Tản văn

Không biết bao nhiêu máu và nước mắt

Hơn 3 năm trước, lúc đang ngồi gõ bàn phím, tôi nhận được điện thoại của nhà văn Lê Văn Thảo. Giọng nhà văn hào hứng và nói khá to (sau này tôi được biết là để át tiếng gió): “Anh đang ở chỗ cột cờ Lũng Cú. Em đến đây chưa?”. Khi tôi trả lời là mình chưa đến, anh Thảo nói: “Vậy thì em nên đến. Chưa đặt chân đến đây em chưa thể hình dung được cái cảm giác thiêng liêng…”.

Dưới chân cột cờ Lũng Vú

Tôi cùng đoàn cán bộ Ban Tuyên giáo và anh chị em văn nghệ sĩ đặt chân đến Đồn biên phòng Lũng Cú, đơn vị bảo vệ cột cờ, nằm dưới chân núi Rồng, lúc mặt trời đã ngả về hướng tây. Khi nhìn thấy cột cờ cùng lá cờ tung bay giữa đất trời trong nắng hè vàng rực, trái tim trong lồng ngực tôi như cồn lên. Trong lúc đoàn chờ đồn biên phòng cho phép xe ô tô được tiếp tục di chuyển lên thêm một đoạn đường nữa (xe đi suốt chặng đường từ Hà Nội, vượt qua nhiều cung đường hiểm trở, đa số thành viên trong đoàn đều thấm mệt) về phía sườn núi Rồng, tôi lật đật tách đoàn, gọi một chiếc xe ôm.

Huynh-Thi-Nha-con-gia-Anh-hung-Liet-si-Huynh-Van-Banh-thap-huong-truoc-mo-Liet-si-tai-Nghia-trang-Truong-Son
Huỳnh Thị Nhã, con gái Anh hùng Liệt sĩ Huỳnh Văn Bánh
thắp hương trước mộ Liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Ảnh: B.N.

Sau ít phút , chiếc xe gắn máy của một người đàn ông Pà Thèn đưa tôi đến sát bậc thang đầu tiên dẫn lên cột cờ.

Khi leo lên hết gần 300 bậc thang và đặt chân đến chân cột cờ Lũng Cú, tôi hiểu phần nào cái cảm giác, cũng như mường tượng được vẻ mặt bồi hồi xúc động khi nhà văn Lê Văn Thảo gọi điện cho tôi nói về cảm giác thiêng liêng mà anh muốn chia sẻ. Sinh thời, nhà văn Lê Văn Thảo lúc nào cũng hào phóng. Sự hào phóng nơi nhà văn đàn anh là sẵn sàng chia sẻ cảm giác vui buồn, chia sẻ ký ức về năm tháng không quên thời khói lửa chiến tranh mà thế hệ nhà văn các anh trực tiếp cầm súng ra trận, chia sẻ những trải nghiệm được mất của mình cho anh em, bè bạn, đặc biệt là bạn văn. Tôi muốn được chụp ngay một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc đứng bên bệ cột cờ có mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt của trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước. Đứng ở vị trí đó và ngước nhìn lên lá cờ bay phần phật trên đỉnh cột – nơi mà hơn 3 năm trước, có lẽ nhà văn Lê Văn Thảo cũng đứng nơi này, cũng chụp hình, cũng phập phồng nhịp thở như tôi lúc này. Nhưng, tôi chưa thể nhờ chụp được. Tôi nhấp nhổm chờ từng thành viên của đoàn người cao tuổi mặc áo đỏ in sao vàng trên ngực – họ đang lần lượt chụp hình, cũng tại vị trí mà tôi muốn chụp. Trong lúc chờ, tôi bắt chuyện với một thành viên của đoàn. Hóa ra, ông từng là người lính cầm súng chiến đấu tại mặt trận Lạng Sơn trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung. Nơi đó, cũng như nhiều mặt trận ở Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang… đồng đội ông, nhiều người vĩnh viễn nằm lại. Trong cái nắng chói chang trên đỉnh núi Rồng, gương mặt người cựu chiến binh hằn rõ những nếp nhăn và cảm xúc. Người cựu binh, cũng như tôi, lần đầu đặt chân đến nơi này.

Lần đầu được đứng trên đỉnh núi Rồng, nơi cách đây hơn 1.000 năm, thời Lý Thường Kiệt, sau khi đánh bại nhà Tống xâm lược, đã cho dựng cột cờ và lá cờ Tổ quốc tung bay giữa đất trời nơi địa đầu nước Việt.

