Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Khí phách Trần Văn Giàu

(Cảm nghĩ sau khi đọc Hồi ký Trần Văn Giàu)

Đánh giá một nhân tài, là việc khó. Nhưng không thể vì khó mà không đánh giá họ. Để cho một nhân tài bị chìm vào quên lãng bằng thái độ im lìm, thiết tưởng đó chẳng phải là điều hay. Vả lại, những người thực sự có tên tuổi thì hầu hết đã mất cả rồi. Họ đâu cần ai khen chê nữa. Đánh giá họ, để rút ra những bài học bổ ích. Điều đó, chỉ có lợi cho người còn sống và cho hậu thế mà thôi.

Giáo sư, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu, theo tôi là một nhân tài đích thực, mặc dù cuộc đời Cụ vẫn còn có ý kiến thế này, thế khác. Nhưng cái cốt lõi của cuộc đời Trần Văn Giàu là yêu nước nồng nàn, kiên cường cách mạng và cống hiến cho nhân dân trọn đời, một con người hào hiệp, tốt bụng, không nhỏ nhen, không cố chấp, là điều mà ai cũng thừa nhận.

Ngay như tập Hồi ký của Cụ, Cụ cũng có cho in ấn đâu! Mà chỉ là bản thảo khiêm tốn, đặt trong “tủ sách gia đình”. Trước hết là để dạy con, dạy cháu. Sau nữa mới đến người ngoài, ai cần đọc thì đọc, chẳng hô hào, nài ép ai.

GS-Tran-Van-Giau-va-vo
Gs. Trần Văn Giàu và vợ (5-9-1995)

May mắn cho những ai gặp được và đọc được tập Hồi ký Trần Văn Giàu (1940-1945). Ngắn ngủi thôi, thời gian không dài, sách viết cũng không dài, nhưng đó là một bộ tư liệu quý giá, ít ai có công và có khả năng viết hay đến vậy. Đọc xấp hồi ký, Cụ viết, tôi nghĩ rằng, ai có công tâm, có thiện chí đều thấy học được rất nhiều ở Cụ.

Là một trí thức uyên bác, một nhà sử học bậc thầy, một nhà lý luận Mác – Lênin căn cơ và sâu sắc, Trần Văn Giàu còn là một nhà văn có bản lĩnh, một nhà hùng biện mà rất nhiều người ca ngợi và say mê.

Văn phong của Cụ Giàu rất giản dị, trong sáng và gợi mở. Chẳng hạn như khi bị tập trung ở trại Tà Lài, các nhà cách mạng muốn gây dựng tình cảm với đồng bào người Mạ xung quanh trại, để giáo dục họ, để được họ che chở, đùm bọc; nhưng ta không nói chuyện với họ được vì hai bên không biết tiếng của nhau, chỉ còn cách tốt nhất là dùng hành động thiết thực để cảm hóa họ. Thế là một màn kịch câm vô cùng sinh động được diễn ra ngoài trời, thu hút cả Tây, tà, kinh, thượng gì cũng phải nô nức đến dự khán. Đó là màn “Tô Ký xỏ mũi trâu chứng”. Đây là một con trâu cổ lực lưỡng và rất hung hăng, không ai điều khiển được nó. Vì nó chưa được xỏ mũi, buộc dây. Dân làng than phiền, giá mà giết được nó, bán thịt mua gạo, mua muối cũng còn có ích hơn. Nắm được nguyện vọng của dân như thế, Cụ Giàu (lúc này là đại diện trại Tà Lài) bèn đặt vấn đề với Tô Ký (Tô Ký, sau tập kết 1954 là Thiếu tướng, Chính ủy sư đoàn 338, một người bạn tù, một người em rất trung thành với Cụ Giàu).

Cụ Giàu hỏi:

- Ê, Ba Ký ơi! (tức Tô Ký). Chú mày nói là lớn lên từ cái nghề làm ruộng, chăn trâu, vậy có biết xỏ vàm trâu không?

- Dễ như quấn thuốc rê!

- Đừng chủ quan, không phải trâu tơ mà là trâu cổ. Dám không? Được không?

- Lấy “thế” thì làm được liền!

- “Thế” là “thế” làm sao?

