Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Kế sách đánh giặc, giữ nước

Lịch Sử Của Dân Tộc Ta Là Lịch Sử Dựng Nước Và Giữ Nước. Bởi Vậy, Tổ Tiên Ta Đã Có Những Kế Sách Đánh Giặc, Giữ Nước Độc Đáo.

 

Thục Phán (An Dương Vương) là thủ lĩnh Tây Âu, người đã chỉ huy cộng đồng người Việt chống lại cuộc xâm lược của nhà Tần. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, lúc đó người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để quân Tần bắt và họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh. Trên thực tế, nếu đương đầu với đạo quân đông đảo, thiện chiến như quân Tần thì thất bại là điều không tránh khỏi. Nhưng người Việt đã biết tận dụng địa hình núi rừng để kiên trì cho cuộc kháng chiến lâu dài, đánh nhỏ, đánh ban đêm nhằm tiêu hao quân giặc, triệt nguồn cướp bóc lương thực của giặc. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, cuộc kháng chiến mưu trí, bền bỉ của người Việt đã làm cho quân Tần “lương thực bị tuyệt và thiếu, đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong”. Trong 3 năm, quân Tần không được nghỉ ngơi “đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết chồng nhau”. Nhận thấy quân Tần suy kiệt cả về tinh thần và sức lực, dưới sự chỉ huy của Thục Phán, quân ta đã tổ chức đánh lớn tiêu diệt sinh lực địch, giết được tướng Đồ Thư khiến quân Tần như rắn mất đầu, từng bước tan rã. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhà Tần dưới sự trị vì của Tần Nhị Thế, buộc phải bãi binh vào năm 208 TCN. Cuộc kháng chiến chống Tần của người Việt giành thắng lợi rực rỡ.

Thánh Thiên là một nữ tướng tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào năm Canh Tý (40 sau CN). Sau khi Hai Bà Trưng lấy được sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Nam rồi tự lập làm vua, bà được phong làm Thái Bảo chư hầu trấn giữ miền Hợp Phố. Khi nhà Hán phong cho Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, phong cho Phù Lạc Hầu là Lưu Long làm phó tướng, đem quân sang xâm lược nước ta vào năm Nhâm Dần (42 SCN), Trưng Vương sai nữ tướng Thánh Thiên đem quân giao chiến với quân Hán. Quân của bà tiến quân đều thắng, giết hàng ngàn tên giặc, khiến quân Hán phải lui binh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: Thánh Thiên công chúa đem quân giao chiến với quân Hán ba, bốn lần, một tay chém non ngàn quân giặc, khiến quân Hán phải lùi sang vùng Mã Giang, biểu tấu về vua Hán rằng “Nam bang có nữ tướng Thánh Thiên dụng binh như thần, trí dũng thiên phương, không sao phục được. Xin bệ hạ phái thêm các tướng giỏi và tiếp thêm quân sĩ sang giúp sức”. Tuy đến nay chúng ta khỏng rõ nữ tướng Thánh Thiên “dụng binh như thần” như thế nào nhưng người hậu thế về sau đều đánh giá bà là nữ tướng tài giỏi nhất của Hai Bà Trưng.

So-628--Ke-sach-danh-giac-giu-nuoc---Anh-1
Tượng đài Hưng Đạo Vương trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam – Ảnh: internet.

Triệu Quang Phục là Tả tướng quân thời vua Lý Nam Đế. Năm 546, Lý Nam Đế thua trận trước nhà Lương, ủy thác việc nước cho ông. Để chống nhau lâu dài với giặc, năm 547, ông lui về xây dựng căn cứ ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên). Ông mang 2 vạn quân đóng ở bãi đất nổi bên trong đầm, dùng đoản binh đánh du kích, khiến cho tướng nhà Lương Trần Bá Tiên đứng ngồi không yên. Sau đó, khi Trần Bá Tiên phải lui về phương Bắc để chống lại một cuộc bạo loạn chống triều đình nhà Lương, ông thừa cơ đánh cho quân Lương tan vỡ. Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về Việt Vương Triệu Quang Phục như sau: “Vua giữ đất hiểm dùng kỳ binh để dẹp giặc lớn”.

Chiến tích hiển hách nhất của Ngô Quyền chính là trận đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938. Ông cho rằng: “Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được”. Ông còn sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển để thuyền của giặc theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó dễ bề chế ngự. Kết quả trận đánh này quân Nam Hán thảm bại. Sử thần Ngô Sĩ Liên hết lời khen ngợi ông, đánh giá ông là “mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ, đứng đầu các vua”.

Từ nhỏ, Lý Thường Kiệt đã có chí hướng, ham đọc sách, say sưa nghiên cứu binh thư, luyện tập võ nghệ. Tên thật của ông là Ngô Tuấn, cháu 6 đời của Ngô Quyền, giữ chức Thái úy nhà Lý. Ông cho rằng: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Bởi vậy, ông đã chỉ huy quân đội nhà Lý nhanh chóng đánh chiếm hai Châu Khâm, Liêm, rồi hạ thành Ung Châu của nhà Tống, phá tan các vị trí tập kết quân và lương thảo chuẩn bị xâm lược nước ta.