Lần đầu tiên thấy cột cờ Tổ quốc mà lịch sử xây dựng khởi đầu được bằng gỗ thời nhà Lý, bằng bê tông thời Pháp thuộc, rồi được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục trùng tu và xây mới. Cột cờ Lũng Cú luôn là một công trình, một kỳ tích đặc biệt trong tâm trí người dân nước Việt, kể cả những người chưa một lần tận mắt nhìn thấy. Khi được nhìn ngắm cột cờ, lá cờ, ấn tượng càng khắc sâu vào tâm khảm.

Khắc sâu, không chỉ vì kích cỡ, quy mô hay vị trí của cột cờ, mà còn bởi và chính bởi cảm xúc linh thiêng trước một chứng tích mang tầm vóc sơn hà xã tắc.

Khi ngước nhìn cờ đỏ sao vàng tung bay lồng lộng giữa đất trời, có lẽ, cũng giống với cố nhà văn Lê Văn Thảo, giống như mỗi thành viên của đoàn đi, tôi đã không ghìm được cảm xúc. Cay cay khóe mắt, cay cay sống mũi…

Đằng sau những thảm xanh của ruộng lúa, ruộng ngô bậc thang, đằng sau sự tĩnh mịch của núi rừng trùng điệp, của làng bản hiền hòa rải rác, tôi biết và có lẽ anh chị em đoàn đi đều biết, là biên cương Tổ quốc chưa lúc nào bình yên.

Trong lúc đoàn người tham quan lần lượt chờ đến lượt mình được đứng bên cột cờ Tổ quốc và chụp một tấm ảnh để đời, thì dọc theo tuyến biên giới Việt – Trung, quân dân ngày đêm vẫn đang tuần tra, canh gác và đang phải đối mặt với biết bao gian truân.

Cách chỗ tôi đang đứng, dưới kia, không xa lắm, có lẽ vẫn còn trong tầm mắt, con sông Nho Quế lẩn khuất đâu đó và vẫn lặng lẽ chảy giữa đôi bờ Việt – Trung. Cũng như cột cờ Lũng Cú, nơi đoàn cán bộ Thành ủy cùng anh chị em làm báo, làm văn học – nghệ thuật của Thành phố đang đứng nghiêm trang hướng về lá quốc kỳ và cùng hát vang từ lồng ngực bài Quốc ca; đã, đang và mãi mãi là “chứng tích” hào hùng cho những cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc. Tôi chợt nghĩ, biết đâu bản hùng văn “Nam quốc sơn hà”, tuyên ngôn chủ quyền lãnh thổ đầu tiên của nước Việt, không chỉ được đọc vang lên bên bờ sông Như Nguyệt mà còn vang lên hùng hồn ở đây, nơi địa đầu của Tổ quốc, làm thành thành lũy ngăn giặc thù.

Khi cùng những thành viên của đoàn nâng lá cờ Tổ quốc (lá cờ 54 mét được chỉ huy Đồn biên phòng Lũng Cú trao tặng cho đoàn công tác) trên tay, tôi có cảm giác lá cờ nặng, rất nặng và màu cờ đỏ, rất đỏ.

Bao nhiêu máu và nước mắt đã nhuộm thắm lá cờ?

Câu hỏi ấy đã kéo tôi ngồi xuống bậc thang ngay đường dẫn lên cột cờ và viết vào quyển sổ tay:

Không đếm xiết bao nhiêu gian truân
Cho mỗi cột mốc được cắm vào đất
Không biết bao nhiêu máu và nước mắt
Thấm đẫm hành trình mở mang cõi bờ!
(Biên giới – bài thơ viết vội dưới chân cột cờ Lũng Cú)

Mua hàng giá rẻ ở phố cổ Đồng Văn

Chuyến trở về, đoàn ghé lại thị trấn Đồng Văn, cũng nghỉ lại tại khách sạn Hoa Cương ngay trung tâm thị trấn Phố cổ của huyện Đồng Văn. Sau khi cơm tối xong, tôi rủ nhà văn Trầm Hương rời khách sạn, đến phố cổ.

Anh-minh-hoa---Khong-biet-bao-nhieu-mau-va-nuoc-mat

Về đêm, khu phố cổ khá nhộn nhịp. Về đêm, đèn điện sáng rõ nơi những gian hàng buôn bán hàng hóa và mờ mờ từ ánh sáng của những chiếc đèn lồng treo giăng giăng ở những quán cà phê mở nhạc xập xình. Về đêm, khó tìm thấy sự cổ xưa nơi những ngôi nhà xây bằng đá lợp ngói âm dương. Về đêm cũng không thể thấy mây mù giăng giăng khắp núi đồi bao bọc quanh thị trấn. Về đêm, rõ nhất là những ánh mắt chào mời du khách của những người bán hàng nơi những gian hàng san sát nhau.

