Người tốt - Việc tốt

Khi ta ngước lên nhìn ngọn núi

 

Khi ta ngước nhìn ngọn núi, ta thấy núi cao chót vót. Đó là điều hiển nhiên, nếu không cao, thì đâu gọi là núi! Nhưng lắm khi, ta lại bỏ qua một điều đơn giản khác, cũng rất hiển nhiên, đó là ngọn núi cao được là nhờ vô số hạt cát, hòn sỏi, phiến đá rất nhỏ bé, tạo nên. Lênin và Bác Hồ là hai ngọn núi hùng vĩ trên đời này. Hai vị cũng cao lớn từ những việc rất nhỏ, rất bình thường, và được tích lũy không ngừng.

Lênin, như ta biết, ngay từ khi còn học cấp 1, đã là một học sinh thông minh và chăm chỉ. Cha của Lênin rất nghiêm. Ông theo dõi việc học của con rất nghiêm khắc, và ông hoàn toàn tin cậy sức học của Lênin. Mỗi ngày đi học về, Lênin đều vào phòng ở của cha và báo cáo một lèo kết quả học tập trong ngày, chẳng hạn như:

- Toán 5.

- Văn 5.

- Tiếng Đức 5.

v. v… (5 là điểm số cao nhất trong thang điểm của Nga).

Sau này, Lênin rất giỏi ngoại ngữ. Người đã đọc vô số sách báo ở thư viện Paris bằng nhiều thứ tiếng khác nhau và ghi chép được nhiều điều quý giá.

Có một chuyện vui có thật là, trong lần nhà báo lớn của Mỹ – A. R. Williams – sang thăm nước Nga, sau Cách mạng Tháng Mười 1917; một lần ông ấy được Lênin mời lên diễn đàn nói chuyện với công chúng bằng tiếng Nga. Lênin đứng phía sau, thấp hơn diễn giả một bậc. Tới một chỗ, nhà báo Mỹ ngắc ngứ vì thiếu chữ Nga để diễn đạt. Lênin nhô cao lên một chút và hỏi bằng tiếng Anh: “Đồng chí cần chữ gì?”. Nhà báo Mỹ cầu viện Lênin bằng tiếng Anh. Và Lênin cung cấp ngay cho ông ấy cái chữ Nga mà ông ấy cần.

Trong quyển cuối của bộ “Lênin toàn tập” gồm 55 quyển, tôi được thấy một câu sửa bản đánh máy viết bằng Pháp ngữ, do chính tay Lênin viết bằng mực tím, nét chữ rất đẹp.
Khi Lênin trở thành lãnh tụ đầu tiên của Liên Xô, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế giới, phẩm chất giản dị, cao cả của Lênin càng được bộc lộ nhiều hơn.

Nhà báo Mỹ có những dòng nhận xét sắc sảo về Lênin như sau:

“Lênin không muốn sống cách biệt với quần chúng, để khi Người đói, Người biết kẻ đói muốn cái gì”.

So-537--Khi-ta-nguoc-le-nhin-ngon-nui
Bác Hồ làm việc trong hang đá Việt Bắc 1951 (ảnh tư liệu).

Sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, thời kỳ đầu của nhà nước Xô Viết, đất nước Nga rất nghèo và phải vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức. Giữa lúc phong ba bão táp ấy, lãnh tụ Lênin giống như ngọn hải đăng, giữ phương hướng và niềm tin cho người đi biển. Bằng đức độ gương mẫu của mình, Lênin đã dẫn dắt nhân dân vượt qua đêm dài, thoát khỏi bóng tối một cách vững vàng và kỳ diệu nhất. Giống như Đankô móc trái tim mình ra làm ngọn đuốc trong một truyện ngắn bất hủ của Maxim Gorki.

Hồi đó, mọi người Nga đều nhận một mức lương thực và tiền trợ cấp ít ỏi như nhau. Lênin cũng lãnh tiền và bánh mì ngang với dân chúng. Cho nên, nhà báo Mỹ đã đặt vấn đề rất hay:

“Anh muốn bất mãn chăng? Anh phải suy nghĩ lại chứ! Dẫu sao, đồng tiền Lênin nhận cũng không nhiều hơn đồng tiền của anh và miếng bánh mì anh nhận được cũng không mỏng hơn miếng bánh mì của Lênin!”.

Lênin có câu nói đáng nhớ là “Dành những gì tốt nhất cho trẻ em”.

Nếu Lênin là một ngọn núi cao, thì ngọn núi ấy đã được tôn lên bằng muôn triệu chi tiết rất bình thường.

