Tản văn

Hồn của đất

 

1.
Tôi quen Đàng Ngọc Đêm trong một lần cùng đi công tác ở một số nước trong khối ASEAN có nền nông nghiệp lúa nước và nghề tiểu thủ công tương đồng với Việt Nam do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức cách nay đúng một con giáp. Đàng Ngọc Đêm là người dân tộc Chămpa Bàlamôn ở làng Bàu Trúc, thị trấn Phước Vân, huyện Ninh Phước (Ninh Thuận). Đến Malaysia, sau khi thăm trang trại trồng thanh long ruột đỏ lấy giống từ tỉnh Bình Thuận của Việt Nam, chúng tôi trở lại thủ đô Kualumpur tìm hiểu nghề gốm truyền thống của nước bạn. Đảo một vòng quanh khu bảo tàng gốm của người Chăm Malaysia, Đàng Ngọc Đêm cầm tay tôi, nói nhỏ: “Khi nào ra Ninh Thuận, đến làng Bàu Trúc, tôi sẽ đưa anh ra cánh đồng lấy đất nặn gốm rồi đến Hợp tác xã gốm Bàu Trúc xem người Chăm chúng tôi nặn đất”.

Bẵng một thời gian dài, một hôm Đàng Ngọc Đêm điện thoại nhắc lại lời hứa của anh mời tôi ra Bàu Trúc. Trong cái nắng ong ong pha chút hơi lạnh đầu mùa khô, tôi ngồi xe đò ra Ninh Thuận. Vừa gặp nhau, Đàng Ngọc Đêm nhiệt tình đưa tôi đến trụ sở Hợp tác xã gốm Bàu Trúc mà anh có chân trong Ban quản lý. Ngôi nhà rộng 200 m2 được xây dựng năm 2005 dùng làm nơi trưng bày giới thiệu sản phẩm gốm Bàu Trúc với khách hàng đến giao dịch và khách du lịch trong, ngoài nước tham quan. Ở đây luôn có mặt các nghệ nhân chạm khắc, biểu diễn nghề gốm truyền thống và gốm mỹ nghệ. Bà Trượng Thị Gạch sắp sang tuổi 75, mười ngón tay chai sần nhờ được ông bà Poklong Chanh Tổ phụ nghề gốm ban tặng vẫn mềm mại lướt nhẹ trên một sản phẩm gốm bà đang sáng tạo. Cạnh bà, một phụ nữ khoảng 30 tuổi được bà hướng dẫn kỹ thuật trước khi hoàn thiện sản phẩm của mình. Đứa con của cô chừng 3 tuổi ngồi cạnh mẹ mắt chăm chăm ngó bà Gạch và mẹ nó nắn đất. Bà Trượng Thị Gạch rù rì kể với tôi về tình yêu cùng sự thủy chung với nghề gốm. Lên 8 tuổi, bà theo mẹ đội đất từ đồng Nú Lăng đưa về trộn với cát triền sông Quao. Đất lấy từ đồng Nú Lăng đổ vào cái hố sâu nửa thước rồi rưới nước thấm đều, ủ một ngày mới móc lên nhồi với cát sàng bỏ tạp chất theo tỷ lệ 3/7 (3 cát – 7 đất). “Phải lấy chân nhồi 2 giờ đồng hồ tới khi lấy bàn tay nắm từng lọn đất thấy dẻo quẹo mới được nặn. Thời mẹ tôi chỉ làm lu đựng nước, trả (nồi) kho cá, nồi (siêu) nấu lá xông chứ có biết làm nhiều mặt hàng đẹp như ngày nay đâu!” – Bà Gạch tâm sự. Bà còn nói khá kỹ về thuật nung gốm truyền thống: sau khi làm xong “phần tươi” trả (nồi), siêu, lu… phải đem phơi nắng từ 10 – 15 ngày mới nung lửa. Khi nung, đồ lớn chất dưới, nhỏ chất trên, lấy rơm phủ dày rồi mồi lửa đốt đến khi chín. Bà bật mí: “Phong tục người Chăm chúng tôi theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ là người chủ gia đình nên thuở xưa ông bà cụ Tổ Poklon Chanh chỉ truyền nghề cho phụ nữ. Đàn ông thì lên rừng lượm củi, ra ruộng gánh rơm, ra đồng Nú Lăng đào đất làm nguyên liệu. Làm gốm là cái duyên, cái nghiệp, còn sống ngày nào tôi còn giữ nghề ngày ấy!”.

So-583--Gom-Bau-Truc---Anh-1
Gốm Bàu Trúc (Nguồn: goninhthuan.vn).

2.
Đàng Ngọc Đêm dùng xe gắn máy chở tôi đi trên những con đường trải thảm bê tông trong khu dân cư thiết kế như ô bàn cờ đến nhà nghệ nhân Đàng Thị Phan. Dù không hẹn trước nhưng nghệ nhân Đàng Thị Phan không tỏ ra lúng túng. Nghệ nhân Đàng Thị Phan từng ba lần ra Bảo tàng Dân tộc học ở thủ đô Hà Nội thi tay nghề sản xuất gốm thủ công. Lần thứ tư, bà vác 50 kg đất nguyên liệu lấy từ đồng Nú Lăng trộn với cát sông Quao mang sang tận Tokyo thủ đô nước mặt trời mọc (Nhật Bản) hai tháng ròng biểu diễn nghề gốm truyền thống Bàu Trúc. Năm 2018, nghệ nhân Đàng Thị Phan cũng bước vào tuổi “Nhân sinh thất thập” nhưng nước da, ánh mắt, giọng nói còn linh lợi không thua chị em thanh nữ làng Bàu Trúc. Tay thoăn thoắt vuốt nhẹ khuôn tre tròn lẵn lên mặt bình gốm thơm mùi hương đất đồng Nú Lăng, chuẩn bị phơi nắng trước khi nhóm củi, phủ rơm nung chín. Cùng tâm tư như bà Trượng Thị Gạch, nghệ nhân Đàng Thị Phan kể: “Bà cố nội tôi là Đàng Thị Lành, bà nội là Trượng Thị Xuân, đến mẹ tôi và ngày nay đến tôi tiếp tục nối nghiệp nghề nặn gốm. Nghề gốm là tài sản của người Chăm làng Bàu Trúc, làm sao bỏ được!”. Đàng Thị Phan thủ thỉ kể cho tôi nghe nghề nặn gốm Bàu Trúc xưa kia. Ngày ấy, hàng sản xuất đến đâu đàn ông chất lên xe bò, rồi lên xe lửa; đàn bà thì đội lên đầu, gánh trên vai xuống tận Tuy Phong, Vĩnh Hảo, Long Hưng (Bình Thuận) bán lấy tiền đong gạo. Bà Đàng Thị Phan so sánh chất lượng gốm truyền thống Bàu Trúc với gốm truyền thống Nhật Bản, tự tin, nói: “Về nguyên liệu, gốm của Nhật Bản họ pha chất men, còn gốm Bàu Trúc thì pha 7 phần đất với 3 phần cát, không pha men”. Bà còn so mặt hàng gốm của Nhật chỉ sản xuất được chiều cao 0,5m, còn gốm Bàu Trúc có khả năng sản xuất mặt hàng cao 3,5 m. Tôi ngỡ ngàng trước sự tự tin mãnh liệt của người nghệ nhân cao niên Đàng Thị Phan. Ý thức mẫu hệ cộng với ý chí giữ nghề đã đưa bà từ một cô gái xinh đẹp chỉ biết đi học, giúp mẹ nấu cơm, quét nhà, năm 18 tuổi mới được mẹ chỉ dạy nghề nặn gốm. Từ làm gốm truyền thống, 10 năm nay nghệ nhân Đàng Thị Phan phát triển thêm sản phẩm gốm mỹ nghệ, sáng tạo nhiều sản phẩm tinh xảo mang thương hiệu “Chămpa – Phan”, dám đem “hồn” của đất đồng Nú Lăng và cát sông Quao quê mình thi thố nơi xứ người.

Tạm biệt nghệ nhân Đàng Thị Phan, chúng tôi sang cơ sở sản xuất gốm mỹ nghệ của nghệ nhân Đàng Xem. Cũng giống mấy trăm gia đình người Chăm làng Bàu Trúc, từ thời bà nội, mẹ và nay đến Đàng Xem tiếp nối nghề nặn gốm. Cách đây hơn 20 năm, Đàng Xem nhận thấy nếu cứ bám nghề gốm truyền thống, quanh quẩn với cái lu đựng nước, cái nồi kho cá, cái siêu nấu thuốc nam, chậu kiểng trồng bông… người làm gốm không giàu nổi. Thế là, Đàng Xem bỏ tiền bay ra Bát Tràng (Hà Nội), xuống Hải Dương, vô Bình Dương… tìm hiểu kỹ thuật làm gốm mỹ nghệ. Trở về Bàu Trúc, Đàng Xem khởi nghiệp sản xuất gốm mỹ nghệ. Nghệ nhân Đàng Xem giơ cao cái sản phẩm gốm mỹ nghệ̣ đang hoàn thiện, nói: “Thành công của hôm nay đã minh chứng suy nghĩ chuyển từ gốm truyền thống sang sản xuất gốm mỹ nghệ là một hướng đi hoàn toàn phù hợp. Tôi rất tự hào là người đầu tiên ở Bàu Trúc phát triển nghề gốm mang tính hiện đại của thời hội nhập mà vẫn giữ được cái hồn của đất quê mình!”.

3.
Đứng trên con đường đất dẫn ra đền thờ Tổ nghề gốm Poklong Chanh phóng mắt nhìn ra cánh đồng lúa đang thì làm đồng xanh non trông như bức tranh thủy mặc mà họa sỹ Trương Lộ ở thành phố Hồ Chí Minh say mê múa cọ màu, thật lãng mạn. Xa xa, cách đền thờ Tổ nghề gốm Poklong Chanh nửa cột số là dòng sông Quao. Cách sông Quao trăm thước là đồng Nú Lăng người dân bao đời vừa canh tác lúa vừa lấy đất làm gốm. Khai thác đất hàng trăm năm nhưng mặt ruộng vẫn không hề kiệt. Cũng lạ, đời này tiếp đời sau, đất làm gốm nơi đồng Nú Lăng như cứ đầy thêm. “Nhờ ông bà Poklong Chanh phù hộ, đó anh!” – Anh bạn Đàng Ngọc Đêm của tôi nói một cách ngon lành.

Dưới tán vườn cây trôm, một loại cây lấy mủ chế biến nước giải khát và chữa bệnh, ngôi đền thờ Tổ nghiệp nghề gốm Poklong Chanh khiêm nhường ẩn bên tàng cây phủ mát quanh năm. Theo truyền thuyết, cách đây cả ngàn năm, vì thương dân làng Bàu Trúc nghèo khổ, ông bà Poklong Chanh đã chỉ dạy nghề làm gốm cho phụ nữ mà không dạy nghề cho giới đàn ông. Để nhớ ơn ông bà Poklong Chanh, người Bàu Trúc lập đền thờ ông bà. Trước đây, đền thờ đặt trên một gò đất ở cánh đồng Nú Lăng. Trận lũ lịch sử năm 1964 làm đền bị hư hại. Sau trận lũ này, người làng Bàu Trúc chuyển đền thờ Tổ lên khu đất làm trụ sở HTX Bàu Trúc hiện nay. Một thời gian sau người Bàu Trúc mới chuyển đền ra khuôn đất sát cánh đồng Nú Lăng. Hàng năm, vào tháng 1, tháng 4, tháng 7, lịch Chămpa (tương ứng tháng 4, 7, 10 dương lịch), dân làng Bàu Trúc nô nức mở cửa đền khai Hội cúng ông bà Poklong Chanh. Đàng Ngọc Đêm thông tin: Kỳ cúng tháng 7 lịch Chămpa năm 2017, dân làng Bàu Trúc đón lễ hội Tết Ka Tê truyền thống. Trong ngày lễ Tết Ka Tê, niềm vui của dân làng Bàu Trúc được nhân lên với sự kiện đón bằng vinh danh “Nghệ thuật gốm truyền thống của người Chămpa làng Bàu Trúc là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia” của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch thay mặt Nhà nước trao. Đàng Ngọc Đêm nắm chặt tay tôi giống như cách đây một con giáp nắm tay tôi giữa thủ đô nước bạn Malaysia, xúc động: “Dẫu cho bao biến động của trời đất, người làng Bàu Trúc chúng tôi vẫn lưu giữ cái hồn của đất đồng Nú Lăng và cát mịn sông Quao”.

Khuynh Diệp
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 583

Ý Kiến bạn đọc