- Như vầy, như vầy…

- Uất Trì Cung tắm ngựa được thì chú mày xỏ vàm trâu cổ được chứ gì? Có biết Uất Trì là ai không?

- Truyện Thuyết Đường Chinh Đông…, tôi thuộc làu làu. Tôi cũng sẽ làm việc “tắm ngựa” cho các anh xem!

- Cố gắng nghen! Tôi sẽ bảo chủ trâu kêu đồng bào Mạ mấy bản xa gần đến xem. Hễ đồng bào họ khen, họ phục thì mình dễ vào bản làng, vào làm gì thì chú Ba mày biết rồi, không phải chỉ có việc mua gà và mua rượu.

Ngày giờ xỏ vàm trâu cổ đã tới.

Trên bãi cỏ bờ sông, sau trạm y tế, bầy trâu non già 30 con đông đủ. Cũng đông đủ xếp Tây hai thằng, vài chục chú mã tà, mấy trăm anh em tù nhân đều tề tựu, như để xem xiếc.

Bỗng Tô Ký dõng dạc ra lệnh:

- Lùa hết trâu xuống sông một lượt!

Trót, trót, trót… roi quất đít trâu.

Trâu ùa xuống sông, con này trước con kia, con này sát con kia. Tô Ký cầm dây mây đã vót nhọn, nhảy lên lưng trâu. Một con. Hai con. Ba con. Rồi nhảy lên lưng anh trâu cổ. Anh trâu cổ lúc này ở giữa bầy trâu 30 con, chen nhau như nêm. Đoạn, Tô Ký dùng hai chân kẹp cổ anh trâu cổ, trườn mình dài ra trên đầu trâu, nằm giữa cặp sừng nhọn, với tay ra trước nắm lấy mũi trâu, rồi lấy dây mây đã vót nhọn đâm một cái sựt, kéo nhanh dây mây, buộc chặt vào mang tai trâu. Tất cả làm xong chỉ trong một vài phút.

Gap-TT-Phap-F
Gặp TT. Pháp F. Mitterrand (1993)

Cột dây vàm rồi, Tô Ký đứng phắt dậy trên lưng trâu cổ, nhảy qua lưng bầy trâu, hết con này đến con khác, rồi nhảy lên bờ, hô: Xong!

Mấy trăm người hoan hô nhiệt liệt.

Xếp Tây Ménétrie nói:

- Vous êtes formidable! (Anh cừ thật).

Đội, cai, lính, hết lời khen:

- Gan hết cỡ! Mưu rất cao!

Đồng bào Mạ tỏ vẻ khâm phục, chỉ tay về phía mặt trời lặn, bảo “làng tôi ở bên kia”, như tỏ ý mời.

Là một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, phải xa nhà, xa quê từ rất sớm, Cụ Giàu là người sống rất chan hòa, thân ái với mọi người. Với cha mẹ, vợ con, với bạn bè, đồng chí… Cụ Giàu hết sức thủy chung, tình nghĩa.

Sau khi vượt ngục Tà Lài, Trần Văn Giàu lẩn tránh ở Đà Lạt khá lâu. Cụ giả làm thợ hồ và xây nhà rất khéo. Một lần đau nặng, phải đưa vào nhà thương. Cụ bị sốt rét ác tính, cộng với thương hàn. Bệnh này rất dễ chết. May sao, Cụ gặp một dì phước trẻ, đẹp, chăm sóc vô cùng chu đáo, tận tình, khiến Cụ nhớ mãi. Cụ ghi lại như sau:

“Vào bệnh viện, tôi nằm một phòng với ba người khác, cũng sốt rét ác tính như tôi. Mỗi ngày “đi” một anh. Rồi cuối tuần, anh thứ ba. Tôi là tên thứ tư, không biết bao giờ đi… Tôi luẩn quẩn mãi trong đầu cái câu hỏi: Nên hay không nên viết thư gởi về nhà, để sẵn đầu giường, báo tin cho mẹ, cho vợ, cho chị ở nhà là khi đọc được thư thì tôi đã chết tại Bệnh viện Đà Lạt. Viết thư thì sợ lộ bí mật, sợ rằng ông bạn đã cho tôi ở nhờ, đã đem tôi đi bệnh viện, sẽ bị bắt để điều tra xem còn có tù vượt ngục nào bên cạnh tôi không. Nghĩ đến khả năng mình chết rồi mà còn làm hại cho người khác, tôi ngập ngừng và không viết thư nữa… Trong thời gian đó, tôi được săn sóc tận tình bởi một dì phước (sơ) trẻ, đẹp, đầy lòng nhân ái. Tôi đại tiện toàn máu; mỗi khi như vậy, hai tay tôi bám vào chân giường, mặt mày tối tăm cả năm bảy phút; mình trông mình đã tởm mà dì Phước đổ bô, nét mặt cứ như thường, không khi nào tỏ vẻ gớm ghiếc. Ngày đổ bô hai ba lần. Bệnh của tôi, nếu ăn không kỹ, dễ bị lủng ruột. Tôi thấy mỗi lần đem thức ăn cho tôi, dì Phước dùng vải thưa trắng tinh lọc súp, để súp chỉ còn có nước. Tôi thoát chết. Hôm ra viện, tôi chỉ có một chữ “rất cám ơn” với vị ân nhân mà tôi không biết tên.

Cuộc đời bôn ba của tôi không cho phép tôi trở lại một lần nữa để cám ơn dì phước.

Sau cách mạng và kháng chiến, tôi có dịp lên Đà Lạt. Tôi đã đến bệnh viện cũ, hỏi thăm các dì phước, cố gặp lại ân nhân. Nhưng bệnh viện còn đó mà người thì biệt tăm”.

Người đời thường gọi Giáo sư Trần Văn Giàu là nhà hùng biện. Điều đó là chính xác. Tự hào thay, cách mạng có một nhà hùng biện hấp dẫn như thế. Tài hùng biện của Cụ Giàu chẳng những được nhân dân, bạn bè mến phục mà cả kẻ thù cũng bị thuyết phục, thực sự bị thuyết phục.

Còn nhớ, Giáo sư Trần Văn Giàu kể:

“Tháng 12 (1940), được tin chính xác rằng cuộc khởi nghĩa nổ ra ngày 23-11 bị hoàn toàn thất bại, chúng tôi bãi bỏ sự chuẩn bị khởi nghĩa ở Tà Lài. Dĩ nhiên là công tác binh vận, tuyên truyền trong đồng bào Mạ thì vẫn tiếp tục. Hàng trăm anh em ở các tỉnh mới bị bắt đưa lên trại giam cho chúng tôi biết, thực dân Pháp tàn sát rất dữ dội, dữ dội gấp nhiều lần những năm 1930-1931.

Một hôm, chủ tỉnh Biên Hòa La Rivière lên Tà Lài với một tiểu đội lính khố xanh hộ vệ. Hôm đó, cũng như từ mấy hôm trước, sau khi nổ ra khởi nghĩa tháng 11, trại viên không toán nào đi làm ngoài xa cả, tuyệt đại đa số đều tập trung. Già cả thì chẻ tre, đan ky trong nhà. Trai trẻ thì xeo đá, gánh đất làm con đường lớn gần sát trại đi lên dọc theo sông Đồng Nai. Bỗng xếp căng (camp – tiếng Pháp – trại) dẫn chủ tỉnh đến chỗ chúng tôi đang xeo đá, đắp đường.

- Tất cả, tập hợp lại! Cuốc xẻng bỏ hết xuống đất! – Xếp căng ra lệnh.

Anh em mới cũ, già trẻ non 500 người tập hợp lại. Một toán lính lên cò súng trường nghe rôm rốp.

- Có biến rồi! Chắc khủng bố! – Anh em nói với nhau.

- Bình tĩnh! Bình tĩnh! Đứng thưa ra, thưa ra! – Tôi bảo anh em.

Chủ tỉnh nói:

- Hãy nghe ta đây! Vừa qua, thừa lúc nước Pháp bại trận ở châu Âu và bị rối ở biên giới Thái Lan, đảng Cộng sản của các người đã cầm vũ khí nổi lên, toan đánh đổ chánh quyền Pháp ở Nam kỳ. Đảng của các người đã hoàn toàn thất bại. Chính phủ đã và đang thẳng tay đàn áp, đàn áp không thương tiếc. May lắm, mươi mười lăm năm nữa, đảng của các người mới có thể ngóc đầu dậy. Ta báo tin cho các người biết. Bây giờ, các người hãy trả lời cho ta câu hỏi sau đây:

- Hỏi vậy, các người ở căng Tà Lài này tán thành hay phản đối cuộc bạo động vừa qua ở Nam kỳ?

