Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Hư cấu sử ký và Sử ký hư cấu

Đọc cái đề bài, chắc bạn đọc tưởng bài nói chuyện xa xưa vì cái từ “Sử ký” là loại từ cổ (1). Không phải thế đâu ạ. Đây là hai thuật ngữ mang tính “khoa học” trong việc phân loại hai cách các tác phẩm văn học viết về lịch sử do ông Ngô Hương Giang đưa ra trong sách “Chân lý và hư cấu” mới xuất bản vài năm nay của ông (2). Nhưng có lẽ ông cũng du nhập từ nước ngoài về vì có ghi chú thuật ngữ bằng tiếng Anh: Historical fiction và Fiction history (Không rõ tác giả mượn ở đâu và ghi tiếng Anh có chính xác hay không?).

Anh-minh-hoa

Sự khác nhau ở hai cách viết về lịch sử này phản ánh bằng sự phân biệt ở hai thuật ngữ ấy như thế nào?

Theo tác giả, hư cấu sử ký không phải là viết lại lịch sử thế giới (?) bằng hình tượng mà là sự phản biện và đánh giá lại hiện thực lịch sử bằng một nhãn quan khác và bằng phương pháp khác (đôi khi đối lập lại hướng đi truyền thống đã cũ mòn). Còn sử ký hư cấu không phải là thái độ phản tư nhìn nhận lại lịch sử mà là sự tiếp biến của sự kiện lịch sử… Để dẫn chứng, ông đưa những tác phẩm như Vàng Lửa của Nguyễn Huy Thiệp, Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, cả tác phẩm của Đặng Trần Côn (Chinh phụ ngâm, chữ Hán), của Nguyễn Du (Truyện Kiều?) cho loại thứ nhất (3) và Vùng Lõm của Nam Hà, Lính trận của Trung Trung Đỉnh cho loại thứ hai. Tác giả công khai tuyên bố là mình yêu thích loại thứ nhất vì nó lập thức (?) về văn hóa và xã hội, là khai sáng những vùng đất bị lãng quên. Và, một cách “lý luận” hơn, vì lý luận văn học hướng sự quan tâm tìm hiểu sự vận động của đời sống con người được lưu truyền trong các dấu hiệu ngôn ngữ. Tác giả nói thẳng: chúng ta cần nhiều những nhà hư cấu sử ký vì chúng ta là quốc gia chịu nhiều thiệt thòi về lịch sử, do đó cũng chịu nhiều thiệt thòi về nhận thức, về chân lý lịch sử. Tác giả cho rằng loại thứ hai không được coi là sáng tạo lịch sử.

Chuyện thích hay không thích một cách viết nào, một khuynh hướng sáng tác nào là chuyện cá nhân. Nhưng khi tác giả công bố quan điểm của mình để thuyết phục mọi người thì công luận có quyền phản biện những điều không đúng về khoa học và cả về chính trị xã hội (tất nhiên theo quan điểm thường là khác với tác giả). Vì thế rất nên bàn lại với tác giả.

