Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Khi Tiến sĩ đều là kẻ sĩ!

(Gửi bạn Trương Thanh Hùng)

Trước khi có lời với bạn tôi rất cảm ơn Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh có chuyên mục “Chuyện chữ nghĩa” rất bổ ích. Các bài viết của tác giả Vương Trung Hiếu ngắn gọn, súc tích khoa học, rất có giá trị, rất cần, rất quí đối với người muốn tìm hiểu văn học và văn hóa nói chung. Chính nhờ đọc bài “Góp ý vài mục từ trong Từ điển Bách khoa Việt Nam” mà tôi có cảm hứng viết bài trao đổi này. Các Giáo sư – Tiến sĩ, các nhà khoa học biên soạn Từ điển Bách khoa – công trình mang tầm vóc quốc gia, mà buồn cười ra nước mắt như thế đấy. In hệt Ngữ văn 9 do các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử… biên soạn mà chúng tôi đã nói trong Luận chiến văn chương, quyển III, NXB Văn học, 2015).

Cảm ơn bạn Trương Thanh Hùng đã có lời trao đổi chân thành, thẳng thắn, hòa nhã, thân ái. Đó là điều rất đáng quí. Thầy tôi nhà văn Ông Văn Tùng, trong cuốn Nhàn đàm vừa xuất bản – NXB Hội Nhà văn, H. 2016 – nói đại ý trao đổi học thuật để mở mang tri thức, nhuần thấm tâm hồn trên tinh thần Văn dĩ hội hữu.

Vì bạn chưa đọc các bài của nhà văn – Tiến sĩ Chu Văn Sơn và nhà thơ Đỗ Trung Lai nên chưa nắm được vấn đề chính mà chúng tôi muốn trao đổi. Nhà văn kẻ sĩ. Có phải đang thừa Tiến sĩ thiếu kẻ sĩ? Và Giáo sư Phạm Tất Dong cùng tác giả Nguyễn Mĩ (Pháp luật Việt Nam, số 129 – ngày 8-5-2016) có nói đúng thực trạng “cơm chấm cơm” trong đào tạo Tiến sĩ hiện nay?

Anh-minh-hoa---Khi-tien-si-deu-la-ke-si

Bạn quan niệm về kẻ sĩ và đào tạo Tiến sĩ phổ thông phổ cập quá.

Về từ sĩ, từ kẻ, theo nghĩa Hán – Việt hay thuần Việt… là câu chuyện ngôn ngữ. Nó hơi dài. Những điều bạn diễn giải đều đã nằm trong bài chữ sĩ, của Cụ Ông Văn Tùng trong quyển Nhàn đàm nói trên. Bạn nói chữ kẻ theo nghĩa Thuần Việt là rất đúng. Nhưng lưu ý bạn: sự kết hợp của nó mới là quan trọng, mang ý nghĩa độc đáo: kẻ trộm, kẻ cướp, kẻ Nam người Bắc, kẻ khốn nạn, kẻ anh hùng. Kẻ sĩ chỉ là người có học, người đang học, còn học như thế nào, học tới đâu, học để làm gì, phẩm chất như thế nào lại là chuyện khác… là quá “thuần Việt”!

Thế thì học sinh, sinh viên, học viên tại chức… đều là kẻ sĩ cả. Tiến sĩ lại càng là kẻ sĩ. Ai đi học, có học đều là kẻ sĩ thì sẽ không còn kẻ sĩ theo nghĩa là sĩ phu, sĩ quân tử, quân tử, trượng phu… Thế thì Lã Mông (Tam nhật sĩ biệt…), Phạm Trọng Yêm (Tiên thiên hạ chi ưu…), Huỳnh Thúc Kháng (Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an)… có thực không?… Đừng máy móc vào chữ nghĩa mà phải xem thực tiễn đời sống. Xem xét thực tiễn, lại không nên chỉ một chiều. Bạn nhìn sự nghiệp đào tạo Tiến sĩ, đội ngũ Tiến sĩ, người làm luận án, người hướng dẫn khoa học, người hội đồng… đều chỉ một mầu hồng uyên bác uyên thâm, đơn giản quá: Học vị Tiến sĩ cũng không phải là cái gì ghê gớm lắm đâu, đừng đòi hỏi họ phải làm cái gì vượt quá sức họ” (Đôi điều trao đổi… VN TP.HCM, số 418 – ngày 8-9-2016). Đúng như người bạn của bạn, rất thật lòng: Khi học xong Tiến sĩ, kiến thức tôi sâu hơn, tôi dạy tốt hơn”… (Bđd., trang 16). Thế là đi tập huấn dài ngày, đi học bổ túc, đâu phải học Tiến sĩ. Mà học Tiến sĩ cũng không hẳn đúng, như chúng tôi đã nói. Như người bạn giáo viên trên, cần gì phải đi học Tiến sĩ cho mất công tốn của, của mình, của Nhà nước… chỉ cần làm theo ông Tả Khâu Minh là được (tức ông Bệnh Tả Truyện thời Tam quốc, đi đâu cũng đem theo sách đọc).