Như thường lệ, là đại biểu được toàn thể anh em bầu ra, tôi dịch cho anh em nghe. Tôi thấy anh em lo ngại lắm. Rõ ràng quá rồi, thằng chủ tỉnh đang khiêu khích. Mấy trăm cặp mắt ngó vào tôi, như bảo phải trả lời sao cho vừa giữ thanh danh của đoàn thể, vừa tránh khủng bố đẫm máu cho anh em.

Tran-Van-Giau---Hoi-ky-1940-1945

Tôi yêu cầu các anh em ủng hộ tôi.

Khó trả lời quá: nói tán thành khởi nghĩa thì thằng chủ tỉnh có thể sẽ ra lệnh bắn. Lúc này mà bắn chết năm, bảy chục, một hai trăm người, tụi Tây ở đâu cũng dám làm. Bọn tề xã còn dám tự tiện giết người kia mà! Còn nói không tán thành hay phản đối khởi nghĩa, mặc dầu khởi nghĩa đã nổ ra rồi, đã thất bại rồi, thì hóa ra mình hèn, Tây nó khinh mình, mình cũng xấu hổ. Tôi xòe tay làm dấu hiệu bảo anh em đứng thưa ra hơn nữa. Tôi bước tới mấy bước, rồi đứng lên một tảng đá lớn, khá cao, với ngụ ý là, nếu tôi bị bắn, tôi sẽ đổ từ trên xuống, chớ không phải ngã bẹp. Tất cả diễn ra hết sức nhanh. Tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp. Sau lưng tôi, có Văn dịch lại cho tất cả anh em nghe:

“Này ông chủ tỉnh! Ông hỏi, vậy chúng tôi ở Tà Lài tán thành hay không tán thành cuộc khởi nghĩa vừa mới xảy ra ở đồng bằng? Tôi xin trả lời cho ông và chắc ông đủ bình tĩnh để nghe. Ông ơi! Đông Dương của chúng tôi từ mấy chục năm nay ở dưới quyền thống trị của nước Pháp, cũng như mấy tháng nay, nước Pháp yêu dấu của các ông bị quân Đức Hitler xâm chiếm, dày xéo, thống trị. Chúng ta, ông cũng như tôi, đều là đồng cảnh ngộ mất nước. Tôi được biết, và ông thừa biết hơn tôi, rằng hàng chục vạn người Pháp thường dân và binh lính đang nổi lên cầm vũ khí, tiếp tục đánh Đức để giải phóng quê hương. Tôi tin chắc rằng trong thâm tâm của ông chủ tỉnh, ông rất đồng ý với những người Pháp kháng chiến rằng không thể van xin quân Đức rút lui, mà nhất thiết phải đánh đuổi chúng nó bằng vũ lực, bằng súng đạn. Ở góc trời Đông Dương xa xăm này, vì tấm lòng yêu nước Pháp, vì ý thức bảo vệ danh dự người Pháp, ông tuy không nói ra, ông không thể nói ra, nhưng ông thực sự một lòng với những người Pháp kháng chiến trong nội địa nước Pháp. Thì, nói giấu gì ông, ở cái xó Tà Lài rừng núi này, tôi sao lại không thông cảm với đồng bào của tôi trong biến cố tháng 11 vừa qua ở Nam kỳ?

Đó, tôi đã trả lời cho câu hỏi của ông chủ tỉnh”.

Thằng La Rivière nãy giờ nín thinh, bây giờ tay không chống nạnh nữa. Nó ngó xuống đất. Nó ngó lên khi tôi nói tiếp:

“Còn như ông bảo rằng may ra mươi, mười lăm năm nữa, Đảng chúng tôi mới sống lại được. Thì, ông ơi, làm sao biết được 15 năm nữa hay 5 năm nữa, cuộc diện thế giới và cuộc diện Đông Dương sẽ biến đổi hoàn toàn. Ông còn sống, tôi chắc cũng còn sống, mọi người ở đây cũng còn sống, chúng ta tất cả là chứng nhân của lịch sử, chúng ta nhất định sẽ vui mừng thấy được nước Đức của Hitler bị bẻ gãy xương sống, nước Pháp của các ông và nước Việt Nam của chúng tôi đều được tự do”.

