Tản văn

Hương hoa cau

Tôi về quê vào giữa mùa cau nở. Quê tôi không phải đất cau như Cao Nhân (Thủy Nguyên, Hải Phòng), nhưng nhà nào cũng có vài cây trồng trước sân nhà theo tinh thần tự cung tự cầu và để hứng nước mưa vào bể.

Từ nhỏ, tôi đã thích ngắm cây cau dáng thẳng tắp với vẻ tĩnh tại, trầm tư và hương thơm hoa cau. Hai cây cau và giàn trầu quế xanh tốt từ thời bác tôi trồng vẫn còn. Những cành trầu quấn quýt vào thân cau leo rất cao. Mùa sương muối, trầu được che đậy cẩn thận. Mấy anh con bác bảo không bán, để ngắm cho thích mắt. Đứng dưới gốc cau cùng giàn trầu, “di tích” duy nhất của gia đình thời bác tôi còn sống, lòng tôi chộn rộn khó tả. Tôi lấy lá trầu vo tròn hà hít cái hương thơm cay cay đặc biệt, nhớ về gương mặt bác gái phúc hậu, đầu vấn khăn mỏ quạ, lúc nào miệng cũng nhai trầu, hàm răng đen nhánh. Tôi nhớ mãi câu nói của bác dạy anh em chúng tôi về đối nhân xử thế: “Yêu nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”. Khi đi học Sư phạm, tôi mới hiểu đầy đủ ý nghĩa thâm thúy của câu tục ngữ ấy.

Anh-minh-hoa---Huong-hoa-cau

Cảnh quê thật ấm cúng, thanh bình! Tôi ngây ngất trong hương cau thơm nức. Cau không giấu hương mà ngược lại cứ tỏa lan khiến trong nhà, ngoài ngõ đều thơm. Nhìn 4 buồng đang nở rộ, hai bẹ e ấp ôm thân cây mà lâng lâng như được trở về tuổi thơ trong trẻo. Hoa cau thật đặc biệt. Nụ hoa như hạt gạo nối đuôi bám vào những chiếc rua dài rất đẹp. Tôi rưng rưng nhớ về tuổi thơ cùng với hương cau. Chúng tôi lấy chẽ cau chưa nở buộc vòng quanh cổ làm vòng cườm. Thích nhất là buổi sáng ra mở cửa, hương ùa vào nhà, biết ngay hoa cau nở. Không tin ở mắt mình, buồng cau chúc ngược xuống như muốn trả nghĩa người trồng thứ hương cao quý của mình. Không có hương hoa nào thơm lâu như hương hoa cau. Vài hôm sau, hoa rụng trắng sân, bay cả lên thềm nhà. Nền gạch đỏ càng tôn sắc trắng ngà của những bông hoa nhỏ nhắn, xinh xắn. Chúng tôi nhẹ nhàng vơ hết đựng vào rá làm gạo chơi đồ hàng.

Tối sáng trăng, bác trai đem chiếc chõng tre đặt giữa sân, cùng mấy người hàng xóm uống nước vối bàn chuyện làm ăn, chuyện thời sự rôm rả. Chú chó mực nhìn những tàu cau phơ phất cứ sủa bóng liên hồi. Bác tôi phải cầm chiếc quạt mo chạy đến đe nó mới chịu im. Hoa cau trắng trong, thanh cao nên nhiều người dùng thắp hương mồng 1, hôm rằm. Chỉ một chẽ trên ban thờ là thơm ngát nhà. Nhiều người tỉa bớt hoa cau đem bán, thu nhập cao hơn bán quả, đỡ khó khăn khi “tháng ba đói dài”. Rồi những quả cau bằng ngón tay xanh xanh sát cuống to dần. Người trồng cau rất kiêng bán cau trực tiếp cho lễ ăn hỏi vì theo kinh nghiệm là năm sau cau sẽ không ra quả nữa. Bác gái tôi từng giải thích theo lời truyền của các cụ: “Được duyên người, lười duyên cau”. Các cụ bảo rằng: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, nên nhà ai cũng kiêng kỹ lắm”.

Mùa cau nở, lũ trẻ chúng tôi háo hức nhất bởi đó là mùa chim mía lại về. Có đàn đông hàng nghìn con. Chúng ríu rít suốt ngày trong bãi mía xanh rì đang vào mùa mật ngọt. Những chú chim mía nhỏ hơn chim sẻ, có bộ lông màu lá úa thật ngộ nghĩnh, đáng yêu. Những tối sáng trăng, chúng tôi theo mấy thanh niên đi bẫy chim mía nướng lá ổi ngay trên mặt đê. Thịt chim béo ngậy, ăn một lần sẽ nhớ mãi. Giờ thấy ân hận và thương lũ chim. Tuổi thơ chúng tôi cứ thế hồn nhiên lớn lên trong hương đồng gió nội và những thú vui dân dã ấy.

Về quê, thưởng thức hương hoa cau, tôi được đắm mình trong quá khứ đẹp đẽ, thiêng liêng, được đắm mình trong không gian yêu dấu, thấy hạnh phúc vô cùng!

Trịnh Thị Thuận
(Quận Hải An, TP. Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 441

Ý Kiến bạn đọc