Làm Luận án Tiến sĩ đúng là không phải ghê gớm gì. Cũng không thể bắt làm quá sức. Có ai bắt đâu. Tự nguyện cả đấy chứ. Có điều, Luận án Tiến sĩ là công trình khoa học, khác với bài thi học kỳ, thi cuối năm hay khóa luận tốt nghiệp. Bắt buộc phải đến số trang nhất định (khả năng thể hiện diễn đạt), phải cam đoan độc lập về đề tài, về tư tưởng khoa học, lại còn phải Thầy hướng dẫn khoa học, Thầy chấm Luận án, Thầy phản biện, Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nước. Bảo vệ cơ sở rồi bảo vệ chính thức.

Song, thực trạng hiện nay như thế nào. Xin bạn đọc kỹ ý kiến của Giáo sư Phạm Tất Dong.

Nếu… “24.000 Tiến sĩ cũng là kẻ sĩ có điều chưa phải là danh sĩ hay đại danh sĩ”… và “vấn đề đáng nói ở đây là, nhà nước và những người có trách nhiệm có biện pháp tốt nhằm phát huy được tài năng, sở học của họ… (Bđd., tr.16) thì bạn hiểu từ danh sĩ dễ dàng quá. Thường nghe nói danh nhân, danh sĩ, danh y, danh ca, danh họa… Từ kẻ sĩ đến danh sĩ là một khoảng cách một đẳng cấp không dễ dàng gì. Nhưng nếu Tiến sĩ đều là kẻ sĩ cả thì bất tất phải dùng đến từ kẻ sĩ như đã nói trên. Đây là chuyện ngôn ngữ, có dịp sẽ nói tiếp. Chúng tôi muốn nhắc lại: Kẻ sĩ là một danh hiệu chỉ những người có học (đương nhiên), có nhân cách, uy tín, danh vọng được người đời tôn trọng. Đây là điểm quan trọng nhất phân biệt với những người có học, có bằng cấp, nhiều chữ nghĩa, nhưng nhân cách kém cỏi. Nhân cách kẻ sĩ, cũng như nói tiết tháo của Nhà Nho, khí tiết của bậc trượng phu, bậc quân tử.

Không thể tách sĩ khí ra ngoài kẻ sĩ. Sĩ khí là cốt lõi của kẻ sĩ. Không có sĩ khí thì sở học thành ra đáng thương đáng tiếc đáng trách lắm. Ví dụ: Tứ long Quỳnh – Vĩnh – Tốn – Tố thì Phạm Quỳnh là người thế nào? Nguyễn Văn Tố lại là người thế nào? Lại ví dụ như Trần Trọng Kim và Nguyễn An Ninh. Về sở học, chữ nghĩa là ngang ngửa với nhau. Khó nói hơn kém nhau.Nguyễn An Ninh suốt đời chống lại thực dân Pháp. Bao nhiêu lần vào tù ra khám. Lần cuối cùng Pháp đầy ông ra Côn Đảo. Nhật hất Pháp, ra tận Côn Đảo mời ông về cộng tác, làm Thủ tướng. Nguyễn An Ninh từ chối và hi sinh trong lao tù Côn Đảo. Còn Trần Trọng Kim? Từng làm Trưởng ban Văn học của Khai Trí Tiến Đức do Phạm Quỳnh làm Hội trưởng. Rồi bị lính Nhật đến tận nhà “mời” đến khách sạn. Từ đó đưa sang Singapore cùng với Dương Bá Trạc. Nhật lại đưa Trần Trọng Kim về Thái Lan, rồi về Sài Gòn, rồi ra Huế, vào chầu Bảo Đại, rồi Bảo Đại tuyên cáo Độc lập, cử Trần Trọng Kim làm Thủ tướng, đứng ra thành lập Chính phủ. Được 4 tháng, Chính phủ Trần Trọng Kim phải tuyên bố từ chức. Nói Chính phủ Trần Trọng Kim là cái bù nhìn của Nhật là đúng chính xác. Cách mạng tháng Tám thành công. Bảo Đại thoái vị, làm Cố vấn cho Chủ tịch nước. Rồi ra nước ngoài, rồi đào nhiệm, rồi Pháp lại đưa Bảo Đại về làm Quốc trưởng Nam kỳ quốc “đóng đô” ở Đà Lạt, cho đến khi Ngô Đình Diệm lật đổ. Suốt lịch trình đó Trần Trọng Kim làm gì? Ông Trần vào Sài Gòn chờ đợi, không được người Pháp dùng lại, than thở với Cụ Phạm Khắc Hòe: Tây nó đểu lắm. Thôi, dùng thì hành mà không dùng thì tàng. Nhưng có “tàng” đâu. Lại chạy sang với Bảo Đại lúc đó đang ở Hồng Kông. Không ăn nhằm gì, lại chạy về Đà Lạt “ẩn dật”. Khi Pháp dựng lại Bảo Đại. Có cái Hội nghị kiểu như (bắt chước) quốc dân đại hội, mời ông Trần về dự – ông vẫn về dự và được bầu vào ghế Danh dự đoàn chủ tịch. Lại than thở vẫn là hữu danh vô thực. Sau này viết hồi ký, lại than thở mấy tháng làm Thủ tướng “tay trắng vẫn hoàn tay trắng”. Trong phần “viết thêm” cuối cuốn Việt Nam sử lược còn viết rất bậy bạ là hồi đó (tháng 8-1945) nhân lộn xộn mà Việt Minh thừa cơ cướp được chính quyền.