Cho nên, không có gì ngạc nhiên khi nghe B. Rút-xen – triết gia nổi tiếng của Hoàng gia Anh – nói:

“Chúng ta có thể đinh ninh rằng, thế kỷ XX đang bước với dấu chân của hai con người: Lênin và Einstein”.

Bác Hồ là người chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ Lênin. Trong bài “Lênin và các dân tộc thuộc địa”, Bác viết:

“Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến về vấn đề này còn âm ỉ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng châu Âu và châu Mỹ.

Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng.

Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể hoàn thành được”.

Và Người đã khẳng định:

“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (viết năm 1927).

Để có được một Hồ Chí Minh tuyệt vời như nhân dân ta tôn thờ, UNESCO vinh danh, Bác đã học và noi gương Lênin rất nhiều, từ việc lớn đến việc nhỏ, coi Lênin là người thầy vĩ đại, đáng tin cậy bậc nhất của mình. Người học Lênin tình yêu lao động, ý chí cách mạng vững vàng, lòng hiếu học vô biên và đầu óc sáng tạo không ngừng.

Thấm nhuần lời dạy quý báu của Lênin: “Không có lý luận kách mệnh, thì không có kách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận kách mệnh tiền phong, Đảng Kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm tiền phong” (trích sách Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, soạn từ đầu năm 1925). Bác hết sức nghiêm túc và dày công học hỏi, không ngừng làm giàu kiến thức cho mình. Người hiểu hơn ai hết, muốn dẫn dắt cả một dân tộc, không thể thiếu kiến thức được. Vì thế, Người say mê học tập ở mọi lúc mọi nơi có thể, về mọi lãnh vực trong đời sống con người. Người không vụ vào bằng cấp, mà vụ kiến thức xác thực, thiết thực và có giá trị thực tiễn cao.

Người nói (cũng như viết) ngắn gọn, dễ hiểu. Ngay cả đồng chí Võ Nguyên Giáp, hồi còn hoạt động bí mật, cũng từng được Bác uốn nắn bài viết, sao cho dân ít học cũng hiểu được mới thôi.

Cuộc đời của Bác là một cuộc đời đầy bão tố và cật lực phấn đấu không ngừng nghỉ. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước với hai tay trắng đến lúc trở về với cả một giang sơn gấm vóc, Bác là một tấm gương bền chí nhất, quyết tâm nhất, kiên định nhất. Và để trở thành một ngọn núi cao như thế, Bác đã chịu khó chắt chiu từng ngọn cỏ, lá cây, hạt cát để tự nâng mình lên không mệt mỏi.

Chủ yếu là tự học, Bác vươn tới hết đỉnh cao này tới đỉnh cao khác, điều mà không phải dễ làm được.

Riêng phần ngoại ngữ, Bác đã thực hiện được điều mà bao người mơ ước.

Ý thức sâu sắc rằng ngoại ngữ là một thứ công cụ lợi hại, giúp mình mở rộng kiến thức, Bác say mê học nhiều thứ tiếng nước ngoài đến mức thành thạo, thâm thúy. Với tiếng Pháp, một nhà sử học Pháp đã nhận xét: “Đồng chí Hồ Chí Minh đã dựng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo”. Với tiếng Trung Quốc, Người đạt đến mức độ chuẩn mực của thơ Đường (như lời nhận xét của Quách Mạt Nhược).

Chính nhờ khả năng ngoại ngữ phong phú ấy mà Bác đã mách bảo cho lực lượng phòng không – không quân phải thực sự bắt tay vào sự đánh trả pháo đài bay B52 của Mỹ, trong khi chưa ai biết B52 là gì. Bác đã gọi đích danh tướng Phùng Thế Tài đến để căn dặn trực tiếp và cặn kẽ.

Ngay nghiệp cầm bút của mình, Bác cũng để lại cho người đời nhiều bài học bổ ích. Từ viết báo đến viết sách, viết văn, Bác đều có những đóng góp xuất sắc.

Một lần nói chuyện vui với các nhà báo, Bác bảo: “Kinh nghiệm làm báo của Bác là kinh nghiệm ngược”. Và Bác giải thích, Bác bắt đầu viết báo bằng tiếng Pháp rồi tiếng Hoa, sau đó mới đến tiếng Việt. Vì vậy, Bác vào nghề báo vất vả hơn người ta. Và cũng do đó, quyết tâm của Bác phải thật cao, mới có thể làm tròn nhiệm vụ.