Thằng Tây xem chừng mất hết cái hùng hổ ban đầu. Nó không nói năng gì hết. Nó quay lưng đi. Xếp căng và toán lính khố xanh mang súng lên vai, theo sau, êm ru. Mấy trăm anh em chúng tôi cười khẽ, bàn bàn luận luận.

Ông Trần Hữu Độ, tục gọi là “Hồi trống tự do”, hay là ông “Biện chứng pháp”, vỗ vai tôi, nói: “Thiệt chiến Tà Lài, nghe khoái thật”.

*

Sau khi vượt ngục Tà Lài, rồi né tránh ở Đà Lạt một thời gian, Cụ Giàu tìm về Sài Gòn – Chợ Lớn để tiếp tục hoạt động. Đây là thời kỳ bận rộn nhất của Giáo sư Trần Văn Giàu. Vì sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, lực lượng của Đảng hầu như tan rã hết, cán bộ lãnh đạo Xứ ủy bị bắt và mất liên lạc gần hết, quần chúng thì hoang mang vô cùng. Hơn nữa, Liên Xô – thành trì cách mạng thế giới – bị phát xít Đức tấn công dữ dội, đang ở thế bị động. Cụ Giàu và mấy cán bộ tâm huyết phải vực dậy phong trào và thành lập lại Xứ ủy. Cụ Giàu là nhà lý luận và hùng biện, lại giỏi nắm tình hình chiến tranh thế giới, có trách nhiệm chính phải khai thông thắc mắc của các đồng chí xung quanh (đang dao động và mất lòng tin nặng nề). Cụ phải vắt óc suy nghĩ, vận dụng mọi lý lẽ có cơ sở nhất để thuyết phục người nghe.

May sao, mặc dù rất khó nhọc, nhưng cuối cùng các đồng chí cũng nghe ra và phục hồi dần lòng tin. Đặc biệt sau đại thắng Stalingrad thì ai cũng thấy lòng vui phơi phới. Cụ Giàu phải lặn lội khắp nơi để móc nối liên lạc với đồng chí này, đồng chí khác, phải thay đổi chỗ ẩn náu liên tục, khi thì làm ruộng, khi thì trồng rẫy, ở sát bìa rừng, để có bề gì dễ tẩu thoát. Cụ dám mua 10 mẫu dứa để giấu mình, hoạt động cách mạng. Vậy mà trong hoàn cảnh loạn ly như thế, chất nghệ sĩ của Trần Văn Giàu vẫn không kềm nén được. Cụ mô tả rất dí dỏm:

“Sáng sáng, chúng tôi vác dao cán dài ra chặt khóm (dứa). Trái nào chim bói hoặc chuột khoét thì ngọt, để lại mình ăn. Trái nguyên đem bán”.

Thật là một thứ lạc quan, yêu đời kiểu Trần Văn Giàu mà không phải ai cũng có được.

Cụ Giàu kể:

“Tôi vào Sài Gòn một buổi tối, đèn điện vừa lên. Một chiếc xe thổ mộ đầy nhóc người, đưa tôi thẳng vào Chợ Lớn. Tôi về căn cứ cũ và Phú Lạc, cách Chợ Lớn không đầy 5 cây số trên con lộ đi Gò Công.

Qua Năm Luông, tôi đã nắm được tình hình an ninh ở Phú Lạc từ sau khởi nghĩa Nam kỳ. Tôi lại được biết rằng, ngày nổ ra khởi nghĩa, nhân dân và đồng chí ở Phú Lạc đã sẵn sàng chiến đấu; đúng ngày giờ định trước, lực lượng cách mạng từ cầu Ông Thìn, Phú Lạc, Đa Phước, theo kế hoạch đã bí mật kéo lên ém trong Chợ Lớn, sẵn sàng chiến đấu, tiến công địch đúng 12 giờ đêm, khi nhà đèn Chợ Quán bị đánh sập, đèn đường tắt, và tiếng súng lớn nổ làm hiệu ở trại lính Ô Ma. Chờ mãi, quá nửa đêm, đèn điện vẫn không tắt, không nghe tiếng súng lớn nổ, quân phục kích của ta đoán là có biến, nên không đánh đồn bót thị xã mà lặng lẽ kéo về như đã lặng lẽ kéo lên.