Cứ “nhất dĩ quán chi” theo con đường học giả thì nhà sử học Trần Trọng Kim sẽ còn tên tuổi lắm. Nhưng hết làm cho Pháp, rồi sợ Nhật mà đứng ra làm Thủ tướng bù nhìn. Nhật bại, lại mong chờ người Pháp. Pháp dựng lại Bảo Đại, lại chạy theo Bảo Đại, cho đến chung thân như thế.

Sở học có thể ngang nhau. Nhưng nhân cách có thể rất khác nhau. Cái phẩm chất kẻ sĩ chính là chỗ đó. Trần sử gia đã thành người thiên cổ. Mong cho ông an giấc ngàn thu. Bây giờ ta nói với nhau về mấy Giáo sư – Tiến sĩ đương thời xem có được là kẻ sĩ hay không.

* Giáo sư Trần Hữu Tá (xem Thuật luyện đan của Thầy Hữu Tá, VN TP.HCM số 396/2016). Với nhà nghiên cứu, sự trung thực khoa học, phải được xem là yêu cầu đầu tiên. Thế mà Trần Giáo sư bóp méo sự kiện lịch sử, xà xẻo tư liệu để chiêu tuyết cho Trương Vĩnh Ký. Yêu nhau đứng ở đằng xa/ Con mắt liếc lại bằng ba đứng gần… là sự của trai gái hội hè… Trong khoa học đánh giá, xếp hạng nhân vật phải công bằng, có sở cứ. Thế mà giáo sư Trần đưa người bạn đồng tuế như Giáo sư Phong Lê hay một đồng nghiệp đồng sự dẫu là bậc đàn anh nhưng rất vô liêm sỉ khi viết Hồi ký bịa tạc nói xấu lãnh tụ, xem mình là văn sư tử còn thì là văn cầy cáo… sánh ngang hàng cùng “các bậc thầy nổi tiếng của Việt Nam” như Trần Văn Giàu, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai… Kẻ sĩ làm khoa học, làm thầy học đến ngạch Giáo sư mà tư tình thiên vị thế ru?

* Giáo sư Phong Lê nguyên Viện trưởng Viện Văn học, đương kim Chủ tịch Hội Kiều học, chúng tôi không nói đến cụm công trình văn học Hiện đại Việt Nam xoay quanh mệnh đề hành trình, trên hành trình chặng đường, trên chặng đường… Văn xuôi Việt Nam nhiều dòng chung hướng. Thế hệ, thế hệ vàng, bạc, đồng… mà chỉ nói phần “kẻ sĩ” của ứng viên Giải thưởng Hồ Chí Minh này.