Việc phân ra hai loại hư cấu là cách làm độc đáo của tác giả. Nhưng có lẽ nên hiểu bản chất của hoạt động hư cấu nghệ thuật. Không có hai loại “hư cấu” khác nhau, đối lập nhau trong việc viết các tác phẩm văn chương. Trong việc viết về đề tài lịch sử thì tỉ lệ hư cấu với nghĩa “tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo” càng lớn. Sự khác nhau ở hai loại hư cấu “sử ký” như tác giả nêu ra chỉ là sự khác nhau về khuynh hướng, về cách khai thác đề tài, khác nhau về lập trường thẩm mỹ hay lập trường chính trị xã hội của người viết. Thật ra người ta thường nói đến hai khuynh hướng viết tác phẩm văn chương về đề tài lịch sử hơi khác. Đó là cách viết khôi phục trung thành cuộc sống thời quá khứ để người đọc có hiểu biết về lịch sử. Tác phẩm loại này ít quan tâm đến những “vấn đề” của lịch sử, bài học từ nó cho hôm nay nên thường không được đánh giá cao. Ngược với cách làm đó là cách viết “lấy xưa dùng nay”, luôn quan tâm đến các vấn đề có ý nghĩa ở thời đó và cho hôm nay. Cách làm này có người gọi là “đi về phía ngụ ngôn hóa” (Có lẽ nên dùng “ngụ ý” và không phải chỉ nói về cái xấu của hôm nay để phê phán răn dạy mới là ngụ ý). Cũng nên nói rằng, không phải cứ khai thác theo kiểu phản biện, “phản tư” với cách nhìn khác lạ, đối lập với cách nhìn phổ biến mới là sáng tạo. Không biết tác giả sẽ nói thế nào về cách “chép sử” ở cuốn “Sử ký” Tư Mã Thiên? Nó thuộc dạng “hư cấu sử ký” hay “sử ký hư cấu”? Và tác giả đánh giá thế nào về sáng tạo ở những tác phẩm viết về lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… Kịch Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược và cả tiểu thuyết Hòn Đất minh họa lịch sử và cả “tô hồng” nữa của Anh Đức? Ngay cả Shakespeare thì nhiều vở cũng chỉ là “tiếp biến” của những trang biên niên sử mượn từ các tác giả khác, liệu tác giả Ngô Hương Giang có xếp chúng vào loại “sử ký hư cấu” và cho rằng nó không có “sự sáng tạo lại lịch sử” (!) hay không? Nếu là người tôn trọng sự thật và tự trọng chắc tác giả phải đỏ mặt khi phải trả lời những câu hỏi này! Cho hay khi vì một động cơ nào đó mà khái quát bừa và phân loại khập khiễng người ta dễ nhận lấy những hệ quả bi hài! Còn về nhu cầu tìm về lịch sử, khai thác những bài học từ nó thì xin hỏi: “Liệu chúng ta có cần tìm các bài học lịch sử (ăn mày dĩ vãng) ở những cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, những chiến công chống bọn xâm lược Nguyên, Minh, Thanh…?”. Hư cấu, tái hiện những chiến công của các anh hùng dân tộc tiêu biểu của dân tộc anh hùng ấy là những “minh họa” kém giá trị nghệ thuật khi các tác phẩm về những chiến công ấy làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước của con dân đất Việt?! Có lẽ cứ phải nghe ngóng xem dư luận phương Tây, “quốc tế” rồi mới quyết định khen chê? Nên nhớ những giải thưởng “quốc tế” cũng không hoàn toàn xuất phát từ sự tôn vinh giá trị “nghệ thuật”! Nên nói thêm rằng, người trẻ tuổi có thể bộp chộp. Nhưng người làm công tác nghiên cứu triết học có bản lĩnh và tự tin như có vị PGS.TS khen tác giả thì không thể hàm hồ!

