Tản văn

Hồn quê

 

Tháng Chạp về. Trời se lạnh, lòng tôi lại nôn nao đến Tết, không phải để được mặc những chiếc áo mới, được ăn thức ăn ngon, được vui chơi “thả cửa” mà không phải vướng bận bài vở như trẻ nhỏ, nhưng người có tuổi như chúng tôi cũng rất mong Tết đến để được về quê tìm lại “hồn quê” mà một thời tuổi thơ gắn bó.

Ba má tôi có 7 người con, lập nghiệp nhiều nơi, người Sài Gòn, người Rạch Giá… Người lớn nhất gần 70, người nhỏ nhất cũng gần 50. Năm nào cũng vậy, những ngày giáp Tết, dù mỗi người có một công việc mưu sinh riêng, nhưng chúng tôi hẹn nhau dành riêng một ngày về để sum họp, để được thắp nén nhang tỏ lòng thành kính biết ơn đối với ông bà và ba má tôi cũng như mảnh đất hiền hòa đã nuôi chúng tôi khôn lớn.

Chiếc phà nhỏ đưa chúng tôi về Cù lao Dài (xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long), nơi chúng tôi đã sinh ra và lớn lên với một ký ức tuổi thơ êm đềm. Khi chiếc phà chạy ngang qua cồn Thanh Long, chúng tôi không ai bảo ai đều hướng mắt về nơi ấy. Ký ức ùa về. Anh trai tôi chỉ tay về hướng đàn cò trắng mới sà vào đậu trên những đọt cây bần, nói với con: “Hồi ba còn nhỏ, gần Tết, ba theo ông nội qua cồn dỡ chà bắt tôm, cá. Những đống chà được ông nội chất trước đó cả tháng để tôm, cá trú ẩn. Tôm, cá nhiều lắm. Xong rồi, ông nội còn trèo lên mấy cây bần cao cao để hốt tổ cò cho ba nữa”. Nghe anh trai kể, tôi nhớ lại, rất nhiều lần ba tôi hốt những tổ cò đầy trứng và có khi có cả cò con mới nở mang về cho chúng tôi. Mấy anh tôi cho em gái những quả trứng nho nhỏ luộc ăn, còn các anh giành phần là những “con cò bé bé”. Anh chẻ tre làm lồng cho chúng, tập cho chúng ăn tép, cá, chăm sóc chúng như những người bạn thân thiết. Đến khi chúng lớn chẳng nỡ ăn thịt mà mang qua cồn trả chúng về thiên nhiên. Bởi vậy, mỗi lần anh tôi bắt đầu nuôi dưỡng những chú cò con mới, tôi hay nhai đi nhai lại “Công anh xúc tép nuôi cò; Cò ăn, cò béo, cò giò lên cây”, để trêu các anh, nuôi lớn lên rồi cũng thả thôi, nuôi chi cho cực vậy.

Xuan2020--Anh-minh-hoa---Hon-que---Anh-1

Đang hồi tưởng lại ngày xưa thì nghe tiếng của đứa em gái tôi: “Mấy cái chỗ này bây giờ người ta đào ao nuôi cá tra nhìn thấy nước mênh mông vậy, nhưng ngày xưa nó là cái bãi lài, cạn xịt hà! Hồi đó mẹ theo bà ngoại chèo xuồng qua đây bắt hến. Hến nhiều lắm, con nào con nấy bự bằng ngón tay cái, hến cồn mà. Mỗi lần bắt đầy mấy cái rổ xúc, về vớt ra ruột nó trắng tươi, mập ú, đổ bánh xèo ăn ngon lắm lắm”… Mỗi người một câu chuyện, hồi đó, hồi xưa, để kể cho con, cháu mình, đến khi thấy mọi người trên phà đứng dậy chuẩn bị mới hay rằng phà cập bến.