Trái lại, quân du kích ở Cần Giuộc cứ theo kế hoạch đã định, nổi lên đánh các đồn địch, nhưng thất bại.

Kết quả là Phú Lạc, sau ngày khởi nghĩa, được tương đối an toàn. Còn Cần Giuộc thì bị địch khủng bố dữ dội. Vậy là, sự yên ổn của Phú Lạc sau tháng 11-1940 không phải do trốn tránh khởi nghĩa. Đó là điều tôi muốn biết rõ và đã biết rõ nhờ gặp Năm Luông ở Đà Lạt, nên tôi mới về Phú Lạc. Vậy, vẫn có thể tin cậy vào lòng trung thành đối với cách mạng của Đảng bộ vùng Phú Lạc, do Bảy Trân lãnh đạo.

Bảy Trân nguyên là một sinh viên trường Đông Phương Cộng Sản đại học (ở Liên Xô) như tôi. Hồi năm 1933, khi Xứ ủy Nam kỳ được chúng tôi xây dựng lại thì tôi đã lấy vùng Phú Lạc này làm một căn cứ an toàn của lãnh đạo. Ở đây, nhân dân rất tốt, bọn xấu rất ít, hội tề được các đồng chí đánh giá là gần như “trung lập”, không sốt sắng gì trong việc “giữ trị an”. Viên cai cổng lại là người bà con gần của Bảy Trân, là người nhà của Năm Luông.

Tôi ở Phú Lạc lâu và nhiều đợt. Hai lần tôi bị bắt ở Sài Gòn, lần nào tôi cũng giữ được an toàn cho Phú Lạc. Đồng bào ở đây tin tôi, thương tôi. Nay tôi về đây, lo nhất là một vài người dân Phú Lạc nhận ra tôi, rồi đồn đãi ra nhiều người biết. Về Phú Lạc, tôi có cảm giác như cá về nước, chim về rừng.

Trò chuyện thâu đêm với Bảy Trân, Sáu Thuần, Chín Báu. Mấu chốt cuộc trò chuyện đêm ấy là lời tâm huyết của Bảy Trân và anh em, đồng chí ở Phú Lạc:

- Giàu ơi, mày về đây có nghĩa là mày tin tụi tao và tụi tao tin mày. Tụi tao hết sức bảo vệ mày. Nhưng bây giờ mày ở đây không được, không nên ở. Tụi tao sẽ đưa mày tới một vùng gần như tuyệt đối an toàn, để mày tiếp tục ẩn lánh một thời gian nữa, sau sẽ tính. Chớ bây giờ, tụi tao không sẵn sàng làm việc cách mạng với bất cứ ai. Bây giờ tin ai? Đảng viên cộng sản không phải đã bị bắt, bị giết hết; hãy còn khá nhiều, nhưng tụi nó đều “lặn” hết, ẩn hết trong rừng, trên núi, trong xóm dân nghèo, ở đâu không biết, xớ rớ là bị “bẫy chuột” của Tây nó giăng sẵn”.

Giờ đây, tư tưởng hoài nghi bao trùm tất cả.

“Đó là sự thật, này, Giàu, mày phải hiểu rõ; đừng chủ quan, nóng vội mà chết sớm. Nếu mày muốn, một ngày nào đó chứ không phải bây giờ, tụi tao lại hoạt động với mày thì, điều kiện thứ nhất là mày phải giải quyết tư tưởng cho tụi tao ở Phú Lạc này 3 vấn đề mấu chốt”.

Cụ Giàu nghe mà sởn tóc gáy, vì đó là những vấn đề rất lớn, không dễ trả lời, không dễ nói cho người ta thông.