Tôi cùng Trầm Hương ghé vào một gian hàng bày bán khăn nón túi xách. Tôi cầm lên một chiếc khăn choàng cổ ngắm nghía. Trầm Hương chỉ vào dãy khăn nhiều màu sắc treo giăng giăng, hỏi người bán hàng: “Hàng Trung Quốc phải không em?”. Người bán hàng, một thanh niên chừng hơn hai mươi, mặt lạnh, trả lời: “Dĩ nhiên là hàng Trung Quốc!”. Nghe câu trả lời, tôi và Trầm Hương, không ai bảo ai, vội bỏ lại chiếc khăn, quày quả bước đi. Giọng khó chịu của người bán hàng đuổi theo: “Ở đâu chả là hàng Trung Quốc!”.

Đúng là đâu đâu cũng hàng hóa Trung Quốc. Từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến vùng cao, từ đất liền tới các hải đảo… hàng hóa Trung Quốc tràn ngập. Chợ lớn, chợ nhỏ, cửa hàng, siêu thị đầy ắp hàng mang nhãn mác Trung Quốc hoặc không nhãn mác nhưng tất cả đều xuất xứ từ khắp lãnh thổ Trung Quốc. Chợ Đồng Văn nói riêng và thị trường Hà Giang nói chung, địa bàn có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, hàng hóa Trung Quốc càng nhiều hơn.

Tôi và Trầm Hương đi về phía khu chợ đêm và tấp vào những gian hàng trong khu chợ đêm. Chúng tôi gặp nhiều thành viên của đoàn đi cũng đang lựa chọn hàng. Hàng hóa phong phú và bắt mắt. Nhiều mặt hàng tiêu dùng giá rẻ đến không ngờ. Một chiếc mền vải sợi, kích thước 2 m x 1,6 m, bán 100 ngàn đồng. Một người mua, rồi nhiều người mua. Tôi cũng mua một chiếc. Mua theo “phong trào”. Mua cho vui. Mua chính vì của rẻ.

Thích của rẻ, mua của rẻ, có lẽ không hẳn là do thu nhập thấp mà vì thói quen. Thói quen mà văn hào Victor Hugo từng nói, chính là “người vú nuôi của sai lầm”. Càng dung dưỡng nuông chiều, chúng càng sinh sôi.

Thói quen thường gặp ở đa phần người Việt, tôi xem ra cũng thuộc số nhiều này, là thấy cái lợi trước mắt mà không nhận ra cái hại, nhiều khi tai hại từ những cái lợi cỏn con.

Cái mền 100 ngàn đồng của Trung Quốc mua ở chợ đêm Đồng Văn, khi mang về, mở ra, tôi nhận ra cái mùi oi oi của phẩm nhuộm, rõ nhất là mùi dầu hỏa. Khi đó tôi mới chợt nhớ đến nhiều bài báo cảnh báo là mền, ra, gối, quần áo, vải vóc, đồ chơi, thực phẩm, cây trái… xuất xứ từ Trung Quốc thường có chất gây ung thư. Loại hàng hóa mà nhiều quốc gia họ tẩy chay bằng nhiều hình thức, trong đó biện pháp hiệu quả nhất là dùng chính sách kinh tế làm hàng rào kiên cố ngăn chặn loại hàng hóa có nguy cơ ngấm độc từ từ. Tôi không dám xài, cũng không dám tặng ai và không biết vứt đi đâu. Quăng vào giỏ rác thì ít nhiều có lỗi với môi trường. Bỏ vào ngăn tủ thì thấp thỏm, bất an.

