Văn học nước ngoài

Hội Mùa thu của Thần Chết

 

Một buổi tối mùa thu tôi đang ngồi ở nhà, viết một truyện tình. Chỉ là về tình yêu. Về tình yêu và ngoài ra không có gì khác. Một thanh niên gặp một cô gái. Đi qua những con đường nhỏ hẹp của một thành phố nhỏ ven biển nào đó, họ ra tới biển và đi dọc bờ biển… Vắng vẻ. Tối. Không một bóng người. Vì đã là tháng 11 rồi. Mùa đông. Và mùa hè thì sẽ chẳng đến sớm.

Nói cách khác, đó là truyện tình tang. Nhưng tôi thích. Cho dù tôi không biết kết thúc truyện như thế nào. Vì vậy tôi gác truyện qua một bên và mở truyền hình. Người điều hành chương trình mạn đàm đang phỏng vấn nhiều người có kinh nghiệm chết lâm sàng.

“Chúng tôi dự một tiệc mừng sinh nhật”, một cô gái nói bằng giọng trúc trắc. “Rồi chúng tôi quyết định đi bơi…”.

“Vậy là có một cái hồ, đúng không?”, người dẫn chương trình hỏi.

“Vâng, một cái hồ. Và, với các bạn đùa nghịch chung quanh, họ xô tôi xuống nước. Tôi bất ngờ thấy mình chìm trong cảnh tối đen”. Cô gái chợt im lặng. “Và rồi tôi thấy một nguồn sáng rực rỡ… Một bà bước ra từ nguồn sáng và nói “Xin chào. Tên tôi là Elizabeth”. Bà cầm bàn tay tôi và dắt tôi lên Thiên đàng”.

“Thiên đàng? Ngay lúc này bạn nghĩ nơi đó là thiên đàng phải không?”.

“Không, lúc đó tôi nghĩ nơi đó là thiên đàng. Chung quanh nơi đó là một nguồn sáng rực rỡ và từ nguồn sáng này toát ra cảm giác về tình yêu, niềm vui, sự mãn nguyện. Tôi được vây quanh bởi tình yêu, đúng như vậy”.

“Vậy bà Elizabeth này là ai?”, người dẫn chương trình hỏi.

“Thiên thần bản mệnh của tôi… thần bản mệnh của tôi…”, cô gái lặp lại hai lần. “Tôi nghĩ thế. Nói chung, chết là dễ chịu!”.

“Nhưng cô đã trở về, đúng không?”.

“Vâng, tôi trở về. Vì Elizabeth nói chưa tới thời điểm dành cho tôi. Và tôi nói “Nhưng con không biết cách trở về”. Và Elizabeth nói “Nè con…”. Và tôi tỉnh lại trong bệnh viện”.

Một bà béo da đen rời ghế đứng dậy. “Tôi không tin cô có thể chết rồi trở về”, bà nói rất nhanh. “Tôi nghĩ chết là chết! Cô không trở về từ cái chết được”.

Tôi tắt truyền hình và, ngồi vào bàn, viết đoạn kết truyện của tôi. Nhân vật nữ chính hóa ra mắc một bệnh cực kỳ hiếm thấy, hậu quả là mỗi năm một lần, thường là vào mùa xuân, nàng bị ngất xỉu không hề có dấu hiệu báo trước. Cơn ngất xỉu có thể đến vào thời điểm không thích hợp nhất và ở nơi không thích hợp nhất. Chuyện xảy ra là nhân vật này đến một hồ bơi. Và khi nàng đang leo chiếc cầu thang nhỏ để xuống hồ, nàng bị ngất xỉu…

Truyện kết thúc như thế này: “Có nhiều người đang ở trong hồ tắm, nhưng không ai thấy nàng chìm”. Sau khi gõ dấu chấm cuối cùng, tôi quyết định đi lấy thư. Có hai lá thư trong hộp thư. Một từ thư viện. Thư báo mấy cuốn sách tôi mượn đã quá hạn 3 năm rồi. Từ bì thư thứ hai, một tấm bưu thiếp rơi ra. Trên bưu thiếp là ảnh một dinh cơ đẹp kiểu xưa có những cột cao và một công viên trải dài chung quanh dinh cơ. Một tấm bưu thiếp rất đẹp. Nội dung cũng rất hay, rõ ràng được viết bằng bàn tay phụ nữ: “Mời bạn dự Hội Mùa thu của chúng tôi. D”.

Và chỉ có thế. Không ghi thời gian, không địa điểm… Lạ lùng thật… Với tấm bưu thiếp mang nội dung lạ này trong tay, tôi đi thăm người bạn già của tôi, là ông Schulz.

Ông Schulz đang uống trà. Tôi đưa ông tấm bưu thiếp “Hãy xem lời mời bí ẩn này. Anh có thể đoán ra điều bí ẩn của nó không? Anh có rất nhiều kinh nghiệm cuộc đời để chiêm nghiệm”.

“Vâng, tôi có kinh nghiệm cuộc sống, được rồi”, ông Schulz xác nhận. “Nào, để xem… để xem…”.

Sau khi lật qua lật lại tấm bưu thiếp, ông nói: “Chẳng có gì là bí ẩn. ‘D’ là Death, tức là Thần Chết. Bà ấy mời bạn dự Hội Mùa Thu. Bạn có thích mùa thu không?”.

“Chắc chắn là thích”.

“À, vậy là đúng rồi. Những ai thích mùa thu, theo qui luật, thì chết vào mùa thu”.

Tôi cảm thấy hoảng. “Nhưng, ông Schulz…”.

“Nào, nào, chàng trai… Bộ bạn thực sự nghĩ là bạn sẽ sống mãi mãi ư?”.

“Không phải mãi mãi, nhưng…”.

“Ồ, thôi bỏ ý nghĩ này đi”, ông ngắt lời. “Sẽ có đôi chút ý nghĩa nếu như chúng ta không bao giờ chết. Nhưng hiện tình là: sống thêm một chút, hay sống ít đi một chút… thì có gì khác biệt?”. Ông Schulz tiếp tục uống trà.

“Ông biện luận triết học thì dễ”, tôi phản bác. “Nhưng nếu như…”.

Ông ta lại ngắt lời: “Anh biết gì? Sao anh không đem theo máy ảnh và hỏi Thần Chết anh có thể chụp ảnh bà ấy hay không? Lúc ấy anh có thể làm bà ấy lóa mắt với ánh đèn chớp, và chuồn!”.

“Chúa ạ, thật vô lý!”, tôi bực bội kêu lên và rời nhà ông Schulz.

Tôi về nhà và mở ra-đi-ô. “Trong tình yêu, chúng ta phải đến để giúp nhau”, một bài ca tiếng Pháp vang lên, “vì chỉ như thế ta mới có thể chịu đựng cuộc đời này. Hãy đến với sự giúp đỡ của anh…”.

Đèn đường đã sáng lên bên ngoài. Khách bộ hành thưa dần và hết hẳn. Đêm xuống. Một chiếc ô tô màu đen, cũ xuất hiện trên đường. Xe chạy rất chậm. Xe đến lối vào tòa cao ốc tôi ở thì dừng. Ngay tức khắc tôi hiểu việc này là vì tôi, nên bước ra ngoài. Cửa xe mở ra. Tôi vào xe. Xe chạy. Một lần nữa xe chạy rất chậm, rất chậm. Không có ai trong xe. Cả lái xe cũng không có. Tay lái tự động lái. Bên ngoài cửa kính xe, những con đường nhỏ không quen thuộc lướt qua. Tôi gà gật ngủ vì tiếng u u của động cơ xe.

So-573--Cap-doi---Sergey-Chursanov---Anh-1
Cặp đôi – sơn dầu – Sergey Chursanov (Nguồn : ebay.co.uk).

Khi tôi thức dậy, xe đã dừng trước một tòa nhà đẹp có những thân cột cao. Chính là những thân cột trên ảnh bưu thiếp. Những khung cửa, được trang trí bằng những hình chạm trổ lạ lùng, mở ra cho thấy một cầu thang đá hoa cương rộng. Trên tấm thảm mềm phủ trên những bậc cầu thang, tôi đi lên để đến một sảnh đường sáng trưng. Một giàn nhạc ngồi ở bao lơn. Đôi bàn tay đeo găng trắng của người chỉ huy giàn nhạc bay lượn và vang lên một giai điệu du dương không gợn chất phàm trần. Tôi hiểu biết về nhạc cổ điển khá rành, nhưng những nốt nhạc siêu nhiên này hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

Những đôi bạn nhảy bắt đầu quay, vùn vụt như bị đẩy bởi một cơn lốc. Và những người không nhảy thì có: những anh hề mặc trang phục bó sát hai màu đỏ và trắng, những thần lùn đội mũ nhọn đính chuông, những người bé tí có đôi cánh chuồn chuồn thanh tú, những nàng công chúa mặc váy phồng, những hiệp sĩ, những người cá. Trang phục đủ màu sặc sỡ làm lóa mắt tôi.

Một cô gái, trong trang phục voan trắng và đeo mặt nạ vàng che phần trên khuôn mặt, đi nhanh đến gặp tôi. “Anh chán phải không?”, nàng hỏi, nhìn vào mắt tôi với vẻ dò xét. “Anh đang thất vọng ở lễ hội vui của chúng tôi?”.

“Không, không, dĩ nhiên là không!”. Tôi muốn làm cho cô bạn mới yên lòng. “Chỉ là vì, đối với tôi, tất cả cảnh quan này rất khác thường. Loại âm nhạc siêu linh này, những người vui vẻ, một sảnh đường đẹp… Cô phải hiểu rằng ở nơi tôi từ đó đến đây, không có gì giống như thế này. À, có đấy, nhưng…”.

“Mình đừng nói chuyện buồn”, cô gái nhoẻn cười. “Mình nhảy đi. Hãy nghe, bản nhạc đang sắp kết thúc. Một chút xíu nữa sẽ có một bản nhạc khác”. Những ngón tay của nàng đặt trên vai tôi. Và chúng tôi lướt êm trên nền gạch ca rô hai màu đen trắng.

“Gỡ mặt nạ của em đi”, tôi thì thầm bên tai nàng. “Nhé…”.

“Em sẽ gỡ, nếu anh hứa không yêu em”.

“Anh hứa”.

Cô gái thực hiện yêu cầu của tôi. Và tôi thấy đôi mắt nàng. Tôi quên lời hứa… Tôi quên chính mình… Tôi chìm trong đôi mắt nàng ngay lập tức, như chìm vào một xoáy nước – không than tiếc gì.

“Nghe em”, giọng nàng đến với tôi từ chốn xa xôi. “Vấn đề của anh là gì? Anh đang cảm thấy thế nào?”.

“Anh như đang ở thiên đàng”, tôi thì thầm.

“À, vậy thì mình cần đi. Đã tới giờ rồi”, nàng phát ra một câu bí ẩn. “Mình đến công viên. Ngay lúc này ở đó mùa thu đang thống trị. Và không khí thì thơm nức mùi hương ngọt ngào của sự chết”.

Những lối đi trong công viên vương vãi những chiếc lá vàng. Chúng tôi đi, không vội vã. Đến đâu? Không đâu cả. Chỉ đi thôi. Những thân cây tách ra mở thành một khoảng trống, và chúng tôi đến trước một cái hồ. Lá vàng cũng rơi đầy trên mặt nước, lắt lay nhè nhẹ. Chúng tôi thấy có nhiều điểm hấp dẫn chung quanh hồ: một ngôi nhà lắp bằng kính, một trường bắn, mọi trò chơi chạy vòng vòng, một vòng đu quay còn được gọi là “bánh xe của quỷ”. Ở đây vào mùa hè có thể là một nơi khá vui. Nhạc trong không gian… Nhưng bây giờ là cuối mùa thu.

Một cô bé đang đứng trên một sân khấu gỗ hình bán nguyệt. Cô bé mặc chiếc áo đầm màu xanh nhạt, có một chiếc nơ cũng màu xanh tương tự thắt những lọn tóc của cô bé. Khi nhìn thấy chúng tôi, cô bé nhún gối chào và mời: “Mời anh chị nghe một bản nhạc dành cho anh chị nhé?”.

Không đợi chúng tôi đồng ý, cô bé kéo một bức màn tưởng tượng và bắt đầu nhảy theo một khúc nhạc tưởng tượng, hát: “La-la-la… La-la-la… La-la-la…”. Khi cô bé hát xong, chúng tôi vỗ tay. Cô bé cúi chào chung quanh và, nhảy xuống sân khấu chạy tới chỗ chúng tôi. Cô bé nhìn bạn đồng hành của tôi đăm đăm, mắt mở to.

“Em cưng khỏe không?”, cô bạn mới của tôi hỏi bé. “Ở đây em cảm thấy quen chưa?”.

“Dạ có, thưa bà”, cô bé e thẹn trả lời.

“Em có nhớ nhà không?”.

“Dạ không, thưa bà”.

“Và em không còn sợ chết nữa phải không?”.

“Bà ơi!”, cô bé nói lớn, và mặt cô ánh lên niềm vui. “Chết là điều kỳ diệu nhất trên đời”.

Một cơn lạnh run lan trên lưng tôi. Đột nhiên tôi không cảm thấy sự ấm áp trong công viên mùa thu này.

“Ô, chú Valery!”, cô bé reo lên khi nhận ra tôi. “Chào chú”.

Ngay lúc đó tôi cũng nhận ra cô bé. Đây là con gái của một người anh em chú bác với tôi. Olga. Cô bé đã chết 2 năm trước, vì nhiễm trùng máu.

“Chào Olga”, tôi lầm bầm.

“Mẹ cháu ra sao? Chú có đến thăm không?”.

Tôi chạm khuỷu tay người bạn cùng đi. “Vì Chúa, thôi mình đi đi”. Tôi để cho nàng đưa đi về hướng “bánh xe quỷ”.

“Hẹn gặp lại, chú Valery!”, Olga nói vói theo.

Câu “Hẹn gặp lại” này làm xương sống tôi lạnh một cơn khác.

Một ông già lụ khụ ngồi kế bên “bánh xe quỷ”. Khi chúng tôi đến gần ông đứng dậy một cách khó khăn và, thấy cô gái, cái miệng rụng hết cả răng của ông lắp bắp: “Chào bà”.

“Chào bác thân yêu”, cô gái đáp. “Vậy mọi chuyện ở đây thế nào? Bác không nhớ nhà sao?”.

“Dạ không, thưa bà, tôi không nhớ nhà. Chết thật là hay”.

Cô gái chỉ một trong những khung ghế của bánh xe gần bên. “Ông cho chúng tôi đi một lúc nhé?”.

“Đã nhiều, nhiều năm rồi không có ai ngồi chơi bánh xe quay này”, ông già nói.

“Chúng tôi sẽ chơi”, cô gái lắc đầu kiên định.

Ông già lụm cụm đi vào một gian phòng tồi tàn. Trong phòng có cái máy gì đó hoạt động vang lớn tiếng u u, và “bánh xe quỷ” chầm chậm bắt đầu chuyển động. Tôi đỡ cô gái vào trong khung ghế, rồi tự mình leo vào, và chúng tôi bắt đầu hành trình đi lên cao, bên trên công viên mùa thu.

“Anh không sợ độ cao sao?”, nàng hỏi.

“Rất sợ”, tôi trả lời thành thật. “Còn em thì sao?”.

“Em cũng vậy”.

“Mình hãy nắm tay và nhắm mắt lại”, tôi đề nghị. “Như vậy sẽ không sợ nữa”.

“Ừ!”.

Chúng tôi nắm tay và nhắm mắt. Vờ như vô tình, tôi vòng hai tay quanh vai nàng. Nàng, cũng vờ như vô tình, ép người nàng vào tôi, mắt nhắm. Và mỉm cười. Tôi nhìn xuống, hy vọng nhìn thấy công viên, hồ nước, tòa nhà có những hàng cột.

CHÚNG ĐÃ BIẾN MẤT KHÔNG ĐỂ LẠI MỘT DẤU VẾT!

Trải dài đến tận chân trời là một mặt nước phẳng lặng. “Bánh xe quỷ” chầm chậm quay, phần dưới của nó đã chìm xuống dưới nước hết một nửa. Khung ghế của chúng tôi, đã vượt qua điểm cao nhất rồi, bây giờ đang thấp xuống. Những khung ghế trống bên dưới chúng tôi đang biến vào vùng tối, từng ghế một. Chỉ thêm vài ghế nữa và chúng tôi cũng sẽ bị nuốt mất. Và rồi, một chút sau – sau cùng, bánh xe không dừng, cứ tiếp tục xoay – thân xác ngập chìm dưới nước của chúng tôi, đang thực hiện nửa vòng tròn định mệnh, sẽ nổi lên trên phía bên kia, và mọi thứ sẽ tự nó lặp lại, lặp lại và lặp lại…

Theo cách đó, ngày nối ngày, “bánh xe quỷ” sẽ xoay; một đàn cá phàm ăn sẽ lo âu chờ bữa tiệc thường ngày của chúng. Và chẳng mấy chốc chỉ còn lại hai bộ xương người, được rỉa sạch, sẽ hờ hững cưỡi trên bánh xe Thần Chết lộ ra khỏi đại dương bao la một cách chán chường.

Tôi có thể hình dung sự việc này rõ ràng đến mức run rẩy không kiềm chế được mình nhắm mắt lại.

“Thế đấy”, một giọng nói vang rền nổi lên. “Nè, anh làm gì, ngủ à?”.

Tôi mở mắt. Chuyện gì thế này? Công viên mùa thu lại có đó. Ông già ngồi bên phòng điều khiển. Và cô gái đang đứng trên lối đi, hai bàn tay nàng xòe ngửa lên trời. Bông tuyết vờn bay trong không gian.

“Kìa!”, cô gái kêu lên. “Đợt tuyết đầu mùa! Tuyết đang rơi trên lá vàng. Đẹp làm sao!”. Và cô bắt đầu lướt những vòng tròn cùng với bông tuyết, như thể cô hòa làm một với chúng. Chạy lại phía tôi, cô gái nghịch ngợm véo mũi tôi. “Có chuyện gì vậy, anh định ngủ thật đấy à?”.

Thay vì trả lời, tôi cho nàng một nụ hôn. Tự tôi không rõ sự việc xảy ra thế nào. Tôi chỉ đã hôn nàng. Nàng không đáp lại nụ hôn của tôi. Nhưng nàng cười. Buồn.

“Sao em cười buồn như thế?”, tôi hỏi.

“Anh đoán đi”.

Tôi lùi lại nửa bước. “Em muốn nói em là… Tên em là…”.

“Diana”, nàng che miệng tôi bằng bàn tay nhỏ của nàng. “Gọi em là Diana. Hay là Denise. Tùy anh gọi tên nào anh thích”.

Nhớ lại lời khuyên của ông Schulz, tôi cười chua chát. “Diana”, tôi nói, “hay là Denise, anh chụp ảnh em nhé?”.

“Ôi đừng”, nàng hếch mũi lên rất đáng yêu. “Em trông gớm lắm”.

“Em đẹp”. Tôi lấy máy ảnh. “Cười đi. Đến đây nào con chim non”.

Nàng cười. Nhưng con chim non không đến. Chúng tôi đi trên những con đường trong công viên, đường đầu tiên, rồi đường tiếp theo… Lá rơi vang tiếng xào xạc dưới chân chúng tôi. Bông tuyết rơi trên đầu và vai chúng tôi.

Ít lâu sau chúng tôi đi tới lối ra công viên – ở hàng rào có một cổng sắt nhỏ. Bên ngoài hàng rào đậu một chiếc xe màu đen.

“Tới giờ anh đi rồi”, Denise (hay Diana) nói gọn.

“Em… cho anh đi sao?”. Tôi không thể tin nổi điều này! Không thể!

Nàng vò tóc tôi. “Anh biết đấy, có một truyện của tác giả Bunin “Mùa thu lạnh”. Nhân vật chính trong truyện nói với người yêu của chàng, ngay trước khi chết: “Em sống một thời gian nữa, hưởng thụ thời gian của em trên trần thế, rồi đến với anh”. Và điều em đang nói với anh đây: “Anh sống thêm nữa đi, hưởng thụ cuộc đời, anh không cần đến với em, mà chính em sẽ đến với anh”.

Hai chúng tôi im lặng một lúc. Tuyết rơi không âm thanh. “Anh hôn em một lần nữa được không?”. Tôi hỏi. “Một nụ hôn từ biệt”.

Nàng gật đầu. Sau đó tôi vào xe. Xe chạy đi. Lần này thì rất nhanh. Nhưng tôi cố dõi theo thân hình nhỏ nhắn thanh tú mặc đồ trắng, chầm chậm lùi vào chiều sâu của công viên.

Ngày hôm sau tôi ghé nhà ông Schulz. Ông vẫn đang uống trà. “Valery, vậy là anh đã đi dự lễ hội ở địa điểm của Thần Chết?”.

“Vâng, ông Schulz”.

“Và trở về?”.

“Như ông thấy đấy”.

“Kỳ diệu thật… Nhưng làm thế nào mà bà ấy lại cho anh về?”.

“Rất đơn giản. Chúng tôi đã thích nhau”.

“Hợp lý hơn thì đó là lý do để nàng không cho anh đi”. Ông uống hớp trà. “Thế thì, nàng trông như thế nào?”.

Tôi đưa ông xem bức ảnh. “Đó là nàng”.

“Một cô gái trông không tệ”, ông Schulz nói.

Trở về nhà tôi đóng khung bức ảnh và treo nó phía trên bàn làm việc của tôi. Và bây giờ, bất kỳ khi nào tôi viết truyện bằng tay, rồi gõ chúng lên máy vi tính, thỉnh thoảng tôi nhìn lên hình ảnh thương yêu đó – từ đó, nở nụ cười mệt mỏi, nàng nhìn tôi.

NGƯỜI EM YÊU ƠI, KHI CHÀNG ĐẾN VỚI EM, EM SẼ ĐÓN CHÀNG VỚI VÒNG TAY MỞ RỘNG.

(Từ The Autumn Carnival of Death)

Valery Ronshin (Sinh Năm 1962) Tốt Nghiệp Học Vị Cử Nhân Lịch Sử Của Trường Đại Học Petrozavodsk Tại Karelia Và Tiếp Tục Học Tại Học Viện Literature Institute Tại Moscow. Hiện Sống Tại St Petersburg. Ông Khởi Sự Viết Văn Tương Đối Trễ Nhưng Gần Như Tức Khắc Được Các Tạp Chí Văn Chương Đánh Giá Cao. Ronshin Nói Rằng Trong 30 Năm Đầu Tiên Ông Chỉ “Sống Để Mà Sống”, Di Chuyển Từ Thành Phố Này Đến Thành Phố Khác Và Du Lịch Bằng Cách Đi Bộ Ở Vùng Trung Nga. Ông Đã Làm Nhiều Công Việc Khác Nhau Và Dạy Môn Lịch Sử Trong Một Thời Gian Ngắn Trước Khi Trở Thành Nhà Văn Chuyên Nghiệp. Ronshin Là Một Tác Giả Viết Truyện Thiếu Nhi Thành Công Với Hơn 20 Đầu Sách. Ông Đã Viết Một Tiểu Thuyết Trinh Thám Phục Vụ Đối Tượng Thanh Niên Nga. Ronshin Có Nhiều Truyện Thiếu Nhi Hấp Dẫn Cả Đối Tượng Người Lớn. Ông Cho Rằng “Công Việc Của Một Nhà Văn Là Miêu Tả Thời Đại Của Mình Và Chết”.
Truyện Ngắn Trên Đây Được José Alaniz Dịch Từ Tiếng Nga Sang Tiếng Anh.

Valery Ronshin (Nga)
Võ Hoàng Minh (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 573

Ý Kiến bạn đọc