Trước hết, ông chỉ có một phần tác quyền thôi. Vì ông ăn lương Nhà nước làm công tác nghiên cứu cho Viện Văn học, không phải tác giả độc lập. Nhưng nghĩ lại, đồng lương hồi bao cấp ba cọc ba đồng, thôi thì tùy tấm lòng của Hội đồng có thể du di! Chỉ nhớ nhà thơ Minh Hiệu, trước lúc nhắm mắt, dặn lại vợ con: Bố còn nợ mấy đồng trợ cấp sáng tác của Hội Văn nghệ (Thanh Hóa) nhưng chưa làm được, đem trả lại cho Hội”.

Trước đổi mới GS Phong Lê nhiều Mao-ít lắm. Cụ Nguyễn Tuân phát giận: “thằng ấy… là thằng nào…” (Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh). Đến đổi mới ông lại rất cấp tiến cực đoan. Liên Xô mới đổ ông đã đổi giọng nói xấu Đảng của mình ngay trước thềm Đại hội VII (Tuổi trẻ chủ nhật, 12-4-1991). Coi mòi yên yên ông lại quay sang ca ngợi Cụ Hồ. Vừa ca ngợi Cụ Hồ lại vừa ca ngợi những người đi ngược lại con đường, sự nghiệp của Cụ Hồ như Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh… Giễu cợt phương châm Viết cho ai; xem phản ánh luận Mác – Lênin là bất cập… (Tạp chí Văn học, số 5/2009). Kiêu ngạo lắm: Không có gì để hơn ai. Cũng không có gì để kém ai. Ở Hội Nhà văn được thiểu số (6/13 phiếu) liền chạy sang Viện Văn học, được 100% số phiếu đề cử Giải thưởng.

Phẩm chất kẻ sĩ như thế mà bà PGS.TS – nghiên cứu viên cao cấp Viện Văn học Lưu Khánh Thơ vốn là học trò yêu – bênh vực lắm (Văn nghệ, số 34-20/8/2016), Hữu Việt trên Nhân dân (số 22241/ 22-8-2016) cũng bức xúc lắm. Sao lại đặt GS Phong Lê ra ngoài vòng Giải thưởng!

* Ông Nghị Dương Trung Quốc làm chủ khảo cuộc thi hoa hậu thì sự ham danh hám lợi đã đến hết cỡ (Người Việt có ác không? Tám Lê, VN TP.HCM số 418 – ngày 9-9-2016, trang 23).

Hồi nọ có một đại gia ở Thiệu Hóa – Thanh Hóa tổ chức tưởng niệm bậc ông cha có công từ thời Tiền khởi nghĩa. Mời ông Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử vào cho dăm câu ba điều. Chắc là anh em ở địa phương đã chuẩn bị trước nên ông cứ lôi phong bao phong bì ra mà đọc bừa, không biết có sự sai. Thị trấn Thọ Xuân, huyện lỵ của Phủ Thọ Xuân bị tiêu thổ hồi kháng chiến. Sau hòa bình lập lại các cơ quan huyện mới trở về đó. Khoảng trước 1960 mới thành lập thị trấn Thọ Xuân. Làm sao vị tiền bối đó lại làm chủ tịch thị trấn Thọ Xuân ngay sau ngày khởi nghĩa được? Không biết con cháu họ Phạm có gì sơ xuất mà ông viết liều “Phạm Quỳnh cùng với tác phẩm của ông đã đóng góp một phần quan trọng trong vấn đề thống nhất đất nước, thống nhất quốc gia, là những di sản xuất sắc trong thế kỷ XX” (Đại biểu Nhân dân, số ra ngày 13-2-2014).

Đại gia họ Đặng ở Đồng Tháp xây cái Nam Phương linh từ, thuê ông làm thầy cúng hô thần nhập tượng, đủ thứ tượng, ông cũng chẳng từ. Dư luận đã ồn lên một dạo.

Nay lại đến thi hoa hậu. Thiết tưởng sự đói lòng đói mắt đói tư duy của nhà sử học là ở sử liệu, ở đối tượng nghiên cứu trong sử sách, trong dân gian, trong mộ táng thời này thời kia nơi này nơi nọ, đâu phải chỗ eo, mông, vòng ngực của mấy em chân dài! Nếu có được mời làm tư vấn phần ứng xử văn hóa thì cũng nên khiêm tốn lui vào cánh gà (sân khấu). Tám Lê chí lí lắm. Ăn trông nồi ngồi trông hướng chứ đâu phải…

Còn nhiều nữa, chỉ nêu ba trường hợp tiêu biểu để bạn thấy, đâu phải Giáo sư – Tiến sĩ. 24.000 Tiến sĩ đều là kẻ sĩ.

Hà Nội, Trung thu 2016

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 421

Ý Kiến bạn đọc