Thế mới biết, lòng tin giữ vai trò quan trọng như thế nào đối với quần chúng nhân dân, đối với cả đảng viên và mọi người biết suy nghĩ, biết tính trước lường sau. Người lãnh đạo cần phải thấu hiểu điều đó. Đảng cách mạng càng phải thấu hiểu điều đó, nếu không muốn mình phiêu lưu, nói không ai nghe. Có một câu châm ngôn nước ngoài rất hay như sau:

“Đáng buồn nhất cho người lãnh đạo là khi nhìn lại phía sau, chẳng thấy ai theo mình nữa”…

Lấy dân làm gốc! Xa dân là mất tất cả! Bài học ấy luôn luôn đúng ở mọi nơi, mọi lúc. Tiếc rằng có lúc, vì lẽ này lẽ khác mà người ta nỡ quên đi, để phải nhận quả đắng cho sự không nghiêm túc của mình. Các nhà cách mạng lỗi lạc đều khẳng định: “Nhân dân làm nên lịch sử”. Không có lý do gì mà người lãnh đạo được quyền xa cách nhân dân. Việt Nam ta cũng có câu ca dao rất hay:

“Dễ trăm lần, không dân cũng chịu
Khó vạn lần, dân liệu cũng xong”.

Bác Hồ bao giờ cũng khuyên cán bộ, đảng viên, muốn làm gì, “phải hỏi dân. Cái gì người ta ưng thì làm. Cái gì người ta không ưng thì đừng làm”. Lời Bác còn rành rành ra đó, ai dám quên nào?

Giáo sư Trần Văn Giàu nói tiếp:

“Tôi có ý thức rằng, những giải đáp của tôi cho các đồng chí Phú Lạc sẽ là sự giải đáp cho nhiều cán bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, vốn quen lớn với các đồng chí anh em nhà Bảy Trân.

Về cuộc khởi nghĩa tháng 11-1940 ở Nam kỳ, tôi đã biết đại khái diễn biến của cuộc khởi nghĩa ấy từ hồi ở Tà Lài, nhờ tổng hợp báo cáo lẻ tẻ của mấy chục anh em cốt cán bị bắt giam sau khi khởi nghĩa thất bại. Ở Tà Lài, Đảng ủy cũng đã phân tích sự kiện lớn này và rút ra những bài học kinh nghiệm xương máu. Về Phú Lạc, tôi lại hỏi thêm Bảy Trân và các đồng chí ở đó. Như vậy, tôi đã có thể đi đến một số kết luận tạm thời:

1. Khởi nghĩa vũ trang là tất yếu. Nhất thiết phải giành chính quyền, giành độc lập bằng khởi nghĩa vũ trang; không có cách mạng hòa bình, không có độc lập bằng xin xỏ, bằng sự ban cho của nước ngoài.

2. Khởi nghĩa muốn được thành công thì phải là một cuộc khởi nghĩa của quảng đại quần chúng, chứ không phải của một nhóm người, của một chính đảng, dù đó là nhóm người có tập luyện và có vũ khí, dù đó là một chính đảng lớn, có quyết tâm, có kỷ luật.

3. Khởi nghĩa muốn thành công thì phải vừa có lực lượng, vừa đúng thời cơ. Thiếu lực lượng, thiếu thời cơ thì khởi nghĩa dù oanh liệt, anh hùng mấy cũng thất bại. Khởi nghĩa thiếu lực lượng và thiếu thời cơ, cũng gọi là khởi nghĩa non hay “manh động”.

4. Phải quan niệm, khởi nghĩa giành chính quyền là một cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng, nổ ra trên toàn quốc, không phải nổ ra ở một vài địa phương. Khởi nghĩa địa phương cô độc, sẽ bị địch tập trung sức dập tắt.

5. Đảng chỉ đạo khởi nghĩa phải theo đúng những nguyên tắc chiến lược, chiến thuật mà Mác – Lênin đã đề ra hết sức đầy đủ và rõ ràng. Chỉ đạo khởi nghĩa là cả một nghệ thuật.

Lênin bảo: “Không đùa với khởi nghĩa được!”.

Cụ Giàu viết:

“Tôi khẳng định với các đồng chí Phú Lạc rằng phải theo con đường Tháng Mười là chính thì khởi nghĩa ở xứ ta mới thành công.

Tụi Bảy Trân gần như không có ý kiến nào khác ý tôi, nhưng vẫn đặt dấu hỏi về tương lai khởi nghĩa ở Việt Nam”.