Tác giả nói đến “Chân lý” trong các sự kiện lịch sử. Chân lý là khách quan thật nhưng nhận thức Chân lý của con người thì phụ thuộc vào nhiều thứ trong đó có các lợi ích cá nhân hay nhóm lợi ích của họ. Đòi hỏi có một “chân lý” tuyệt đối trong các sự kiện lịch sử hay nhân vật lịch sử là điều khó thực hiện. Phải chăng phải chấp nhận một cách nhìn tương đối theo lợi ích của số đông trong một cộng đồng kiểu dân tộc chẳng hạn? Những người có dịp tiếp xúc gần gũi với một ông tướng thanh lịch như De Lattre de Tassigny thấy ông ta thơm tho nhưng những người đang chịu gian khổ, chứng kiến những cái chết đau thương của dân mình trong cuộc chiến đấu chống đội quân thực dân Pháp xâm lược của ông ta thì không thể khen ông ta như vậy! Nhân vật anh hùng Tào Tháo cũng có hai mặt có thể khai thác khác nhau. Chuyện Quách Mạt Nhược có thể viết kịch phản biện với cái nhìn nhân vật này ở Tam quốc chí diễn nghĩa đứng được là như thế. Lập trường thẩm mỹ xã hội khác nhau về những nhân vật kiểu Gia Long đưa lại hai cái “sử ký” khác nhau cũng đâu có gì khó hiểu. Liệu có thể “đi tìm cái khả năng đã mất” để viết về nhân vật Trần Ích Tắc khi rất có thể tưởng tượng ra cái khả năng nhà quí tộc học giả ấy hợp tác với quân Nguyên, nhận làm vương là muốn “quay về nguồn cội” vì tổ tiên nhà Trần vốn là dân đánh cá ở bờ đông lục địa Trung Hoa! Và biết đâu là đánh thắng quân Nguyên Mông là ta đã từ bỏ cơ hội để con cháu ngày nay trở thành dân của cường quốc thứ hai trong thế giới hiện nay!!! Vấn đề là cái lập trường nào phù hợp với cách nhìn chung, lập trường chung của cộng đồng dân tộc mà thôi. Tuy nhiên, lại phải nói thêm rằng mọi người rất khó chấp nhận những “hư cấu” mang tính bôi nhọ các anh hùng dân tộc, xúc phạm tình cảm chung của cộng đồng (4).

Như vậy là việc đánh giá các tác phẩm văn chương viết về lịch sử không phải là đánh giá đúng sai theo lý tính đơn thuần và thiên kiến. Nó có mặt khoa học phải tôn trọng. Nó có nhìn sự kiện lịch sử như có thể diễn ra theo một lôgích chấp nhận được.và được thể hiện trong cái lôgích nội tại ở tác phẩm? Nó lại phải được nhìn nhận theo nghệ thuật. Việc chọn lựa nội dung và hình thức ở tác phẩm, việc xây dựng hình tượng nhân vật… có đạt yêu cầu nghệ thuật hay không? Nó lại phải đặt trong yêu cầu của thời đại đó và thời đại ngày nay. Không phải cứ “mới”, cứ “lạ”, cứ “lật ngược” được vấn đề là hay. Sự xúc phạm các anh hùng thực sự có công với nước với dân là chạm đến cái có thể gọi là “cảm thức dân tộc”. Rất cần thận trọng. Cái hiệu quả của những “thông điệp” mà tác giả đưa ra đối với cộng đồng ra sao cần được quan tâm khi đánh giá – không phải chỉ là sự đánh giá của giới quyền uy chính trị xã hội đương thời mà là của cả cộng đồng. Càng không phải là sự đánh giá của những công cụ gọi là “quốc tế” từ phương Tây. Thiết nghĩ đó cũng là yêu cầu với giới lý luận phê bình về vấn đề này…

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 393

_____________________

(1) “Sử ký” vốn là tên loại sách ghi chép về sử (lịch sử). Nó chuyển nghĩa, chỉ luôn “môn học về lịch sử” (với nghĩa chuyển này nó mới đồng nghĩa với từ “Lịch sử” chỉ tên môn học).
(2) Sách do NXB Khoa học – Xã hội in năm 2013.
(3) Việc ông đưa hai tác phẩm này của Đặng Trần Côn và Nguyễn Du vào loại văn chương “sử ký” thì hơi lạ. Không rõ ông hiểu khái niệm “sử ký” như thế nào? Đọc kỹ một chút thì thấy ông hiểu lịch sử như thế này: “Lịch sử là cái gì đã qua và nhiều bất tín (?), nó thiếu sự đối chứng đưa con người đến thuyết phục từ các biến cố trọng đại”. Ông đã đánh đồng “lịch sử” và các cuốn “sử ký” chăng?
(4) Liệu có ai muốn đem chuyện có thực là chuyện “chinh phục” cô ruột mình của Trần Quốc Tuấn thời trẻ ra bêu riếu khi mà cộng đồng đã “phong thánh” ông?

Chú thích tranh: Hoàng đế Quang Trung vào thành Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu – Nguồn: antg.cand.com.vn

Ý Kiến bạn đọc