Về đến quê, được đặt chân lên mảnh đất nơi mình sinh ra thật là khó tả. Việc đầu tiên là chúng tôi tập trung anh chị em, con cháu đi viếng mộ. Dù ba má tôi đã mất lâu rồi nhưng trong lòng chúng tôi ba má vẫn luôn hiện hữu. Chúng tôi ngồi thật lâu nói chuyện với nhau như nói để báo cho ba má biết việc làm của mỗi chúng tôi. Như anh trai xây được nhà yến, vừa mới thu hoạch là cúng ngay cho ba má, ước gì ba má còn sống để bồi dưỡng bù đắp cho những ngày cực khổ. Một anh khác nói lúc mới sắm được xe ô tô cũng nghĩ ngay: Phải chi ba má còn sống để chở đi du lịch bù lại những ngày họ đẩy từng mái chèo chài, lưới kiếm ăn nuôi con. Một bà chị lúc vừa báo cáo xong luận văn thạc sĩ, trên đường chạy xe về nhà gọi ba mà khóc mướt, những con cá, con tép ba má kiếm được phơi khô gửi lên cho con ăn học, giờ có kết quả mà ba không còn. Một bà chị tập tành viết báo, bài báo đầu tiên viết về ba má, được đăng cũng mang lên để trên bàn thờ “báo cáo thành tích” với ba má, kết quả của những lúc giao thừa ba hay gọi con dậy “khai bút đầu xuân” để cả năm được học giỏi… Còn nhiều, nhiều lắm…

Những thành công của chúng tôi hôm nay đều có in dấu những giọt mồ hôi của ba má trong những buổi trưa hè nóng bức, hay những cái lạnh những lúc gió bấc về mà ba má chúng tôi vẫn phải lặn ngụp dưới sông để tìm con tôm con cá… Chúng tôi hay kể cho con cái mình những ký ức về ông bà để chúng biết được sự hy sinh của ông bà nội (hay ông bà ngoại) dành cho ba (hay mẹ) là quá lớn. Cũng để cho chúng biết được nguồn gốc ông bà, ba mẹ chúng chỉ là những người dân quê chân chất, lớn lên nhờ cọng rau, con cá của đất cù lao này để con phải biết trân quý người dân quê chân lấm tay bùn. Và đâu đó vẫn len lỏi trong tâm hồn chúng tôi một sự hãnh diện về ba má mình, vì sao chỉ là dân chài thôi mà nuôi nổi đàn con học hành tử tế như vậy.

Một ngày Tết dành cho ông bà, ba má kết thúc. Đến lúc mỗi người chúng tôi trở về quê hương thứ hai của mình. Trên chuyến phà về lại đất liền, cũng là lúc hoàng hôn buông xuống, đàn cò trắng vẫn tìm về rặng bần quen thuộc để trú ngụ. Ánh mặt trời hoàng hôn, những cánh cò trắng, rặng bần xanh… chỉ ngần ấy thôi đã là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu họa sĩ vẽ nên tranh, còn tôi thật hạnh phúc khi được sinh ra, lớn lên nhìn thấy cảnh thật thanh bình của một miền quê yêu dấu. Và đâu đó trong dãy bần xanh ngăn ngắt, tôi như tìm thấy bóng dáng của ba tôi, đôi tay vạm vỡ tung chài tròn xòe như cái nia; má tôi dáng người đậm thấp, đội chiếc nón lá bung vành đẩy từng mái chèo với chiếc xuồng nhỏ chòng chành theo sóng nước…

Tạm biệt cù lao, nơi cất giữ giùm chúng tôi những kỷ niệm quý giá. Dù tất cả đã là quá khứ, nhưng khi về lại cù lao tôi vẫn tìm thấy được hình ảnh của ba má tôi như mới ngày nào, và còn có cả bầu trời tuổi thơ ấm áp của chúng tôi cũng theo về. Phải chăng đó là “hồn quê” không bao giờ mất?

Thanh Huyền
(TP. Vĩnh Long)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc