Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Khi viết văn Tư duy hay Giao tiếp?

Khi viết văn, các văn nhân, thi sĩ nhà ta tư duy hay giao tiếp? Thực ra câu hỏi này có thể đặt ra với bất cứ ai viết một văn bản nào đó bởi vì các tác phẩm văn chương dù được coi là sản phẩm nghệ thuật, được tôn sùng hơn nhưng xét về hoạt động “chế tạo” ra nó thì cũng giống như các văn bản khoa học, nghị luận hay các văn bản gọi là “nhật dụng” khác. Tất cả viết ra là để người khác đọc, để chuyển tới người ta những điều mình muốn họ tiếp nhận, để người viết giao tiếp với người đọc. Phải đặt ra với các nhà văn nhà thơ vì có một lời giảng giải ở một tác phẩm lý luận văn học gây thắc mắc. Nguyên văn nhận định đó như sau:

Ngôn từ văn học khác ngôn từ đời thường ở chỗ nó không thuộc dạng giao tiếp trực tiếp phát thành tiếng mà là lời nói bên trong tâm hồn, lời nói thầm, lời mình nói với mình, là hình thức của tư duy. Khi tư duy bằng ngôn từ người ta không cần phát âm, không trực tiếp nói với ai. Ngôn từ khoa học, nghị luận cũng thuộc lời này và gắn với hình thức chữ viết (1).

Tạm gác ra việc xem xét những lời giao tiếp trực tiếp mang tính văn học ở những cuộc hát giao duyên bình dân mà lời được coi là ngôn từ văn học (ca dao) và cả những bài thơ xướng họa nhiều khi là giao tiếp ứng khẩu trực tiếp (kiểu thơ đối đáp giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ…). Gác ra vì có thể tác giả lời “lý luận văn học” trên đây đang đi theo mạch tư duy về các thứ ngôn từ ở văn chương bác học – thành văn, quên khuấy những thứ nhiều người coi là văn chương khi nó biểu hiện tâm tư tình cảm chân thực của những người bình dân và nho sĩ mà ngôn từ của nó cũng không thiếu chất thơ. Ta chỉ xem xét cái đúng sai ở chính thứ ngôn từ văn học theo tác giả quan niệm. chỉ như thế cũng đã cần trao đổi.

Lời văn trên đây có thể không rõ ràng. Đó là nói về ngôn từ đã in ra hay là ngôn từ hình thành trong hoạt động suy nghĩ khi viết? Căn cứ vào chữ “ngôn từ văn học” ở câu thứ nhất thì có thể khẳng định đó là nói về ngôn từ do nhà văn (và nhà khoa học, nhà nghị luận ở câu thứ ba) sản ra khi nghĩ và viết, và nó hiện ra dưới dạng chữ viết trong văn bản có thể đọc được bằng mắt. Những cái nhà văn nghĩ mà chưa viết ra trong tác phẩm văn chương thì ai đã biết hình thù nó ra sao mà bảo là “ngôn từ văn học”. Vả lại trước đoạn trích, tác giả còn viết rõ như thế này: Ngôn từ trong hoạt động lời nói có nhiều dạng. Có dạng lời nói thành tiếng trong giao tiếp trực tiếp, có lời nói thầm, có dạng lời nội tại, không phát âm như một phương tiện tư duy. Và sau đoạn này, tác giả còn nói thêm: Thực ra lời nói thầm, lời nói bên trong (nội tại) tạo khoảng cách giữa người nói và người nghe làm cho giao tiếp trở thành gián tiếp – và khoảng cách, gián tiếp là điều kiện của giao tiếp thẩm mỹ. Chính khoảng cách giao tiếp cho phép ngôn từ văn học có những đặc trưng khác với ngôn từ giao tiếp hàng ngày. Đó là (…) đó cũng là lí do vì sao câu thơ, câu văn khác câu nói thường, lời văn khác lời nói thường.
Hiểu như thế thì có câu hỏi nảy ra: “Lời giảng giải đó có đúng? Khi nghĩ bằng thứ lời nói thầm, lời nội tại để viết văn (văn bản nói chung) người ta tư duy hay giao tiếp? Nếu bảo lời nội tại, không phát âm là lời để giao tiếp (cho là gián tiếp) thì liệu ai có thể “nghe” (“đọc” cũng là tiếp nhận ngôn ngữ như “nghe”) được lời nói thầm, không ở dạng vật chất âm thanh (mà chữ viết chỉ là thứ ghi lại)?”

