm để giúp đồng bào.

- Đúng vậy. Để giúp đồng bào, chứ không để giúp cho bọn đầu cơ, tham nhũng, trục lợi bất chính. Chỉ hợp tác được với những kẻ xấu khi nào chúng ta đã có ưu thế hơn hẳn.

Tôi hiểu rằng đấy chỉ là lời phát biểu nhất thời của lòng tự ái tổn thương, và của hụt hẫng từ cõi mơ tưởng xuống những lệch lạc đời thường. Rồi anh sẽ lại hì hục đọc những chồng sách đủ loại, hì hục pha chế trong phòng thí nghiệm dã chiến là cái chái bếp chật hẹp với hy vọng sẽ giúp ích được chút gì đó cho xã hội mình. Ngay trong 4 vách nhà tù anh còn loay hoay kiến thiết tương lai, huống là được sống thảnh thơi giữa 4 tường nhà.

Một thời gian sau, tôi đến thăm anh. Anh ngồi xếp bằng theo lối thiền định, giữa một đống sách, trong cái chái nhỏ lợp tôn, đôi mắt nhắm nghiền, im lặng như một pho tượng. Tôi phải tằng hắng rất lớn anh mới mở mắt. Anh mời tôi ngồi. Tôi thấy trên mặt đi-văng anh đang tọa thiền có lỗ hổng lớn. Anh vội giải thích:

- Đi-văng này quá cũ rồi, chỗ ấy đã bị mục nát. Bỏ đi thì cũng lãng phí, vá lại thì cũng uổng công, thôi thì để vậy mà dùng. Nhưng tôi sẽ không để lỗ hổng ấy trở thành vô dụng mà đã đặt ngay dưới đấy một cái can xăng 10 lít. Khi mình cảm thấy đã suy yếu rồi, thì mình sẽ lên tọa thiền trên lỗ hổng ấy. Cái chết xuất hiện bất đầu từ đôi chân, bấy giờ cặp chân lạnh trước rồi dần lên bụng, lên ngực, lên đầu. Khi lên tới bụng mình sẽ còn đủ thời giờ để cầm hộp quẹt, châm một ngòi lửa cuối cùng cho số xăng kia.

Anh tính chết trong tư thế tọa thiền vẫn gọn gàng hơn, nếu cần chôn cất thì cái áo quan cũng không tốn quá nhiều gỗ, chỉ thêm lãng phí, mà nếu xăng kia đủ thiêu cháy mình thì đỡ khiêng lên tới tận An Lạc, hay xuống tận dưới Đồi Viễn, thiêu xác chỉ mất thêm tiền. Anh đứng lại, nhìn lên, nói tiếp:

- Ở trên lợp tôn, tường thì bằng gạch, bên ngoài có vạt sân nhỏ, như thế tránh được hỏa hoạn lây lan sang nhà đồng bào.

Anh đã dự tính được hết trong cái chu kỳ khép kín đời mình, và anh đặc biệt quan tâm, chống điều lãng phí trong mọi lãnh vực, kể cả học tập, tình yêu, gia đình, và hợp tác ngoài xã hội cũng như lúc phải vĩnh viễn giã từ sự sống để trở về lại cuộc đời cát bụi.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 551

Ý Kiến bạn đọc