Tâm lý chuộng rẻ, không chú trọng chất lượng, còn là thói quen cố hữu của đa phần người Việt. Thói quen không lo xa, dễ thỏa mãn từng được ông cha ta đúc kết và cảnh báo, càng ngày càng phát triển, đã và đang góp phần làm nên cái thị trường khổng lồ tiêu thụ hàng hóa thượng vàng hạ cám của Trung Quốc. Tệ hại hơn, thói quen ấy bào mòn dần ý thức tự lực cánh sinh của dân tộc. Thói quen đẩy con người vào thế bị động, dần dần đi đến chỗ lệ thuộc. Thói quen đang tước dần tinh thần cảnh giác trước âm mưu thôn tính và bành trướng. Bằng cách này hay cách khác, thói quen ăn xổi ở thì đang góp phần tích cực cho thương nhân Trung Quốc làm mưa làm gió trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Nơi này nơi khác, với chiêu trò mua đắt một cách bất thường nhiều mặt hàng như mua móng trâu móng bò với giá gấp đôi con trâu con bò, để rồi giết chết nhiều mặt hàng nông sản. Họ đã đẩy không ít nông dân Việt rơi vào tình cảnh chới với trên chính mảnh ruộng mảnh vườn của mình. Với nhiều chiêu trò ma mị khôn lường, họ đang tiếp tục triệt tiêu sức cày, sức kéo, nhất là sức đề kháng, sức sáng tạo và tinh thần độc lập của người Việt.

Có lẽ, chỉ khi biết kềm chế, biết quay gót trước hàng hóa rẻ tiền, biết đứng ngoài giá trị sinh lợi của đồng tiền thì mới có thể đo đếm được những được và mất. Sức mạnh vạn năng của đồng tiền đang biến đổi nhiều giá trị và bóp chết nhiều giá trị. Được và mất đâu chỉ ở giá trị vật chất. Được và mất còn lớn hơn, đó là ở giá trị tinh thần, giá trị văn hóa.

Chưa lúc nào mà giá trị truyền thống, giá trị văn hóa, giá trị tinh thần bị thử thách như lúc này, trước họa xâm lăng, không chỉ về kinh tế.

Còn hát cho người đang sống

Hành trình về nguồn mang tên “Biên giới yêu thương” của nhiều văn nghệ sĩ và nhiều nhà báo do Ban Tuyên giáo Thành ủy tổ chức nhằm hướng đến kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ. Đây là lần thứ ba tôi được đi cùng đoàn công tác. Cả ba cuộc hành trình đều do chị Thân Thị Thư, Trưởng Ban Tuyên giáo làm trưởng đoàn. Chuyến đi nào cũng đều để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Ba chuyến công tác mang lại nhiều xúc cảm, anh chị em văn nghệ sĩ sáng tác được nhiều tác phẩm hay về biển đảo, về Tổ quốc.

Trong mỗi chuyến đi, một trong những hoạt động quan trọng của đoàn đi là làm lễ dâng hương tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Chuyến đi Trường Sa, khi đến gần đảo Leo Đao, tàu HQ 936 buông neo. Ngay trên boong tàu, đoàn tiến hành buổi tưởng niệm những chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ biển đảo. Giữa mênh mông biển trời, hoa tươi, khói nhang, cây trái, điếu thuốc… theo sóng, bồng bềnh, bồng bềnh trôi về hướng mờ mờ xa, nơi đảo Gạc Ma đã bị tước đoạt, nơi diễn ra cuộc hải chiến không cân sức và 64 thủy binh Việt Nam đã hy sinh. Cả đoàn người ai cũng nín lặng, nghẹn ngào. Nhà thơ Trần Mai Hường, một thành viên của đoàn đã bật khóc qua lời thơ: Khói nhang trùm mộ sóng / Đặc quánh những tầng buồn / Tiếng vọng từ sâu thẳm / Se thắt lòng đại dương / Với anh – người chiến sĩ / Tổ quốc giữa tim mình / Tượng đài là lũy thép / Của tấm lòng kiên trung / Nơi các anh ngã xuống / Máu đã thắm san hô / Anh linh hòa sóng biếc / Cứ tỏa hương từng giờ… Xúc động tràn dâng, cũng trên còn tàu HQ 936, tôi viết: … Giữa trùng trùng bão cuốn “Nam quốc sơn hà nam đế cư” / câu thơ được kết / bằng máu / bằng xương / bằng hồn thiêng / câu thơ cắm mốc chủ quyền lãnh thổ…

Chuyến đi đến những cung đường Trường Sơn, khi đoàn làm lễ tưởng niệm những người con của Tổ quốc đã hy sinh trên các nẻo đường Trường Sơn tại Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn (Quảng Trị), thành viên đoàn trải qua nhiều cung bậc cảm xúc. Những đợt cảm xúc dâng lên theo lời và giai điệu bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” (thơ Nguyễn Phan Quế Mai, nhạc Đinh Trung Cẩn) được chính nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn hát lên bằng tất cả trái tim … Tổ quốc linh thiêng, Tổ quốc linh thiêng / Ngọn đuốc hòa bình trên tay rực lửa / Biết bao triệu mỗi người thao thức tiếng Việt Nam / Biết bao triệu người lấy thân mình che chở… Tôi đang nghe Tổ quốc gọi tên mình / Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá / Sóng cuồn cuộn lên dáng hình đất nước / Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau…