… “Cuối năm 1943, tôi về Sài Gòn và đi thẳng lên Gò Vấp, một quận ngoại ô kế cận của Sài Gòn. Trong ý thức của tôi, Gò Vấp của Sài Gòn là Saint – Denis của Paris – thị xã “đỏ”, ở đây luôn luôn Đảng Cộng sản toàn thắng trong các lần bầu cử hội đồng thị xã. Đa số nhân dân Gò Vấp có cảm tình với Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1930 kia. Những Xóm Thuốc, Bào Lăng, Hàng Điệp, đã từng là căn cứ, là nơi an toàn của Xứ ủy chúng tôi. Năm 1942, khi tôi từ Đà Lạt về Phú Lạc, tôi đã nhờ Bảy Trân lên Gò Vấp, đến nhà Sáu Sáng để xem nơi đó còn là nơi an toàn không? Kỳ này, về Sài Gòn, định “cắm sào” hơi lâu, thì ngoài Phú Lạc, tôi chọn Gò Vấp làm một nơi căn cứ – căn cứ thứ hai, căn cứ thứ ba sẽ là Chợ Đệm, sau khi tôi gặp Bảy Trân.

Thay mặt cho Xứ ủy, tôi truyền đạt và giải thích tỉ mỉ cho Ban cán sự Thành những điểm sau đây của một đường lối cách mạng trong thành phố, một phương hướng hoạt động nhằm làm cho Sài Gòn và ngoại ô thật sự thành một pháo đài của chủ nghĩa cộng sản:

Thứ nhất, trong tương lai chắc chắn là không xa mấy, Sài Gòn sẽ phải trở thành trung tâm điểm của một phong trào đấu tranh cách mạng nổi lên khắp Nam kỳ lục tỉnh, nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ vinh quang nhất, cũng là khó khăn nhất là khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc. Và cần phải đinh ninh rằng, một cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ, muốn thành công thì nó phải là bộ phận không tách rời của một cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc…

Thứ hai, trong tương lai, một cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ phải lấy thành phố Sài Gòn làm nơi quyết định thành bại, vì đầu não của địch, yết hầu của địch tại Nam kỳ đều tập trung ở Sài Gòn. Giành được chính quyền ở Sài Gòn là tạo điều kiện thuận lợi để mau chóng giành chính quyền ở các quận, các tỉnh.

Thứ ba, một cuộc khởi nghĩa cách mạng muốn được thành công thì phải có phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao đến tột đỉnh.

Theo Mác và Lênin thì khởi nghĩa là một khoa học, một nghệ thuật, ta phải nằm lòng.

Tình hình mỗi ngày một sáng sủa hơn. Tình hình thế giới có nhiều thuận lợi. Nhất là thắng lợi to lớn của Liên Xô đối với quân phát xít Hitler, đặc biệt sau chiến thắng vĩ đại của Hồng quân Liên Xô ở Stalingrad (năm 1943), tinh thần mọi người tươi tỉnh hẳn lên. Phe phát xít thua trận là điều ai cũng thấy.

Nhưng địch càng giẫy chết thì chúng càng có lắm âm mưu. Ta phải chống chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề mới” của Pháp do Decoux chủ xướng. Ta lại phải chống chủ nghĩa “Đại Đông Á” của Nhật. Cả Pháp lẫn Nhật đều muốn giành giật quần chúng với Đảng ta.

Tình hình xã hội diễn biến rất nhanh và phức tạp, nhưng Đảng ta thu phục được lòng dân. Đó là lòng yêu nước trong sáng không gì giả mạo được của Đảng và nhân dân. Ý Đảng, lòng dân đã gặp nhau, tạo nên sức mạnh dời non lấp biển.

*

Gấp lại những trang hồi ký của Giáo sư Trần Văn Giàu, lòng tôi vẫn còn in đậm nhiều ấn tượng nhân văn cao quý. Chúng ta rất hạnh phúc được tiếp xúc một nhà đại trí thức cách mạng, giàu nhân cách. Giáo sư không cần màu mè, phô trương, chỉ cần trung thực, thông minh, xả thân vì dân, vì nước một cách hồn nhiên trong sáng, Giáo sư đủ chinh phục được người đọc một cách tự giác, nhẹ nhàng. Tự hào thay, nhân dân đã đúc nên một hình tượng đẹp như thế: Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu, Anh hùng lao động Việt Nam, một người cán bộ lãnh đạo sáng ngời của Đảng qua những thời kỳ sóng to gió lớn của Tổ quốc.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 425

Ý Kiến bạn đọc