Lòng Bác lúc nào cũng nung nấu ý chí đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước mình. Cho nên Bác không chịu thua mọi khó khăn, trở ngại để cứu nước, đồng thời còn để giúp các nước thuộc địa thoát khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột của thực dân Pháp.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu lên được. Một đồng chí công nhân ở tờ báo “Đời sống thợ thuyền” (La Vie Ouvrière) cho Bác biết, báo ấy có mục “Tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, mời Bác viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại để đối chiếu, rút kinh nghiệm. Cứ như thế, Bác có thể viết dần dài ra đến cả cột báo.

Rồi từ viết báo, Bác lại muốn viết văn. Nhưng lại e rằng chữ Tây của mình còn võ vẽ quá. Tình cờ, đọc một truyện ngắn của Lev Tolstoy, thấy nhà văn ấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì thấy rằng mình cũng viết được, và bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó, Bác sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, Bác cứ viết những điều mắt thấy, tai nghe. 

“Đây là lần đầu tiên, tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”.

Cách mấy hôm sau, thấy truyện của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là tòa báo trả cho 50 phrăng tiền viết bài. “Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết bài đăng báo!”.

Nhờ cố công phấn đấu, học tập và rèn luyện từng chút một, tài năng của Bác được nâng cao không ngừng. Đỉnh cao của tài năng ấy được thể hiện sâu sắc và thuyết phục trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tuyệt vời. Nếu cuốn “Sử ký” của Tư Mã Thiên được Liên Xô đánh giá là tác phẩm bất hủ, đạt cả ba tiêu chuẩn là sử học, khoa học và văn học, thì “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc lại đạt ba tiêu chuẩn là nhà báo, quan tòa và nhà văn cùng một lúc. Là nhà báo, Bác cung cấp những số liệu và sự việc rất cụ thể, có căn cứ thuyết phục. Là quan tòa, Bác buộc tội chế độ thực dân Pháp ở thuộc địa một cách công minh, phù hợp với luật pháp quốc tế và quyền con người. Là nhà văn, Bác đánh thức tình cảm chân thành, nhân hậu của con người, cảm hóa được người đọc. Bản án tránh được sự khô khan, xơ cứng mà rất hài hòa, cân đối giữa lý trí và tình cảm, khiến nó trở nên đanh thép mà thuyết phục, làm cho chế độ thực dân Pháp không còn đường chối cãi. Đây là một cống hiến rất lớn của Bác cho sự nghiệp giải phóng nước mình và các nước thuộc địa đồng cảnh ngộ.

Phương châm viết (cũng như nói) của Bác là thiết thực, dễ hiểu và thuyết phục. Bác viết, người ít học cũng hiểu được, người học nhiều càng hiểu sâu sắc hơn. Cũng giống như Lênin, Bác là người đưa ra nhiều khẩu hiệu rất hay.

Lênin có những câu ai cũng phải khâm phục, như:

- Học! Học nữa! Học mãi!

- Dành những gì tốt nhất cho trẻ em!

- Chúng ta chỉ có thể lãnh đạo quần chúng khi nào phản ánh đúng nguyện vọng của quần chúng…

Bác Hồ thì có những câu in vào lòng người, như:

- Không có gì quý hơn độc lập, tự do!

- Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng!

- Không có việc gì khó,

Chỉ sợ lòng không bền.

Dời núi và lấp biển,

Quyết chí ắt làm nên!

Đất nước này thật là lạ! Một dải đất hẹp bên bờ Biển Đông xinh tươi và ấm áp. Càng ngày dải đất ấy càng khiến thế giới phải ngạc nhiên, trầm trồ và say đắm. Nào núi đá Đồng Văn, với 500 triệu năm tuổi đá. Nào Phong Nha – Kẻ Bàng, với hệ thống hang động tuyệt mỹ và độc đáo nhất. Vịnh Hạ Long, kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng thế giới…

Về chiến công hiển hách lịch sử, nước ta cũng không hiếm. Nào Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” huyền thoại, Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại…

Với danh nhân ở tầm vóc thế giới, bầu trời Việt Nam còn lấp lánh những vì sao cả ngày xưa lẫn hôm nay trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó Hồ Chí Minh là biểu tượng tiêu biểu, như ngọn núi cao trong những ngọn núi cao của đất nước, mà UNESCO thay mặt nhân loại đã vinh danh Người: “ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ ĐẠI DANH NHÂN VĂN HÓA” (HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE). Và tạp chí Time đã bình chọn Người là một trong “100 người có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX”.

Ngọn núi kỳ vĩ ấy sừng sững chất ngất giữa trời, nhờ đã bền bỉ chắt chiu từng hạt cát nhỏ, từng ngọn lá bình thường. Và đó là tấm gương khích lệ chúng ta luôn luôn phấn đấu để nâng mình lên.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 537

Ý Kiến bạn đọc