Và chuyến đi gần đây nhất, chuyến đi lần thứ ba, khi đặt chân đến Nghĩa trang Vị Xuyên, tôi có cảm giác mình chạm vào vết thương, chạm vào nỗi đau. Nhói buốt. Hàng ngàn bia mộ, dọc ngang giăng giăng. Lúc cùng anh chị em đoàn thắp nến rồi lần lượt đặt ngọn nến lên từng ngôi mộ của nhiều dãy mộ, tôi đọc trên bia mộ có nhiều người tên Dũng. Tôi chợt nhớ đến anh Nguyễn Văn Dũng (người con trai duy nhất của ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp, nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người sáng lập và là Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh) đã hy sinh ở chiến trường biên giới Tây Nam. Bác Sáu Tường (Nguyễn Vĩnh Nghiệp) đối với ba tôi, ông vừa là người cùng quê, cùng công tác tại Cà Mau, Bạc Liêu một thời gian dài và là một người anh thân thiết. Khi nghe tin anh Dũng hy sinh, ba tôi cùng gia đình từ Cà Mau đến chia buồn cùng gia đình bác Sáu. Nhiều người thương tiếc và có ý trách bác Sáu là với cương vị của một trong những vị cán bộ lãnh đạo của thành phố, lẽ ra ông phải lấy vị thế che chắn cho con trai mình thoát khỏi bọn Khmer Đỏ. Tôi nghe ba tôi hay nhắc lại câu trả lời của bác Sáu Tường: “Mình không gương mẫu thì coi làm sao được. Cán bộ lãnh đạo là người trước hết biết nhận về mình phần thiệt thòi”. Nhiều, rất nhiều liệt sĩ vĩnh viễn nằm lại lòng đất Vị Xuyên khi mới 19 tuổi như anh Dũng. Có lẽ cũng như anh Dũng, nhiều người cứ tưởng chỉ tạm xếp bút nghiên, chỉ xa cha xa mẹ một thời gian. Và nhiều, thật nhiều những người cha, người mẹ chịu sự nỗi đau mất con như ông bà Nguyễn Vĩnh Nghiệp.

Sự hy sinh còn đớn đau hơn, là sự hy sinh trước một kẻ thù xâm lược từng được coi là bạn bè. Trong đêm tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ tại Nghĩa trang Vị Xuyên, nhiều câu thơ, nhiều bài hát được cất lên, vang lên, xao động không gian trầm mặc. Ca khúc “Hát về anh” do chính tác giả, nhạc sĩ Thế Hiển hát với tất cả trái tim của một người lính. Bài hát “Về đây đồng đội ơi!” được ca sĩ Huỳnh Lợi hát bằng tất cả nỗi niềm uẩn khúc, thành kính, yêu thương. Tôi nhiều lần rơi nước mắt khi nghe và xem video clip nhạc sĩ Trương Quý Hải ôm đàn ghi-ta hát ca khúc này trước hàng hàng bia mộ tại đây, tại Nghĩa trang Vị Xuyên, ngày giỗ trận sư đoàn 356, ngày 12-7: “Hãy về đồng đội ơi! / Còn nằm khe đá hay thung sâu … / Về đây có nhau, như nguyện ước chiến hào… Hãy về đồng đội ơi! Người lính chiến mãi đôi mươi / Về đây điếu thuốc lào, ấm chè chốt hồn nhiên nụ cười / Bạn bè, đồng đội, người thân ôm nhau nước mắt chan hòa / Biên cương hình bóng quê nhà… Một lần nữa, “Về đây đồng đội ơi!”, bài hát do chính người lính sống sót trở về từ mặt trận Vị Xuyên sáng tác và ca sĩ Huỳnh Lợi, cũng như mỗi người dân nước Việt, khi hát lên, ngân lên, rung lên tiếng lòng thiết tha tri ơn ở giữa nghĩa trang lung linh ánh nến, khiến những cảm xúc kềm nén nơi tôi chực vỡ òa.

Nhạc sĩ viết ca khúc lắng đọng ấy, người ca sĩ hát giai điệu lắng đọng ấy, hẳn không chỉ cho đồng đội ngã xuống mảnh đất Vị Xuyên, cho những linh hồn liệt sĩ hy sinh cho Tổ quốc, mà còn hát cho người đang sống, nhắn gởi cho người đang sống.

Tháng 7-2017

Bích Ngân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 460

Ý Kiến bạn đọc