Câu hỏi đó cần đặt ra. Nó đụng đến một điều rất cơ bản về chức năng của ngôn ngữ, về sự phân biệt chức năng tư duy và chức năng giao tiếp ở hoạt động ngôn ngữ. Câu trả lời đúng sẽ giúp ta nhận thức rõ mối quan hệ giữa người viết và người đọc, nhận thức rõ về chức năng giao tiếp của văn chương. Và câu trả lời đó giúp người viết hiểu rõ hoạt động trí não và ngôn ngữ của mình đúng cách khi viết văn. Với nhà giáo, câu trả lời đó giúp họ hướng dẫn học sinh nghĩ và viết đúng cách hơn, cũng như giao tiếp với tác giả đúng cách hơn.

Người ta đã nói đến hai chức năng của ngôn ngữ là làm công cụ của tư duy và làm công cụ giao tiếp. Tuy vậy có thể có sự lầm lẫn do khi tư duy hay khi giao tiếp ta đều phải suy nghĩ, với nghĩa “hoạt động trí não”, và ngay cả khi suy nghĩ để giao tiếp ta vẫn phải… tư duy!
Có thể là vô duyên khi phải nói tí chút về hai hoạt động tư duy và giao tiếp. Nhưng không nói thì lại khó lập luận cho rõ ràng. Vậy xin nói.

Trước hết, phải thống nhất với nhau về hoạt động tư duy. Đó là quá trình tiếp nhận các kích thích ngoại giới – ý thức hóa một nhu cầu tư duy – vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đã có để đề xuất các phương án giải quyết – kiểm tra và xác định phương án toi ưu”. Quá trình này diễn ra thường là bằng phương tiện ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Ở người viết (cả nhà văn), hoạt động tư duy bắt đầu khi có những kích thích từ cuộc sống. Người viết có những nhận thức, cảm xúc trước một mảng hiện thực nào đó, có nhu cầu thể hiện và truyền đạt. Ông ta sẽ vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm, các năng lực trí tuệ, dùng ngôn ngữ “nói thầm” hoặc ghi chép cho riêng mình để đi tới một kết luận hoàn thiện nào đó đáng truyền đạt. Nhu cầu chia sẻ này phải giải quyết bằng một chiến lược giao tiếp phù hợp. Đó là dùng một văn bản viết ra theo một thể loại nào đó… để chuyên chở cái nội dung cần truyền đạt ấy. Cả quá trình đó vẫn là quá trình tư duy – nghĩ thầm trong đầu mình, nghĩ cho mình, và ghi chép lại cho riêng mình. Ngôn từ sử dụng trong quá trình đó chỉ là công cụ của tư duy. Ngôn từ đó nói như nhà lý luận văn học trên kia là thứ không thuộc dạng giao tiếp trực tiếp phát thành tiếng mà là lời nói bên trong tâm hồn, lời nói thầm, lời mình nói với ^ mình, là hình thức của tư duy. Khi tư duy bằng ngôn từ người ta không cần phát âm, không trực tiếp nói với ai. Vì là lời “mình nói với mình”, lời đó chưa phải là thứ ngôn từ nghệ thuật, chưa cần trau chuốt gì ghê gớm (nếu có tính văn học thì cũng chỉ là do thói quen diễn đạt như thế).

Từ kết quả của tư duy trên đây, người viết sẽ triển khai cái chiến lược giao tiếp của mình, suy nghĩ và viết ra cái văn bản phải viết để chuyển tới người đọc. Ở văn học, văn chương thì cái văn bản ấy cũng là cái phương tiện chuyển tải cái nội dung mà người viết gửi tới bạn đọc để thực hiện mục đích của mình. Trong các sản phẩm sáng tác văn chương, nó thường là những “bức tranh cuộc sống” được “vẽ” ra, được trình bày miêu tả như tác giả đã “nhìn” thấy, cũng có thể là những cảm xúc… trực tiếp diễn đạt như một sự “trao đổi tâm tình” không cần qua một phương tiện, một hình thức trung gian (truyện, kịch…). Và người đọc thông qua việc đọc văn bản ấy, tìm ra điều người viết muốn nói, muốn gửi tới mình, những lời nghị luận ngầm ẩn. Là sản phẩm ngôn ngữ để giao tiếp – dù là giao tiếp gián tiếp qua kênh chữ, bằng “hình tượng” này nọ – người viết là nhà văn khi nghĩ và viết cũng vẫn phải tuân theo các nguyên tắc giao tiếp, phải tạo điều kiện để người đọc hiểu được điều mình nói, chấp nhận được điều mình bộc lộ, mình kể, mình tả, từ đó tiếp nhận với thái độ mình mong muốn cái thông điệp mình gửi tới “trực tiếp” hay gián tiếp qua cái “bức tranh cuộc sống” tái hiện trong văn bản… Đó là thứ ngôn từ có chức năng phản ánh cuộc sống một cách nghệ thuật nên phải có những đặc điểm theo yêu cầu nghệ thuật (như chính xác, biểu cảm, hàm súc..) nhưng phải đáp ứng yêu cầu giao tiếp. Nói chính xác, hoạt động nghĩ và viết ra thứ ngôn từ này là hoạt động giao tiếp, hướng về mục đích giao tiếp, hướng về sự tiếp nhận của người đọc, tôn trọng những qui tắc giao tiếp. Ngôn từ văn học ở đấy là thứ ngôn ngữ nói với người khác, là hình thức giao tiếp, không phải “hình thức tư duy” như nhà lý luận nói. Người viết có ý thức về đối tượng bạn đọc của mình khi viết ra những lời phù hợp với người đọc, loại bỏ những từ ngữ, cách nói chỉ mình hiểu mà người đọc có thể không hiểu (2). Điều này càng rõ với các tác phẩm đặc biệt viết cho các đối tượng có thể có sự khoanh vùng như với văn học thiếu nhi, với “độc giả chọn lọc” kiểu các đối tượng mà các nhà văn tượng trưng, siêu thực, hay với các nhà khoa học, chính trị… ở các văn bản khoa học, nghị luận mang tính hàn lâm hướng tới. Người viết cũng phải “đóng vai” bạn đọc mình hướng tới để đọc lại bản thảo đã hoàn thành trước khi đưa ra công chúng. Người đọc khi đọc thứ ngôn từ nhà văn viết ra đó là đọc bằng mắt (có thể đọc thầm, đọc to) nhưng không thể là nghe “nói thầm” nên đó không thể là “lời nói bên trong tâm hồn”, là “lời mình nói với mình” của nhà văn, không thể coi ngôn ngữ đó là “hình thức của tư duy”. Người đọc ý thức rõ việc tiếp nhận điều nhà văn nói với mình trong thứ ngôn ngữ giao tiếp đó. cũng phải nói thêm: không phải nhờ giao tiếp gián tiếp bằng hình thức viết – đọc và vì có “khoảng cách” mà ngôn từ văn học khác ngôn từ đời thường. Nhà văn vận dụng kiểu ngôn từ có nghệ thuật (hoa mỹ) hay gần với ngôn từ đời thường (tự nhiên) là tùy sự chọn lựa chiến lược giao tiếp của mình (3).

Phải phân biệt cái nghĩ lúc chuẩn bị viết và cái nghĩ lúc viết. Đó là hai hình thức vận dụng ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên cũng phải nói rằng hai quá trình đó không tuyệt đối tách rời nhau. Khi thực hiện chiến lược giao tiếp lúc viết những lời giao tiếp (kể, tả…) người ta vẫn có lúc phải tư duy để điều chỉnh “chiến lược giao tiếp” khi gặp những sự cố nảy sinh, nghĩa là lúc nghĩ lời giao tiếp (viết văn) ta vẫn có lúc phải sử dụng cái nghĩ bằng ngôn ngữ để tư duy, để thay đổi những điều cần thay đổi, để chỉnh sửa những điều đã viết, định viết. Lúc nói càng phải như thế. Và điều đó người viết luôn có ý thức phân biệt, không hề lẫn lộn!

Như đã nói, cần nói rõ, cần phân biệt hai hình thức tư duy và giao tiếp trong quá trình viết văn hay sáng tạo ngôn từ nghệ thuật của nhà văn. Đó là điều giúp ta nhận thức đúng ý nghĩa giao tiếp của hoạt động văn chương giữa nhà văn và người đọc. Điều đó là cần thiết đối với đa số người viết hiện nay vì số nhà văn từ chối chức năng giao tiếp với cộng đồng rộng rãi, kiểu các nhà thơ tượng trưng, siêu thực, không nhiều… Nó sẽ giúp họ hiểu rõ hoạt động trí não của mình trong quá trình sáng tác, viết lách và định hướng đúng đắn việc rèn luyện ngôn từ văn học của mình. Với người đọc, nó cũng hướng người ta tới chỗ chuẩn bị những điều kiện cần thiết để có cái có thể gọi là “văn hóa nền” trong giao tiếp văn chương, còn ngành ngôn ngữ học gọi là các “tiền giả định bách khoa” và “tiền giả định hội thoại” để giao tiếp với người viết. Điều đó chắc cũng giúp các nhà giáo dạy môn gọi là “Đọc hiểu văn bản” khẳng định đường lối dạy trong giao tiếp, để giao tiếp. Điều đó cũng phải quán triệt khi dạy học trò thực hiện các yêu cầu tư duy và giao tiếp khi họ nói, họ viết (4). Làm như thế cần hơn là cố bỏ công sức chạy theo những lý thuyết văn học cao siêu hiện đại khi dạy đọc và nêu ra những yêu cầu sáng tạo cao xa khi dạy viết.

Cần nói thêm tí chút về luận điểm nêu ra ở đoạn trích thêm – Chính khoảng cách giao tiếp cho phép ngôn từ văn học có những đặc trưng khác với ngôn từ giao tiếp hàng ngày. Đó là (…) đó cũng là lí do vì sao câu thơ, câu văn khác câu nói thường, lời văn khác lời nói thường, chúng tôi thấy luận điểm này cần xem lại. Ngôn ngữ viết dù chỉ ở những bức thư đời thường cũng không hoàn toàn như lời nói trong giao tiếp trực tiếp. Đó là vì khi giao tiếp trực tiếp người ta có thể dựa vào các phản ứng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ để “điều chỉnh”, “bổ sung”, “cải chính” những điều đối ngôn chưa hiểu đúng ý mình. còn khi viết để giao tiếp gián tiếp, người ta không đối diện nhau, người ta không thể làm như thế, người ta phải cố tránh những chỗ có thể hiểu nhầm, người ta phải trau chuốt ngôn từ hơn và người ta có điều kiện để làm như thế. Nếu người ta là nhà văn, các “bậc thầy ngôn ngữ” thì ngôn từ của người ta hay đẹp, có giá trị nghệ thuật hơn. Khoảng cách trong giao tiếp không thể là yếu tố tạo ra giá trị nghệ thuật trong ngôn từ. Đó là điều cần nói lại với tác giả.

Phụ chú: Có thể có người căn cứ vào các văn bản như đoạn mở đầu truyện “Chí Phèo” để bảo vệ quan điểm của nhà lý luận này.

Đoạn mở đầu đó như sau: 

Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu vào là hắn chửi. Bắt đau hắn chửi trời. Có hề gì!
Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao : Đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại, ai cũng tự nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Tức thật! Ó! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất… 

Đọc đoạn văn, ta thấy dường như nhà văn nói với chính mình. Và có chỗ ông ghi lại lời “mình nói với mình” của nhân vật. Nhưng có đúng như vậy không? Không phải như vậy! Nhà văn vẫn kể chuyện cho người đọc nghe đấy chứ. Ngay những câu viết về cái “tư duy” của Chí Phèo thì cũng là để “kể lại” cho người đọc nghe mà thôi. Tất cả vẫn là ngôn ngữ giao tiếp. Và như vậy, không thể dùng những văn bản viết kiểu này để chứng minh rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương là thứ ngôn ngữ “mình tự nói với mình” của nhà văn. 

1, Trần Đình Sử (chủ biên) – LÝ LUẬN VĂN HỌC tập

2, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội in lần thứ ba năm 2012 (trang 151). Các nhà văn giỏi tiếng Pháp trước Cách mạng 1945 thường dùng những từ tiếng Pháp trong ghi chép, nhưng họ không dùng những từ đó ở các tác phẩm viết cho bạn đọc.

3, Chúng tôi có dịp nói đến hai thứ ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ mỹ hóa ở ca dao. Xin xem bài “Ngôn ngữ ca dao, tạo hình hay biểu hiện” in trong tập Vàn học dân gian, cái hay vẻ đẹp, NXB Lao Động 2012.
4, Chuyện giới trẻ hiện nay, cả một vài người viết trẻ, thích dùng ngôn ngữ (chữ viết nữa) nhí nhố khi nói khi viết là do không hiểu các qui tắc giao tiếp và cả ngộ nhận “giá trị” của việc nói năng viết lách “hiện đại” này. Cái đó thể hiện tâm lý tự ti ở dân các nước “nhược tiểu”! Điều đó chưa được mọi người chỉ rõ cho họ hiểu.

Lê Xuân Mậu

(TP. Hà Nội)

 

Ý Kiến bạn đọc