Trần Quốc Tuấn là vị tướng tài năng nhất của đời Trần, người viết ra “Dụ chư tỳ tướng hịch văn”, “Binh thư yếu lược”, “Vạn kiếp tông bí truyền thư”. Với vai trò là Tiết chế các đạo quân thủy bộ trong kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai và thứ ba, ông đã góp sức to lớn cùng nhà Trần chỉ huy quân dân nhà Trần lấy đoản binh chống lại trường trận, dùng kế vườn không nhà trống, kiên cường kháng chiến thắng lợi. Sau khi kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 3, ông về ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến hỏi về kế sách. Năm 1300, vua Trần Anh Tông hỏi về kế sách giữ nước thì ông đã cho rằng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

Năm 1416, Nguyễn Trãi trốn khỏi Đông Quan, nơi bọn giặc Minh quản thúc ông và sau đó dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi ở Lỗi Giang, Thanh Hóa. Trong bài tựa Ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết Bình Ngô sách đã “hiến mưu chước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”. Sau khi xem Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được Lê Lợi cho ngày đêm dự bàn việc quân. Theo Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là cội nguồn của cuộc sống. Có nhân nghĩa thì thành công, không nhân nghĩa thì thất bại. Bọn giặc Minh thì “Dối trời, lừa dân đủ muôn nghìn kế/ Gây binh, kết oán trải hai mươi năm/ Bại nhân nghĩa, nát cả đất trời” (Bình Ngô Đại Cáo). Binh pháp “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi do đó đã giúp khởi nghĩa Lam Sơn trong việc thu phục lòng dân khi tiến quân mở rộng cuộc khởi nghĩa. Ngày 25 tháng Giêng năm Ất Tỵ (1425), khi nghĩa quân tiến vào Nghệ An, các chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn đã ra lệnh cho tướng sĩ: Dân ta khốn khổ vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào mảy may không được xâm phạm. Cho nên, Lam Sơn thực lục cho biết, sau khi lệnh trên được thi hành, nhân dân chẳng ai là không vui mừng, tranh nhau đem trâu, rượu ra đón khao dùng vào quân dụng. Khi nghĩa quân Lam Sơn cho một bộ phận đột nhiên quay trở lại đánh úp Tây Đô thì nhân dân Thanh Hóa đều thi nhau đến cửa quân, xin hăng hái ra sức để mưu báo đền. Lam Sơn thực lục cho biết thêm nữa, khi tiến ra Bắc, nghĩa quân Lam Sơn được nhân dân các lộ Đông Kinh cùng phiên trấn các xứ hân hoan, tranh nhau đem bò, dê, lương thực đến để khao tướng sĩ. Cuối năm 1426, khi quân ta tiến ra vây thành Đông Đô thì trong 3 ngày đầu, nhân dân kinh lộ và các phủ châu huyện cùng các tù trưởng ở biên trấn đều tấp nập đến cửa quân, xin ra sức liều chết để đánh thành giặc các nơi. Cho nên việc tổ chức Hội thề Đông Quan (ngày 10-12-1427) để cho Vương Thông rút quân về nước chính là vì “Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức/ Chẳng những mưu kế kì diệu/ Cũng là chưa thấy xưa nay” (Bình Ngô Đại Cáo). Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi cũng chính là do đây là đội quân lấy nhân nghĩa làm đầu. Có nhân nghĩa sẽ tạo ra được một đội quân không có kẻ thù nào có thể địch lại được. Đó chính là đỉnh cao của binh pháp “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi.

Lịch sử ghi nhận Quang Trung – Nguyễn Huệ chưa từng bị thất trận. Ông đã quét sạch 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi đất nước vào năm 1789. Trong tác phẩm Lịch sử nước ta (1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận xét ông là người “phi thường”, có “chí cả mưu cao”. Kế hoạch hành quân, tấn công chớp nhoáng vào địch quân là một binh pháp kỳ tài của người thủ lĩnh áo vải này. Bởi 29 vạn quân Mãn Thanh được tên vua Lê Chiêu Thống rước về nước và chúng đã kịp xây đồn lũy phòng thủ. Với quân số ít hơn và hành quân từ xa nhưng kết quả quân Tây Sơn vẫn chiến thắng giặc. Nguyên nhân là do Quang Trung – Nguyễn Huệ đã chia quân làm 3 đạo hành quân thần tốc khiến giặc bất ngờ, bị động nên đại bại. Nói về điều này, sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Người Tây Sơn hành quân như bay tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp”.

Huế, ngày 31/12/2020

NGUYỄN VĂN TOÀN
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 628

Ý Kiến bạn đọc