Người tốt - Việc tốt

Học tập gương đạo đức ở Bác

Học tập Bác Hồ tức là học tập bản chất của vấn đề để vận dụng vào trong cuộc sống muôn hình vạn trạng. Học là đem cái bản chất vấn đề vận vào trong cuộc sống. Học ở Bác là học ở tinh thần gần gũi với nhân dân, sâu sát tình hình, quý trọng sức lao động, làm gương. “Một tấm gương sống còn giá trị hơn trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Học tập Bác, cũng cần song hành lời nói đi đôi với việc làm. Ngoài cái hiểu đúng, hiểu sâu, muốn học tập có hiệu quả còn phải có tâm thế.

Cuộc hành trình khởi đi từ vùng đất Nghệ An cơ cực, nhưng đầy hào khí cách mạng. Nhưng Người lại sinh ra trong thời dân nước đang lâm vào cảnh bị trị của giặc Pháp. Vốn thông minh, thông tuệ, Người sớm nhận thức, muốn giải phóng ách cai trị kiềm hãm chỉ có con đường dấn thân. Dù đương thời cũng có những phong trào đấu tranh của một số nhà nho yêu nước, với Người, Phan Chu Trinh chủ trương thực hiện cải cách cúi xin là không nên, còn với Phan Bội Châu lại muốn nhờ sức người càng không nên, mượn sức người, chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước rước báo cửa sau”. Từ tư duy minh triết, Người chọn con đường dấn thân. Trên quan điểm lịch sử, Người có mặt như nhân tố định mệnh, định mệnh ràng buộc Người với thiên sứ đem lại hạnh phúc cho cả dân tộc.

Dù Người đã đi xa, nhưng tấm gương đạo đức ở Người mãi còn và đã là chân lý để con cháu Người học tập để sớm là người xứng đáng hơn với bản chất người. Vì Người không chỉ là nhân vật lịch sử biểu trưng cho danh nhân văn hóa nhân loại, và như chỉ Người duy nhất là “nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống” (Ts. M. A’tnút – Giám đốc UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương).

Và như cần thiết nên tìm hiểu sâu sắc về Tư tưởng Người, một quan điểm nhân văn làm nên diện mạo một huyền thoại sử, góp phần làm “thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta trong thế kỷ XX” .

Vì “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ, chuyển hóa của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, một quan điểm xã hội mới. Nổi bật nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là tính truyền thống nhân văn, gắn liền giá trị tinh thần văn hóa phương Đông”. Đã có nhận định “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là kết tinh của văn hóa dân tộc Việt.

Hoàn cảnh ra đời:

Vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ XX, chính quyền phong kiến nhà Nguyễn với chính sách đối ngoại bảo thủ, Việt Nam không phát huy được truyền thống bất khuất của dân tộc để chống lại âm mưu xâm lược của Pháp. Với Hiệp ước Harmand 1858-1883 và sau đó là Hiệp ước Patenôtre năm 1884, Việt Nam đã trở thành nước thuộc địa thuộc Pháp. Dù đã có những thời điểm phát động những cuộc khởi nghĩa vũ trang như phong trào Cần Vương, do các sĩ phu lãnh đạo, đẫm tính nhân văn, nhiệt huyết, hàm súc tinh thần yêu nước nhưng lại thất bại.

Bac-Ho-va-cac-chau-thieu-nhi-lien-hoan-van-nghe-nhan-ngay-Quoc-te-thieu-nhi-thang-5-1969
Bác Hồ và các cháu thiếu nhi vui liên hoan văn nghệ nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tháng 5/1969 – Ảnh tư liệu.

Thời điểm cao trào cách mạng thế giới, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Cuộc cách mạng sớm là nhân tố khích lệ tinh thần tự chủ và khát vọng độc lập với các dân tộc châu Á. Người vốn phẩm chất thông minh, tinh tế ở nhận thức về thế giới quan, dựa vào gốc nguồn văn hóa dân tộc vốn có truyền thống bất khuất dựng nước và giữ nước, cùng với bản chất cần cù, thông minh trong sáng tạo, một trong những nhân tố để Người xây dựng hệ thống lý luận toàn diện. Và từ những cao trào cách mạng phương Tây, như Cách mạng Pháp 1789, Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776, nhất là Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 đúc kết từ những trải nghiệm Người xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Với Người, “Chủ nghĩa Mác – Lênin là nhân tố cơ sở quyết định thế giới quan và phương pháp luận” của tư tưởng. Và Người đã xây dựng được hệ thống lý luận toàn diện về cách mạng Việt Nam phù hợp với thực tiễn của đất nước và dòng chảy thời đại.

Cơ bản:

- Giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

- Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- Tạo sức mạnh nhân dân từ khối đại đoàn kết dân tộc.

Người chủ trương yêu nước, thương dân, yêu thương con người, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý, tranh thủ mọi khả năng hòa bình để giải quyết xung đột.

Cốt cách “Tư tưởng Hồ Chí Minh”:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại”.

Đã có những nghiên cứu và đánh giá, đặc điểm đặc sắc ở Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là luận giải từ khát vọng giải phóng dân tộc và nhu cầu giải phóng con người một cách triệt để. Đặc điểm ở Tư tưởng Hồ Chí Minh là phát triển các nguyên lý lý luận phức tạp, khoa học bằng ngôn ngữ của cuộc sống hàng ngày. Trọng tâm ở Người là chủ nghĩa xã hội.

“Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc… Tóm lại xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”.

Và Người trở thành nhân vật lịch sử thế kỷ XX, góp phần “làm thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta trong thế kỷ XX” (Time 2000). Vì Người không chỉ là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và còn là “Danh nhân văn hóa nhân loại”. Nguyên văn của UNESCO: “Hero of national liberation and Great man of culture). Đồng thời Người có nhiều “đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lãnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”. Và, khi Người “đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Đồng thời Người không chỉ là danh nhân văn hóa nhân loại, Người còn là nhà thơ, nhà báo. Người viết rất nhiều tác phẩm, viết bằng cả tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp. Và Người đã được tạp chí Time bình chọn là 1 trong “100 người có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX”.

Không những thế, Người còn là nhà “dự báo thiên tài”. Sau hành trình lịch sử đi tìm đường cứu nước, lắm gian nan và cũng nhiều hào sảng, Người trở về Việt Nam năm 1941. Người ở lại Cốc Bó, bản Pắc Bó, Cao Bằng, tại đây Người viết xong “Lịch sử diễn ca”. Điều thú vị, cuối sách Người viết “Việt Nam độc lập năm 1945”. Sự tiên liệu làm mọi người ngạc nhiên đến ngỡ ngàng. Nhưng thật ra Người có góc nhìn dự liệu mang tính khoa học, khẳng định được phẩm chất “tiên tri của một thiên tài” (lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

Tiên tri thiên tài ở Người thật ra nằm trong nguyên lý Dịch, vì Người biết vận dụng giỏi Kinh Dịch hơn ai hết khi Người vận dụng chữ “Thời”, chữ “Cơ” một cách tài tình. Thánh nhân gọi đó là “Tri cơ”, đó cũng là lẽ huyền vi trong Dịch. Và Người cũng thấu triệt tư tưởng mang tính bác học ở tiền nhân nên Người sớm nung đúc lòng yêu nước nơi nhân dân và cán bộ, và không ít cán bộ nhận ra và truyền khẩu bài ca Trần Hưng Đạo:

“Một người Việt hãy đương còn
Thì non sông Việt vẫn non sông nhà”

Hai câu thơ mang tính tiên tri (2). Và trong “Lịch sử diễn ca”, Người điểm lại không thiếu một sự kiện lớn nào, một tên tuổi nào trong lịch sử dân tộc. Và nơi dòng cuối “Lịch sử diễn ca”, Người viết: “Trước Tây lịch năm 2879: Hồng Bàng và cuối dòng Người viết: 1945 Việt Nam độc lập”. Thật đáng khâm phục khi Người nhớ rất chính xác các sử kiện lịch sử chính yếu của dân tộc, nếu không từ bộ óc mẫn tiệp siêu việt, một năng khiếu bẩm sinh được vực dậy bằng ngọn lửa trái tim, cùng với bề dày tri thức thấm nhuần văn hóa cổ kim Đông Tây.

Và khi Người trở thành nhân vật lịch sử nhân loại có tầm ảnh hưởng nhất ở thế kỷ XX, thì không có gì phải ngạc nhiên khi có nhiều trân trọng với Người, có nhiều ca tụng Người, vì đó là nguyên lý tất yếu.

“Ông có một trái tim bao la như vũ trụ và tình yêu trẻ thơ vô bờ bến. Ông là hình mẫu của sự giản dị trong mọi mặt” (Bài xã luận trên báo của Uruguay).

Tờ Time 2000 đã nhận định: “Người là người đã góp phần làm thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta trong thế kỷ XX”.

Cũng chính tờ Time bình chọn: “Hồ Chí Minh là một tù nhân chính trị nổi bật chiến đấu cho tự do nổi tiếng nhất mọi thời đại cùng với Aung San Kyi, Nelson Mandela, Martin Luther King, Fr. Mohandas Gandhi”.

“Người sẽ được ghi nhớ không phải giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này” (Ts. M. A’tnút – Giám đốc UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương).

Và với Người luôn tồn tại cùng những câu nói nổi tiếng, hàm súc tư tưởng nhân văn để từ đó con cháu Người sớm nhận ra giá trị chân lý để tự hoàn thiện mình để được xứng đáng hơn với bản chất người hơn:

* “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

* “Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng được học hành”.

* “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.

* “Hình ảnh miền Nam luôn trong trái tim tôi”.

Vậy việc tìm học “Gương đạo đức ở Bác” không chỉ vì lòng trân trọng mà còn từ lòng tôn kính, mà còn là lòng tri ân Người. Bác đã hy sinh cả đời mình chỉ vì hạnh phúc nhân dân. Người mà cả cuộc đời để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân.

Gần như hầu hết chính khách và danh nhân văn hóa các nước hiểu rất sâu sắc về Bác. Bác, Người của thông tuệ trí tuệ danh nhân văn hóa nhân loại. Với riêng nhận định của Ha-i-ti – Rơ-nê – Dơ-nê-tơ-rô… “Những ai biết được thế nào là một con người thật sự, vẻ đẹp của thế giới ở đâu, sự chiến thắng của chân lý ở đâu, ở đâu có mùa xuân, xin hãy đến thăm cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng dân tộc thời đại chúng ta”.

Nguyễn Quang Hòa
(Hội VH-NT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 466

Ý Kiến bạn đọc